Stan Smith

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Stan Smith
Stan Smith 2009 US Open 01.jpg
Quốc gia Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ
Nơi cư trú Đảo Hilton Head , Bắc Carolina, Hoa Kỳ.
Ngày sinh 14 tháng 12, 1946 (67 tuổi)
Nơi sinh Pasadena, California, Hoa Kỳ.
Chiều cao 6'4" (193cm)
Cân nặng 185 lb (? kg)
Bắt đầu chơi chuyên nghiệp 1968
Gác vợt 1986
Tay thuận Tay phải
Tiền thưởng giành được 1,774,811 $
Đánh đơn
Thắng/thua 641–262
Số chức vô địch 36
Thứ hạng cao nhất số 1 (1972)
Thứ hạng hiện tại
Thành tích tốt nhất tại các giải Grand Slam
Úc Mở rộng 3R (1970, 1975)
Pháp Mở rộng QF (1971, 1972)
Wimbledon Vô địch (1972)
Mỹ Mở rộng Vô địch (1971)
Các giải đấu khác
Tour Finals Vô địch (1970)
Thế vận hội {{{Olympicsresult}}}
Đánh đôi
Thắng/thua 558–201
Số chức vô địch 54
Thứ hạng cao nhất
Thành tích đánh đôi tốt nhất tại các giải Grand Slam
Úc Mở rộng Vô địch (1970)
Pháp Mở rộng F (1971, 1974)
Wimbledon F (1972, 1974, 1980, 1981)
Mỹ Mở rộng Vô địch (1968, 1974, 1978, 1980)

Stanley Roger Smith (sinh 14 tháng 12, 1946 tại Pasadena, California) là một cựu một vận động viên quần vợt người Mỹ, ông cùng với Bob Lutz, tạo thành một cặp đánh đôi hay nhất mọi thời đại. Ông cũng giành được các danh hiệu cá nhân như vô địch Wimbledon và Mỹ Mở rộng. Ông dành vị trí cao nhất của bảng xếp hạng các tay vợt nam ở nội dung đánh đơn vào năm 1972.

Sự nghiệp quần vợt[sửa | sửa mã nguồn]

Smith bắt đầu chơi quần vợt tại trường đại học, ông thi đấu 3 lần tại [[US Open] và chiến thắng ở nội dung đơn vào năm 1967 và nội dung đánh đôi vào năm 1968. Ông cũng là thành viên của Beta Theta Pi Fraternity tại USC.

Trong tự truyện của mình được xuất bản năm 1979, Jack Kramer nói Stan Smith ở vị trí thứ 21 trong các tay vợt xuất sắc nhất.[1]

Vào năm 2005, TENNIS Magazine xếp Smith ở vị trí thứ 35 trong bảng xếp hạng 40 tay vợt hay nhất mọi thời đại. Smith là thành viên của International Tennis Hall of Fame từ năm 1987. Hiện nay ông sống cùng vợ và 4 con tại Hilton Head.

Chung kết Grand Slam[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh đơn: 3 (2-1)[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (2)
Năm Giải đấu Đối thủ Điểm số
1971 Mỹ Mở rộng Cờ của Tiệp Khắc Jan Kodeš 3–6, 6–3, 6–2, 7–6(5-3)
1972 Wimbledon Cờ của România Ilie Năstase 4–6, 6–3, 6–3, 4–6, 7–5
Runner-up (1)
Năm Giải đấu Đối thủ Điểm số
1971 Wimbledon Cờ của Úc John Newcombe 6–3, 5–7, 2–6, 6–4, 6–4

Đánh đôi: 13 (5-8)[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (5)
Năm Giải đấu Cặp với Đối thủ Điểm số
1968 Mỹ Mở rộng Flag of the United States Robert Lutz Flag of the United States Arthur Ashe
Cờ của Tây Ban Nha Andrés Gimeno
11–9, 6–1, 7–5
1970 Úc Mở rộng Flag of the United States Robert Lutz Cờ của Úc John Alexander
Cờ của Úc Phil Dent
6–3, 8–6, 6–3
1974 Mỹ Mở rộng Flag of the United States Robert Lutz Cờ của Chile Patricio Cornejo
Cờ của Chile Jaime Fillol
6–3, 6–3
1978 Úc Mở rộng Flag of the United States Robert Lutz Flag of the United States Marty Riessen
Flag of the United States Sherwood Stewart
1–6, 7–5, 6–3
1980 Mỹ Mở rộng Flag of the United States Robert Lutz Flag of the United States Peter Fleming
Flag of the United States John McEnroe
7–6, 3–6, 6–1, 3–6, 6–3

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kramer considered the best player ever to have been either Don Budge (for consistent play) or Ellsworth Vines (at the height of his game). The next four best were, chronologically, Bill Tilden, Fred Perry, Bobby Riggs, and Pancho Gonzales. After these six came the "second echelon" of Rod Laver, Lew Hoad, Ken Rosewall, Gottfried von Cramm, Ted Schroeder, Jack Crawford, Pancho Segura, Frank Sedgman, Tony Trabert, John Newcombe, Arthur Ashe, Stan Smith, Björn Borg, and Jimmy Connors. He felt unable to rank Henri Cochet and René Lacoste accurately but felt they were among the very best.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]