Andy Murray

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Andy Murray
Andy Murray
Quốc gia Flag of the United Kingdom.svg Vương quốc Anh [1]
Nơi cư trú London, England
Ngày sinh 15 tháng 5, 1987 (27 tuổi)
Nơi sinh Dunblane, Scotland
Chiều cao 1,90 m [2]
Cân nặng 84 kg
Bắt đầu chơi chuyên nghiệp 2005
Tay thuận Tay phải, trái tay, hai tay
Tiền thưởng giành được $23,442,501 USD
Đánh đơn
Thắng/thua 370/118
Số chức vô địch 25
Thứ hạng cao nhất 2 (17 tháng 8 năm 2009)
Thứ hạng hiện tại
Thành tích tốt nhất tại các giải Grand Slam
Úc Mở rộng Chung kết (2010,2011)
Pháp Mở rộng Tứ kết (2009)
Wimbledon Vô Địch (2013)
Mỹ Mở rộng Vô Địch (2012)
Đánh đôi
Thắng/thua 45/54
Số chức vô địch 2
Thứ hạng cao nhất 51 (17 tháng 10 năm 2011)

Họ và tên thật của Andy là Andrew Murray. Anh bắt đầu chơi quần vợt từ năm 3 tuổi. Mẹ anh, bà Judy là một cựu tay vợt của Scotland và cha anh là ông William. Anh có một anh trai là Jamie Murray cũng là một tay vợt nhưng thường thi đấu ở thể loại đánh đôi. Hiện nay, Murray đang là tay vợt người Anh có vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng ATP. Và với việc vượt qua Novak Djokovic tại trận chung kết Mỹ Mở rộng 2012 và giành được danh hiệu Grand Slam đầu tiên trong sự nghiệp của mình, anh đã vươn lên vị trí số 3 trên bảng xếp hạng ATP vừa được công bố vào ngày 11/09/2012 (trước đó vị trí này là của Rafael Nadal)

Năm 2005, Andy giành được giải Nhân vật thể thao Scotland trong năm của BBC (BBC Scotland Sports Personality of the Year).

Hiện tại Murray đang được dẫn dắt bởi huấn luận viên Ivan Lendl (bắt đầu từ tháng 1/2012). Trước đây, anh cũng từng được huấn luyện bởi huấn luyện viên người Mỹ nổi tiếng Brad Gilbert.

Tuổi thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Murray từng là học sinh của trường tiểu học Dunblane từ năm 1992 đến năm 1999. Năm 1999, anh học ở trường trung học Dunblane. Năm 11 đến 13 tuổi, Andy là thành viên của 3 đội quần vợt nhỏ tuổi tại câu lạc bộ Next Generation ở Newhaven, Edinburgh - nơi anh thi đấu thường xuyên. Vào tuổi 14, Murray đến BarcelonaTây Ban Nha, nơi anh đã học trường Schiller International và tập luyện trên mặt sân đất nện của học viện Sanchez-Casal, nơi mà anh được cho biệt danh "Lazy English" (người Anh lười). Murray giành giải nam trẻ tại US Open năm 2004 và tốt nghiệp sau đó một năm.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2005[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 2005, lần đầu tiên Andy được gọi vào đội tuyển Davis Cup của Anh và trở thành tay vợt trẻ tuổi nhất của Anh tham dự Davis Cup. Murray và David Sherwood đã thắng cặp đôi của Israeli - lúc đó đang đứng thứ 8 thế giới, vào đến bán kết Winbledon năm 2003, giúp đội tuyển giành chiến thắng 3-2.

Tay vợt người Anh này vào đến bán kết giải trẻ Pháp mở rộng, để thua tay vợt người Croatia Marin Cilic. Điều này chứng tỏ đây là bước đột phá cuối cùng của anh tại giải trẻ Grand Slam.

Murray tham gia hầu hết tất cả các kết quả ATP tour đều đến từ mặt sân cỏ và mặt sân cứng, mặt dù anh thích chơi trên sân đất nện.

Winbledon 2005

Anh đã đánh bại tay vợt xếp trên anh 150 bậc trong trận đấu Grand Slam đầu tiên lúc đó Murray đứng thứ 374 thế giới. Ở vòng 2, Andy thắng hạt giống thứ 14 Radek Štěpánek và chịu thua David Nalbandian ở vòng 3.

