Sucre
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Sucre Charcas La Plata, Chuquisaca |
|||
| Cảnh quan phố cổ Sucre. | |||
|
|||
| Biệt danh: The White City, City of the 4 Names | |||
| Tọa độ: | |||
|---|---|---|---|
| Quốc gia | Bolivia | ||
| Phân bộ | Chuquisaca | ||
| Tỉnh | Oropeza | ||
| Thành lập | 29 Tháng Chín 1539 | ||
| Chính quyền | |||
| - Thị trưởng | Aydeé Nava | ||
| Độ cao | 2.790 m (9.154 ft) | ||
| Dân số (2006) | |||
| - Thành phố | 225 000 | ||
| Múi giờ | GMT -4 (UTC) | ||
| Mã điện thoại | 4 | ||
| Website: www.hamsucre.gov.bo/ | |||
Sucre là thủ đô lập hiến, nơi đặt trụ sở tối cao pháp viện của Bolivia và cũng là thủ phủ tỉnh Chuquisaca.
[sửa] Lịch sử
Sucre được thành lập năm 1538 với tên Ciudad de la Plata de la Nueva Toledo, thường gọi là "La Plata". Cũng năm đó vua Tây Ban Nha Felipe II lập đơn vị Audiencia de Charcas cho vùng Bolivia, Paraguay, miền bắc Argentina, và miền nam Peru, phụ thuộc Phó vương phủ Peru. Năm 1609 thì Tòa Thánh La Mã chọn La Plata làm nơi đặt tòa tổng giám mục nên từ đó trở đi La Plata có địa vị văn hóa quan trọng. Năm 1624 họ đạo Công giáo lại thành lập trường đại học Francisco Xavier ở đây.
Năm 1839 khi Bolivia độc lập, thành phố được chọn làm thủ đô nhưng tên "La Plata" được đổi thành "Sucre" để vinh danh nhà cách mạng Antonio José de Sucre.
Vận mệnh Sucre suy dần khi mỏ bạc ở Potosí cạn kiệt. Năm 1898 thì chính phủ cho thiên đô về La Paz nên uy thế Sucre là trên danh nghĩa văn hóa mà thôi.
[sửa] Văn hóa
Sucre có khu phố cổ mang niên đại thế kỷ 16-19 được UNESCO ghi nhận là Di sản Thế giới. Nhà thờ San Lázaro, Santo Domingo và Tu viện Recoleta của dòng Phan Xi Cô là những thắng tích cổ[1].

