Giải Vô địch Wimbledon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mục từ này nói về giải quần vợt Wimbledon. Các nghĩa khác xin xem mục Wimbledon (định hướng).
The Championships Wimbledon
Current competition 2009 Wimbledon Championships
Logowimbledon.png
Grand Slam
Địa điểm Wimbledon, Luân Đôn
Flag of the United Kingdom.svg Anh
Mặt sân Sân cỏ, ngoài trời
Bảng nam 128S / 128Q / 64D
Bảng nữ 128S / 96Q / 64D
Tiền thưởng 12.550.000 £
Trang web chính thức
Các giải Grand Slam

Giải Wimbledon (tiếng Anh: The Championships Wimbledon) là giải vô địch quần vợt Anh. Nó là giải lâu đời nhất và có uy tín nhất của môn quần vợt. Giải được tổ chức vào khoảng tháng 6, tháng 7, là giải thứ 3 trong hệ thống giải Grand Slam hàng năm, sau giải Úc mở rộngPháp mở rộng, và trước giải Mỹ mở rộng. Giải tiến hành trong 2 tuần; trong 4 giải Grand Slam, đây là giải duy nhất chơi trên sân cỏ. Giải bao gồm các giải đơn nam, đơn nữ, đôi nam, đôi nữ và đôi nam nữ. Bên cạnh đó có giải trẻ, gồm đơn nam, đơn nữ, đôi nam và đôi nữ. Ngoài ra còn tổ chức giải mời đặc biệt dành cho các tay vợt đã giải nghệ: đôi nam từ 35 tuổi trở lên, đôi nam từ 45 tuổi trở lên, đôi nữ từ 35 tuổi trở lên và giải đôi xe lăn, dành cho người khuyết tật chơi trên xe lăn.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Roger Federer giao bóng cho Nadal trong trận Chung kết 2008

Giải Vô địch được "Câu lạc bộ croquet và quần vợt sân cỏ toàn Anh" (All England Lawn Tennis and Croquet Club) tổ chức lần đầu tiên năm 1877 ở một sân gần Worple Road, Wimbledon, lúc đó chỉ thi đấu đơn nam. Năm 1884, Câu lạc bộ toàn Anh cho thêm đơn nữ và đôi nam; năm 1913 thêm đôi nữ và đôi nam nữ.

Năm 1922 giải chuyển về địa điểm ngày nay là sân gần Church Road.

Ngày xưa người Anh chỉ chơi quần vợt làm trò thể thao giải trí với tinh thần "thượng võ" (tựa như Thế Vận Hội) cho nên họ xem những người chuyên nghiệp đánh kiếm tiền là "hạ đẳng", không xứng đáng được dự giải Wimbledon. Vì thế ngày xưa Wimbledon (cũng như 3 giải Grand Slam kia: Úc, Pháp, và Mỹ) chỉ cho các tay vợt tài tử (nghiệp dư) tham dự mà thôi. Mãi cho đến khi kỷ nguyên mở rộng của môn quần vợt bắt đầu năm 1968, những tay vợt chuyên nghiệp mới được cho tham dự.

Người Anh rất tự hào về giải đấu này, nhưng một điều phiền muộn đối với họ là không có tay vợt nam người Anh nào đoạt giải đơn kể từ Fred Perry năm 1936, cũng như chưa có tay vợt nữ người Anh nào vô địch kể từ Virginia Wade năm 1977.

Sân thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Sân Trung tâm tại Wimbledon
Sân số 1

Wimbledon có 19 sân, tất cả đều có mặt sân cỏ. Đây là truyền thống "lawn tennis" (quần vợt trên sân cỏ) của người Anh, vì vậy họ vẫn muốn giữ mặc dù hầu hết tất cả các giải quần vợt khác trên thế giới dùng sân cứng (hard court) hoặc sân đất nện (clay court). Trên sân cỏ banh đi nhanh, nảy thấp và không đều, vì vậy nó thường thích ứng với những tay đấu thủ hay giao banh và chạy lên lưới (serve and volley). Nhưng có trường hợp đặc biệt là Bjorn Borg, vốn là tay vợt trước đó đã thành danh từ sân đất nện rất ít khi lên lưới, nhưng đã vô địch Wimbledon 5 năm liên tiếp (1976-1980).

Sân thi đấu chính ở Wimbledon có tên là Sân Trung tâm (Centre Court), các trận chung kết luôn diễn ra ở đó. Do thời tiết ở Luân Đôn hay mưa trong thời gian tổ chức giải, người ta đã quyết định lắp mái che di động trên sân, đã hoàn thành năm 2009.