Mỹ mở rộng 2005

Tại đây Murray phải thi đấu vòng loại. Ở vòng 1, Murray đánh bại tay vợt người România Andrei Pavel trong 5 set đấu căng thẳng. Sau đó thua Arnaud Clement cũng trong 5 set. Đó là cú sốc cho Andy, nếu anh thắng trận đấu đó anh đã lọt vào top 100 lần đầu tiên trong đời.

Thái Lan mở rộng

Vào ngày 29 tháng 9 cuối cùng Andy lọt được vào top 100 thế giới khi đánh bại Robin Soderling tại giải Thái Lan mở rộng. Sau đó thắng Robby Ginepri. Lần đầu tiên vào chung kết sau khi thắng tay vợt chủ nhà Paradorn Srichaphan ở bán kết. Để thua Roger Federer ở chung kết nhưng dù sao anh cung trở thành tay vợt thứ 72 của thế giới.

2006[sửa | sửa mã nguồn]

Murray bắt đầu mùa giải 2006 bằng viêc bị loại tại vòng 2 trong hai giải đấu, tiếp theo thua Juan Ignacio Chela ở vòng một Úc mở rộng trong lần đầu tiên tham dự. Giải SAP Mở rộng là nơi đem lại cho Andy danh hiệu ATP đầu tiên trong sự nghiệp, để đến được với danh hiệu đầu tiên Andy đă thắng cả hai cựu số 1 thế giới Andy RoddickLleyton Hewit.[3] Anh vào đến tứ kết giải đấu tiếp theo - giải Memphis. Nhưng phong độ này không duy trì lâu, anh để thua ngay trong vòng 1 tại sáu trong chín giải tham dự bao gồm giải Pháp mở rộng và giải của Queen's Club.

Tại Wimbledon, Andy vào tới vòng 4 ngay trong lần đầu tiên tham dự. Sau đó, Murray còn ghi tên mình vào bán kết Hall of Fame Championship ở Newport và chung kết Legg Mason Classic tại Washington. Là thành viên của đội tuyển Anh tham dự Davis Cup, Andy đánh bại Andy Ram của Israel - đây là lần đấu tiên Andy thắng được trận đấu kéo dài 5 set.

Phong độ của Andy ngày càng đựoc cải thiện, anh vào bán kết Toronto Master. Ở giải đấu tiếp theo - giải Cincinnati, Murray vào tứ kết khi thất bại truớc Andy Roddick, nhưng trước đó đã loại tay vợt số 1 thế giới Roger Federer và trở thành một trong hai tay vợt có thể đánh bại Roger trong năm 2006. Giải grand slam cuối cùng trong năm, Andy tiếp tuc vào vòng 4, dừng bước trước tay vợt Nga Nikolay Davydenko trong 4 set.

Sự thất vọng khi để thua tay vợt đồng hương Tim Henman tại Thái Lan mở rộng được giãm bớt khi Andy cùng người anh Jamie vào đến chung kết ở thể loại đánh đôi.

Với những thành công trong năm 2006, Andy kết thúc mùa giải với thứ hạng 17.

2007[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Úc Mở rộng, Murray được xếp hạt giống thứ 15. Tại vòng một, Murray vượt qua tay vợt Tây Ban Nha Alberto Martín 6–0, 6–0, 6–1, đây cũng là chiến thắng áp đảo nhất tại Giải Úc Mở rộng từ năm 1968. Đối thủ tại vòng bốn của anh là tay vợt số hai thế giới Rafael Nadal, trước đây hai tay vợt này chưa từng gặp nhau. Sau khi dẫn trước với 2-1, Murray thua Nadal (6(3)-7(7), 6–4, 4–6, 6–3, 6–1). Sau trận đấu, Murray nhận xét đây là một trong trận đấu hay nhất của anh từ trước đến nay.[4]

Andy Murray bảo vệ thành công danh hiệu tại San Jose, thắng Ivo Karlović 6–7 (3–7) 6–4 7–6 (7–2) trong trận chung kết. Anh trai của Murray, Jamie cũng đồng thời giành danh hiệu đôi tại đây. Anh em Murray trở thành cặp anh em đầu tiên giành danh hiệu đơn và đôi trong cùng một giải đấu kể từ năm 1989.[5]

Murray vào tới bán kết hai giải đấu tiếp theo là Indian Wells MastersMiami Masters. Trong cả hai lần Murray đều phải dừng bước trước Novak Djokovic. Tuy nhiên, Murray vẫn vươn lên vị trí thứ 11 trên bảng xếp hạng thê giới.

