Stan Smith
 |
| Quốc gia |
Hoa Kỳ |
| Nơi cư trú |
Đảo Hilton Head , Bắc Carolina, Hoa Kỳ. |
| Ngày sinh |
14 tháng 12, 1946 (66 tuổi) |
| Nơi sinh |
Pasadena, California, Hoa Kỳ. |
| Chiều cao |
6'4" (193cm) |
| Cân nặng |
185 lb (? kg) |
| Bắt đầu chơi chuyên nghiệp |
1968 |
| Gác vợt |
1986 |
| Tay thuận |
Tay phải |
| Tiền thưởng giành được |
1,774,811 $ |
| Đánh đơn |
| Thắng/thua |
641–262 |
| Số chức vô địch |
36 |
| Thứ hạng cao nhất |
số 1 (1972) |
| Thứ hạng hiện tại |
|
| Thành tích tốt nhất tại các giải Grand Slam |
| Úc Mở rộng |
3R (1970, 1975) |
| Pháp Mở rộng |
QF (1971, 1972) |
| Wimbledon |
Vô địch (1972) |
| Mỹ Mở rộng |
Vô địch (1971) |
| Các giải đấu khác |
| Tour Finals |
Vô địch (1970) |
| Thế vận hội |
{{{Olympicsresult}}} |
| Đánh đôi |
| Thắng/thua |
558–201 |
| Số chức vô địch |
54 |
| Thứ hạng cao nhất |
|
| Thành tích đánh đôi tốt nhất tại các giải Grand Slam |
| Úc Mở rộng |
Vô địch (1970) |
| Pháp Mở rộng |
F (1971, 1974) |
| Wimbledon |
F (1972, 1974, 1980, 1981) |
| Mỹ Mở rộng |
Vô địch (1968, 1974, 1978, 1980) |
Stanley Roger Smith (sinh 14 tháng 12, 1946 tại Pasadena, California) là một cựu một vận động viên quần vợt người Mỹ, ông cùng với Bob Lutz, tạo thành một cặp đánh đôi hay nhất mọi thời đại. Ông cũng giành được các danh hiệu cá nhân như vô địch Wimbledon và Mỹ Mở rộng. Ông dành vị trí cao nhất của bảng xếp hạng các tay vợt nam ở nội dung đánh đơn vào năm 1972.
Sự nghiệp quần vợt [sửa]
Smith bắt đầu chơi quần vợt tại trường đại học, ông thi đấu 3 lần tại [[US Open] và chiến thắng ở nội dung đơn vào năm 1967 và nội dung đánh đôi vào năm 1968. Ông cũng là thành viên của Beta Theta Pi Fraternity tại USC.
Trong tự truyện của mình được xuất bản năm 1979, Jack Kramer nói Stan Smith ở vị trí thứ 21 trong các tay vợt xuất sắc nhất.[1]
Vào năm 2005, TENNIS Magazine xếp Smith ở vị trí thứ 35 trong bảng xếp hạng 40 tay vợt hay nhất mọi thời đại. Smith là thành viên của International Tennis Hall of Fame từ năm 1987. Hiện nay ông sống cùng vợ và 4 con tại Hilton Head.
Chung kết Grand Slam [sửa]
Đánh đơn: 3 (2-1) [sửa]
- Vô địch (2)
- Runner-up (1)
| Năm |
Giải đấu |
Đối thủ |
Điểm số |
| 1971 |
Wimbledon |
John Newcombe |
6–3, 5–7, 2–6, 6–4, 6–4 |
Đánh đôi: 13 (5-8) [sửa]
- Vô địch (5)
| Năm |
Giải đấu |
Cặp với |
Đối thủ |
Điểm số |
| 1968 |
Mỹ Mở rộng |
Robert Lutz |
Arthur Ashe
Andrés Gimeno |
11–9, 6–1, 7–5 |
| 1970 |
Úc Mở rộng |
Robert Lutz |
John Alexander
Phil Dent |
6–3, 8–6, 6–3 |
| 1974 |
Mỹ Mở rộng |
Robert Lutz |
Patricio Cornejo
Jaime Fillol |
6–3, 6–3 |
| 1978 |
Úc Mở rộng |
Robert Lutz |
Marty Riessen
Sherwood Stewart |
1–6, 7–5, 6–3 |
| 1980 |
Mỹ Mở rộng |
Robert Lutz |
Peter Fleming
John McEnroe |
7–6, 3–6, 6–1, 3–6, 6–3 |
Chú thích [sửa]
- ^ Kramer considered the best player ever to have been either Don Budge (for consistent play) or Ellsworth Vines (at the height of his game). The next four best were, chronologically, Bill Tilden, Fred Perry, Bobby Riggs, and Pancho Gonzales. After these six came the "second echelon" of Rod Laver, Lew Hoad, Ken Rosewall, Gottfried von Cramm, Ted Schroeder, Jack Crawford, Pancho Segura, Frank Sedgman, Tony Trabert, John Newcombe, Arthur Ashe, Stan Smith, Björn Borg, and Jimmy Connors. He felt unable to rank Henri Cochet and René Lacoste accurately but felt they were among the very best.
Liên kết ngoài [sửa]