Sân Số 1 nguyên thuỷ gắn liền với Sân Trung tâm, nhưng năm 1997 được làm lại, thay bằng khán đài mới có sức chứa lớn hơn. Người ta nói rằng Sân Số 1 nguyên thuỷ có một không khí rất độc đáo, được nhiều đấu thủ ưa thích, vì vậy việc thay nó đã làm buồn lòng nhiều người. Sân Số 1 cũng là nơi thi đấu một số trận quan trọng như tứ kết giải đơn, và có một màn ảnh truyền hình khổng lồ bên ngoài cho những người tụ tập trên một bãi cỏ cao để xem. Người Anh thường đặt tên cho ngọn đồi theo tên đấu thủ Anh "gà nhà" nào có nhiều hi vọng thắng giải. Ngày trước đấu thủ Anh đó là Tim Henman nên họ gọi là "ngọn đồi Henman". Nay đấu thủ Anh có hi vọng là Andy Murray nên lại gọi là "ngọn đồi Murray". Họ hy vọng có được nhà vô địch đơn nam người Anh đầu tiên kể từ Fred Perry năm 1936.

Sân Số 2 có hỗn danh là "Mồ chôn các nhà vô địch" vì nơi đó nhiều tay vợt có hạng từng thua những đấu thủ xếp hạng thấp hơn. Các nạn nhân có cả Andre Agassi, Pete Sampras... và suýt nữa là thêm Tim Henman ở vòng 1 giải năm 2005.

Truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Cúp Vô địch đơn nam (trái) và nữ

Xanh lá cây đậm và tía là những màu truyền thống của Wimbledon. Wimbledon cũng là giải đấu duy nhất bắt buộc các tay vợt phải mặc trang phục "chủ yếu là màu trắng" trong các trận đấu chính thức của giải.

Trước kia, truyền thống của Sân Trung Tâm còn đòi hỏi các vận động viên khi vào sân và khi rời sân phải cúi chào các người thuộc hoàng tộc ngồi trong Chỗ Ngồi Hoàng Gia (Royal Box), nhưng từ sau 2003 họ chỉ phải chào khi có sự hiện diện của Nữ hoàng (Elizabeth II) hay Thái tử (Charles).

Hàng năm giải bắt đầu 6 tuần trước ngày thứ hai đầu tiên của tháng 8, và kéo dài 2 tuần. Theo truyền thống thì ngày Chủ nhật giữa giải là ngày nghỉ, nhưng do mưa nên đã có 3 lần thông lệ này bị vi phạm, lần gần đây nhất vào năm 2004. Tuần đầu tiên dành cho các vòng đấu ngoài, tuần thứ hai là các trận vòng 4, tứ kết, bán kết và chung kết.

Vô địch đơn nam được nhận một chiếc cúp mạ vàng cao chừng 46 cm (hơn 18 inch). Vô địch đơn nữ nhận một chiếc khay bạc đường kính chừng 48 cm (gần 19 inch), thường gọi là Đĩa Nước Hoa Hồng Vệ Nữ (Venus Rosewater Dish) hoặc gọi tắt là Đĩa Nước Hoa Hồng (Rosewater Dish). Các giải còn lại cũng có cúp. Năm 2009 tiền thưởng là 850.000 bảng Anh cho mỗi danh hiệu vô địch đơn nam và đơn nữ.

Đối với khán giả, món dâu tâykem là món ăn Wimbledon truyền thống.

Các nhà vô địch[sửa | sửa mã nguồn]

Martina Navratilova, người Mỹ gốc Tiệp Khắc, là tay vợt đoạt giải đơn nhiều nhất: 9 lần vô địch đơn nữ, 1978-79, 1982-871990, ngoài ra còn có 7 lần vô địch đôi nữ và 4 lần vô địch đôi nam nữ. Các tay vợt nữ thành công khác là Helen Wills Moody với 8 lần vô địch giải đơn; Dorothea Douglass ChambersSteffi Graf, mỗi người 7 lần giải đơn.

Về phía nam giới, đoạt giải đơn nhiều nhất là 7 lần: William Renshaw, người Anh (1881-861889), Pete Sampras, người Mỹ (1993-951997-2000), và Roger Federer, người Thụy Sĩ (2003-2007, 2009, 2012). Ngoài ra William Renshaw còn 5 lần vô địch giải đôi cùng với người anh em song sinh của mình, Ernest Renshaw.

Trong lịch sử cận đại của Wimbledon, vô địch đơn nam nổi tiếng gồm có Bjorn Borg (thắng 5 năm liên tiếp 1976-1980), Pete Sampras (thắng 7 lần: 1993-1995 và 1997-2000), và Roger Federer (thắng 7 lần: 2003-2007, 2009, 2012).