2008[sửa | sửa mã nguồn]

Murray mở đầu mùa giải 2008 với danh hiệu thứ tư trong sự nghiệp tại giải Qatar ExxonMoblie Open. Chiến thắng hạt giống số một và hạng tư thế giới Nikolay Davydenko 6-4 6-3 ở bán kết, Murray tự tin tiến thẳng vào chung kết đánh bại tay vợt Thụy Sĩ Stanislas Wawrinka 6-4 4-6 6-2. Danh hiệu tại Quatar giúp Andy lọt vào top 10 thế giới.

Murray tại giải Pacific Life Open 2008.

Andy Murray được xếp là hạt giống số 9 tại giải Giải quần vợt Úc mở rộng. Trái với dự đoán của nhiều người, Andy phải chia tay giải ngay từ vòng một khi thua tay vợt người Pháp Jo-Wilfried Tsonga 7-5, 6-4, 0-6, 7-6.

Sau khi thất bại tại vòng một Úc mở rộng, Murray gặp phải chấn thương ở đầu gối khiến anh phải rút tên trong danh sách đội tuyển Anh tham dự Davis Cup.

Đầu tháng 2, Murray tham gia giải Open 13 tại Marseille, Pháp. Tuy vừa dính chấn thương đầu gối nhưng anh vẫn lọt chung kết, Murray gặp cựu số 7 thế giới, Mario Ancic và chiến thắng thuyết phục 6-3, 6-4. Danh hiệu tại Marseille là danh hiệu thứ hai trong năm của Murray và cũng là danh hiệu thứ năm trong sự nghiệp.

Giải ABN Amro Tournament tại Rotterdam, hạt giống số 6 - Andy Murray bị loại ngay vòng đầu khi thua tay vợt chủ nhà Robin Haase.

Không được xếp làm hạt giống tại giải Dubai Tennis Championship, Murray gặp tay vợt số một thế giới Roger Federer. Murray trở thành một trong số ít tay vợt có thành tích đối đầu trội hơn so với Federer khi chiến thắng 7-6(6), 3-6, 4-6. Murray dừng bước ở tứ kết khi thua Davydenko 7-5, 6-4.

Giải Master Series đầu tiên trong năm, Indian Wells, Murray không lập lại thành tích năm ngoái khi dừng chân tại vòng 4 trước tay vợt người Đức Tommy Haas 6-2 5-7 3-6. Giải Sony Ericsson Open tại Miami, Murray thất bại trước Mario Ancic tại vòng hai, Murray không còn nằm trong top 20 bảng xếp hạng ATP.

Murray với danh hiệu Masters Series đầu tiên.

Để cải thiện thành tích của mình trên mặt sân đất nện, Murray bắt đầu làm việc với cựu á quân Pháp mở rộng Alex Corretja. Tuy nhiên, dưới sự huấn luyện của Corretja, Murray cũng không thể đạt thành tích nào cao hơn là vòng 3 Giải quần vợt Pháp Mở rộng.

Mùa giải trên mặt sân cỏ bắt đầu với Andy Murray tại Queen's Club Championships, anh lọt vào vòng tứ kết nhưng phải rút lui vì chấn thương cổ tay. Tại Wimbledon, hạt giống số 12, Andy Murray đánh bại Fabrice Santoro, Xavier Malisse và Tommy Hass trước khi thực hiện cuộc lội ngược dòng trước tay vợt Pháp Richard Gasquet 5–7, 3–6, 7–6(3), 6–2, 6–4. Trong trận tứ kết Grand Slam đầu tiên, anh phải gác vợt với tỉ số 6–3, 6–2, 6–4 trước Rafael Nadal.

Trở lại mặt sân cứng sở trường, Murray giành suất vào bán kết Toronto Masters khi lần đầu tiên chiến thắng trước tay vợt số 3 thế giới Novak Djokovic, nhưng lại lần thứ hai liên tiếp thua trận trước Nadal. Với phong độ cao, Murray giành danh hiệu Masters Series đầu tiên tại Cincinnati Masters, đánh bại Djokovic 7-6(4) 7-6(5).[6]

Cùng anh trai Jamie, Andy Murray đại diện Vương quốc Anh tham dự Olympic Bắc Kinh 2008. Bất ngờ xảy ra khi Murray, hạt giống số sáu, bị loại ngay vòng một.[7] Ở nội dung đánh đôi, anh em Murray cũng sớm dứng bước tại vòng hai.

