Nhiễm sắc thể Y

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nhiễm sắc thể Y là một trong 2 nhiễm sắc thể xác định giới tính trong hầu hết các loài động vật có vú, bao gồm cả con người. Ở động vật có vú, nó có chứa gen SRY, mà gây nên sự phát triển tinh hoàn nếu có. Nhiễm sắc thể Y của con người bao gồm khoảng 50 triệu cặp cơ sở. ADN trong nhiễm sắc thể Y được truyền từ cha sang con, và phân tích của Y-DNA do đó có thể được sử dụng trong nghiên cứu phả hệ. Với một sự khác biệt 30% giữa con người và tinh tinh, nhiễm sắc thể Y là một trong những bộ phận phát triển nhanh nhất của bộ gen người. Nhiễm sắc thể Y được xác định là một nhiễm sắc thể xác định giới tính bởi Nettie Stevens tại Bryn Mawr College vào năm 1905 trong một nghiên cứu của ấu trùng bọ cánh cứng Tenebrio molitor. Edmund Beecher Wilson khám phá ra cơ chế tương tự cùng năm đó một cách độc lập. Stevens đã đề xuất rằng các nhiễm sắc thể luôn luôn tồn tại theo cặp và nhiễm sắc thể Y là cặp nhiễm sắc thể X được phát hiện vào năm 1890 bởi Hermann Henking. Bà nhận ra rằng ý tưởng trước đây của Clarence McClung, nhiễm sắc thể X xác định giới tính là sai và xác định giới tính đó, trong thực tế, do sự hiện diện hoặc vắng mặt của nhiễm sắc thể Y. Stevens đặt tên là nhiễm sắc thể "Y" đơn giản chỉ để theo từ Henking "X" theo thứ tự abc.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]