Addis Ababa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Addis Ababa
Hình nền trời của Addis Ababa
Map of Ethiopia
Map of Ethiopia
Tọa độ: 9°2′0″B 38°42′0″Đ / 9,03333°B 38,7°Đ / 9.03333; 38.70000
Chartered city Addis Ababa
Thành lập 1886 sửa dữ liệu
Chính quyền
 - Thị trưởng Berhanu Deresa
Diện tích
 - Thành phố 530,14 km² (204,7 mi²)
 - Đất liền 530,14 km² (204,7 mi²)
Dân số (2007)
 - Thành phố 3.627.934
 - Mật độ 5.607,96/km² (14.524,5/mi²)
 - Đô thị 2.993.719
 - Vùng đô thị 2.973.004
Múi giờ UTC+03:00 sửa dữ liệu
Thành phố kết nghĩa Bắc Kinh, Chuncheon, Stockholm, Khartoum, Beersheba, Netanya, Tel Aviv, Johannesburg, Bangkok, Washington, D.C., Leipzig sửa dữ liệu

Addis Ababa (đôi khi viết Addis Abeba, cách viết sử dụng bởi cơ quan bản đồ chính thức Ethiopia; tiếng Amharic አዲስ አበባ, Āddīs Ābebā "hoa mới," IPA: [adːiːs aβəβa]; tiếng Oromo Finfinne) là thủ đô của Ethiopia và của Liên minh châu Phi, cũng như của tiền thân tổ chức này là OAU. Là một chartered city (ras gez astedader), Addis Ababa có tư cách một bang và một thành phố. Thành phố có 80 dân tộc nói 80 ngôn ngữ và có các cộng đồng Thiên Chúa giáo, Hồi giáo và Do Thái giáo. Addis Ababa is a grassland biome. Thành phố tọa lạc tại 9.03° B 38.74° Đ.[1] Từ điểm thấp nhất của nó, xung quanh Sân bay quốc tế Bole, với độ cao 2.326 trên mực nước biển ở ngoại biên phía nam, thành phố vươn lên độ cao 3000 m ở dãy núi về phía bắc. Năm 2005, thành phố có dân số ước tính 2.757.729 người [2], là thành phố lớn nhất quốc gia này.

Địa điểm này đã được lựa chọn bởi hoàng hậu Taytu Betul và thành phố đã được chồng bà, hoàng đế Menelik II, thành lập năm 1886 và hiện có dân số gần 4 triệu và tăng trưởng dân số 8% mỗi năm..

Thành phố nằm ở chân của núi Entoto, và có Đại học Addis Ababa.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1]
  2. ^ “www.world-gazetteer.com”. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2013.