Tại Mỹ Mở rộng 2008, Murray lội ngược dòng chiến thắng tay vợt Jurgen Melzer 6-7(5), 4-6, 7-6(5), 6-1, 6-3 để vào vòng bốn. Vòng bán kết, Murray chạm trán tân số một thế giới Rafael Nadal, tay vợt đánh bại anh năm lần gặp trước, nhưng người chiến thắng lại là Andy Murray với tỉ số 6–2, 7–6(5), 4–6, 6–4. Murray trở thành tay vợt đầu tiên của Vương quốc Anh lọt vào trận chung kết một giải Grand Slam kể từ khi Greg Rusedski lọt vào chung kết Mỹ Mở rộng năm 1997. Mặc dù chịu thất bại trước Roger Federer, Murray vẫn vươn lên vị trí thứ tư trên bảng xếp hạng thế giới.

Với tư cách hạt giống thứ 4, Andy Murray được miễn thi đấu vòng một, tại Madrid Masters. Murray dễ dàng đi tiếp sau khi đối thủ Simone Bolelli bỏ cuộc do chấn thương vai. Đánh bại các tay vợt Marin Cilic, Gael Monfils mà chưa thua set nào. Murray vào bán kết gặp lại đối thủ trong trận chung kết Mỹ Mở rộng 2008, Roger Federer. Qua 3 set đấu căng thẳng, Murray giành chiến thắng 3-6 6-3 7-5. Với phong độ cao, anh vượt qua tay vợt Pháp Gilles Simon 6–4 7–6 (8-6), giành danh hiệu Master Series thứ hai liên tiếp. Murray trở thành tay vợt Vương quốc Anh đầu tiên giành 4 danh hiệu trong cùng một mùa giải.

2011[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Australia Open 2011, Andy Murray lọt vào trận chung kết lần thứ 2 liên tiếp nhưng dường như sức ép quá lớn từ người hâm mộ xứ sương mù đã ảnh hưởng khá nặng nề lên tâm lý thi đấu của Murray khiến cho anh không còn giữ được phong độ và cuối cùng đành gác vợt nhanh chóng trước Novak Djokovic. Thất bại này là một đòn gián đau đớn vào tham vọng cũng như tinh thần của Murray, kể từ thất bại này anh bắt đầu thi đấu sa sút với chuỗi trận thua liên tiếp ở các giải ABN Amro Tournament tại Rotterdam, Indian wells và Miami. Nhưng khán giả hâm mộ Murray thì vẫn luôn cổ vũ anh và chờ đợi sự trở lại mạnh mẽ hơn của anh ở những giải đấu tiếp theo.

2012[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2012 có thể nói là một năm đặc biệt thành công của Andy Murray, sau thất bại đầy nước mắt tại chung kết Wimbledon 2012 trên sân nhà trước Roger Federer anh đã xuất sắc đoạt Huy chương Vàng Olympic London cho đất nước ngay tại Vương quốc Anh, và còn xuất sắc hơn khi chỉ hơn 1 tháng sau một lần nữa anh chiến thắng trong trận chung kết giải Mỹ mở rộng 2012 trước Novak Djokovic với tỉ số 3-2 để lần đầu tiên giương cao chiếc cúp giành cho tay vợt đoạt Grand Slam. Người hâm mộ hy vọng đây sẽ là một cột mốc để Andy Murray có thể chinh phục được nhiều đỉnh cao mới trong các năm sau.

2013[sửa | sửa mã nguồn]

Andy Murray đã trở thành tay vợt nam đầu tiên trong 77 năm của làng quần vợt vương quốc Anh giành chức vô địch Wimbledon sau khi anh đánh bại Djokovic 3-0 (6-4, 7-5, 6-4) trong trận chung kết.[8]

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu
Grand Slam (2-5)
ATP World Tour Final (0)
ATP World Tour 1000 (6)
ATP World Tour 250 & 500 (10)
Mặt sân
Cứng (15)
Đất nện (0)
Cỏ (1)
Thảm (1)
TT Ngày Giải đấu Mặt sân Đối thủ Tỉ số
1. 19 tháng 2, 2006 San Jose, Hoa Kỳ Cứng(i) Flag of Australia.svg Lleyton Hewitt 2–6, 6–1, 7–6(3)
2. 18 tháng 2, 2007 San Jose, Hoa Kỳ Cứng(i) Flag of Croatia.svg Ivo Karlović 6–7(3), 6–4, 7–6(2)
3. 28 tháng 10, 2007 St. Petersburg, Nga Thảm(i) Flag of Spain.svg Fernando Verdasco 6–2, 6–3
4. 5 tháng 1, 2008 Doha, Qatar Cứng Flag of Switzerland.svg Stanislas Wawrinka 6–4, 4–6, 6–2
5. 17 tháng 2, 2008 Marseille, Pháp Cứng(i) Flag of Croatia.svg Mario Ancic 6–3, 6–4
6. 3 tháng 8, 2008 Cincinati, Hoa Kỳ Cứng Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 7–6(4), 7–6(5)
7. 19 tháng 10, 2008 Madrid, Tây Ban Nha Cứng(i) Flag of France.svg Gilles Simon 6–4, 7–6(6)
8. 26 tháng 10, 2008 Sankt Petersburg, Nga Cứng(i) Flag of Kazakhstan.svg Andrey Golubev 6–1, 6–1
9. 5 tháng 1, 2009 Doha, Qatar Cứng Flag of the United States.svg Andy Roddick 6-4, 6-2
10. 9 tháng 2, 2009 Rotterdam, Hà Lan Cứng(i) Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6-3, 4-6, 6-0
11. 5 tháng 4, 2009 Miami, Hoa Kỳ Cứng Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 6–2, 7–5
12. 8 tháng 6, 2009 London, Anh Cỏ Flag of the United States.svg James Blake 7-5, 6-4
13. 16 tháng 8, 2009 Montreal, Canada Cứng Flag of Argentina.svg Juan Martín del Potro 6–7(4), 7–6(3), 6–1
14. 8 tháng 11, 2009 Valencia, Tây Ban Nha Cứng(i) Flag of Russia.svg Mikhail Youzhny 6–3, 6–2
15. 15 tháng 8, 2010 Toronto, Canada Cứng Flag of Switzerland.svg Roger Federer 7–5, 7–5
16. 17 tháng 10, 2010 Thượng Hải, Trung Quốc Cứng Flag of Switzerland.svg Roger Federer 6–3, 6–2

Á quân đơn[sửa | sửa mã nguồn]

TT Ngày Giải đấu Mặt sân Đối thủ ở vòng chung kết Điểm số
1. 1 tháng 10, 2005 Bangkok, Thái Lan Cứng (i) Flag of Switzerland.svg Roger Federer 3–6, 5–7
2. 6 tháng 8, 2006 Washington, Hoa Kỳ Cứng Flag of France.svg Arnaud Clement 6–7(4), 2–6
3. 6 tháng 1, 2007 Doha, Qatar Cứng Flag of Croatia.svg Ivan Ljubičić 6-4 6-4
4. 7 tháng 10, 2007 Metz, Pháp Cứng (i) Flag of Spain.svg Tommy Robredo 6–0, 2–6, 3–6
5. 8 tháng 9, 2008 Mỹ Mở rộng, New York, Hoa Kỳ Cứng Flag of Switzerland.svg Roger Federer 2–6, 5–7, 2–6
6. 22 tháng 3, 2009 Indian Wells, Hoa Kỳ Cứng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 1–6, 2–6
7. 8 tháng 9, 2009 Úc Mở rộng, Úc Cứng Flag of Switzerland.svg Roger Federer 3–6, 4–6, 6–7(11)
8. 1 tháng 8, 2010 Los Angeles, Hoa Kỳ Cứng Flag of the United States.svg Sam Querrey 7–5, 6–7(2), 3–6

GRAND SLAM[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (2)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải đấu Đối thủ Tỉ số
2012 Mỹ mở rộng Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 7-6, 7-5, 2-6, 3-6, 6-2
2013 Wimbledon Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 6-4, 7-5, 6-4

Á quân (5)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải đấu Đối thủ Tỉ số
2008 Mỹ mở rộng Flag of Switzerland.svg Roger Federer 2–6, 5–7, 2–6
2010 Úc mở rộng Flag of Switzerland.svg Roger Federer 3–6, 4–6, 6–7
2011 Úc mở rộng Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 4–6, 2–6, 3–6
2012 Wimbledon Flag of Switzerland.svg Roger Federer 6–4, 5–7, 3–6, 4-6
2013 Úc mở rộng Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 6-7 (2-7), 7-6 (7-3), 6-3, 6-2

ATP WORLD TOUR 1000[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (6)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải đấu Đối thủ Tỉ số
2008 Cincinnati Masters Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 7–64, 7–65
2008 Madrid Masters Flag of France.svg Gilles Simon 6–4, 7–66
2009 Miami Masters Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 6-2,7-5
2009 Roger cup (Montreal) Flag of Argentina.svg Juan Martin Del Potro 6-7,7-6,6-1
2010 Roger cup (Toronto) Flag of Switzerland.svg Roger Federer 7-5,7-5
2010 Shanghai Rolex Master Flag of Switzerland.svg Roger Federer 6-3, 6-2

Á quân (1)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải đấu Đối thủ Tỉ số
2009 Indian Wells Flag of Spain.svg Rafael Nadal 1–6, 2–6

Á quân đôi (1)[sửa | sửa mã nguồn]

TT Ngày Giải đấu Mặt sân Đồng đội Đối thủ ở vòng chung kết Điểm số
1. 1 tháng 10, 2006 Bangkok, Thái Lan Trong nhà Flag of the United Kingdom.svg Jamie Murray Flag of Israel.svg Jonathan Erlich &
Flag of Israel.svg Andy Ram
6-2 2-6 10-4

Các Giải Đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Giải đấu 2005 2006 2007 2008 Career SR Thắng / thua
Úc Mở rộng A V1 V4 V1 0 / 3 3-3
Pháp Mở rộng A V1 A V3 0 / 2 2-2
Wimbledon V3 V4 A TK 0 / 3 9-3
Mỹ Mở rộng V2 V4 V3 CK 0 / 4 12-4
Grand Slam SR 0 / 2 0 / 4 0 / 2 0 / 4 0 / 12 N/A
Grand Slam thắng thua 3-2 6-4 5-2 12-4 N/A 20-11
Tennis Masters Cup A A A 0 / 0 0-0
Indian Wells Masters A V2 BK V4 0 / 3 7-3
Miami Masters A V1 BK V2 0 / 3 4-3
Monte Carlo Masters A V1 A V3 0 / 1 0-1
Rome Masters A V1 V1 V2 0 / 2 0-2
Hamburg Masters A V2 V1 V3 0 / 2 1-2
Canada Masters A BK V2 BK 0 / 3 8-3
Cincinnati Masters V2 TK V1 T 1 / 4 10-3
Madrid Masters (Stuttgart) A V3 V3 T 1 / 3 10-2
Paris Masters A V3 TK 0 / 2 3-2
Danh hiệu 0 1 2 4 N/A 7
Thắng / Thua trên sân cứng 7-4 26-14 25-7 14-5 N/A 83-35
Thắng / Thua trên sân cỏ 5-3 9-4 0-0 6-1 N/A 20-8
Thắng / Thua trên sân thảm 2-1 1-2 0-0 0-0 N/A 3-3
Thắng / Thua trên sân đất nện 0-2 4-5 0-2 7-5 N/A 11-14
Thắng / Thua 14-10 40-25 29-10 27-11 N/A 124–60
Xếp hạng cuồi năm 63 17 11 N/A N/A

A: không tham dự giải Career SR: tỷ lệ số lần thắng trên số lần tham dự

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệp hội quần vợt nhà nghề
10 tay vợt nam hàng đầu tính đến 27 tháng 01 năm 2014
1. Straight Line Steady.svg Flag of Spain.svg Rafael Nadal
6. Red Arrow Down.svg Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray
2. Straight Line Steady.svg Flag of Serbia.svg Novak Djokovic
7. Red Arrow Down.svgFlag of the Czech Republic.svg Tomas Berdych
3. Green Arrow Up Darker.svg Flag of Switzerland.svg Stanislas Wawrinka
8. Red Arrow Down.svgFlag of Switzerland.svg Roger Federer
4. Green Arrow Up Darker.svg Flag of Argentina.svg Juan Martín del Potro
9. Straight Line Steady.svg Flag of France.svg Richard Gasquet
5. Red Arrow Down.svg Flag of Spain.svg David Ferrer
10. Straight Line Steady.svg Flag of France.svg Jo-Wilfried Tsonga