Năm 2013, Andy Murray đã trở thành tay vợt nam đầu tiên sau 77 năm của làng quần vợt vương quốc Anh giành chức vô địch Wimbledon sau khi anh đánh bại Djokovic 3-0 (6-4, 7-5, 6-4) trong trận chung kết.

Danh sách đầy đủ các nhà vô địch:

Kỉ lục[sửa | sửa mã nguồn]

' Hệ Open Tay vợt Số lần Năm
Giải nam diễn ra từ 1877
Vô đich nam nhiều lần nhất Trước 1968: Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland William Renshaw 7 1881, 1882, 1883, 1884, 1885, 1886, 1889
Sau 1968: Cờ của Hoa Kỳ Pete Sampras
Cờ của Thụy Sĩ Roger Federer
7 1993, 1994, 1995, 1997, 1998, 1999, 2000
2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2009, 2012
Vô địch nam liên tiếp nhiều lần nhất Trước 1968: Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland William Renshaw 6 1881, 1882, 1883, 1884, 1885, 1886
Sau 1968: Cờ của Thụy Điển Björn Borg
Cờ của Thụy Sĩ Roger Federer
5 1976, 1977, 1978, 1979, 1980
2003, 2004, 2005, 2006, 2007
Vô địch đôi nam nhiều lần nhất Trước 1968: Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Reggie Doherty & Laurie Doherty 8 1897, 1898, 1899, 1900, 1901, 1903, 1904, 1905
Sau 1968: Cờ của Úc Todd Woodbridge 9 1993, 1994, 1995, 1996, 1997, 2000 (với Mark Woodforde), 2002, 2003, 2004 (với Jonas Björkman)
Vô đich đôi nam liên tiếp nhiều lần nhất Trước 1968: Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Reggie Doherty & Laurie Doherty 5 1897, 1898, 1899, 1900, 1901
Sau 1968: Cờ của Úc Todd Woodbridge & Mark Woodforde 5 1993, 1994, 1995, 1996, 1997
Vô địch đôi nam nữ nhiều lần nhất Trước 1968: Cờ của Úc Ken Fletcher

Flag of the United States Vic Seixas

4 1963, 1965, 1966, 1968 (với Margaret Court)

1953, 1954, 1955, 1956 (3 với Doris Hart, 1 với Shirley Fry Irvin)

Sau 1968: Cờ của Úc Owen Davidson 4 1967, 1971, 1973, 1974 (với Billie Jean King)
Đoạt nhiều chức vô địch nhất (Tổng số vô địch: đơn, đôi, đôi nam nữ) Trước 1968: Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland William Renshaw 14 1880–1889 (7 đơn, 7 đôi)
Sau 1968: Cờ của Úc Todd Woodbridge 9 1993–2004 (9 đôi)
Giải nữ diễn ra từ 1884
Vô địch đơn nữ nhiều lần nhất Trước 1968: Flag of the United States Helen Wills 8 1927, 1928, 1929, 1930, 1932, 1933, 1935, 1938
Sau 1968: Cờ của Tiệp Khắc/Flag of the United States Martina Navrátilová 9 1978, 1979, 1982, 1983, 1984, 1985, 1986, 1987, 1990
Vô địch đơn nữ liên tiếp nhiều lần nhất Trước 1968: Cờ của Pháp Suzanne Lenglen 5 1919, 1920, 1921, 1922, 1923
Sau 1968: Cờ của Tiệp Khắc/Flag of the United States Martina Navrátilová 6 1982, 1983, 1984, 1985, 1986, 1987
Vô địch đôi nữ nhiều lần nhất Trước 1968: Flag of the United States Elizabeth Ryan 12 1914 (với Agatha Morton), 1919, 1920, 1921, 1922, 1923, 1925 (với Suzanne Lenglen), 1926 (với Mary Browne), 1927, 1930 (với Helen Wills), 1933, 1934 (với Simone Mathieu)
Flag of the United States Billie Jean King 10 1961, 1962 (với Karen Hantze Susman), 1965 (với Maria Bueno), 1967, 1968, 1970, 1971, 1973 (với Rosie Casals), 1972 (với Betty Stöve), 1979 (với Martina Navrátilová)
Sau 1968: Cờ của Tiệp Khắc/Flag of the United States Martina Navrátilová 7 1976 (với Chris Evert), 1979 (với Billie Jean King), 1981, 1982, 1983, 1984, 1986 (với Pam Shriver)
Vô địch đôi nữ liên tiếp nhiều lần nhất Trước 1968: Cờ của Pháp Suzanne Lenglen & Flag of the United States Elizabeth Ryan 5 1919, 1920, 1921, 1922, 1923
Sau 1968: Cờ của Tiệp Khắc/Flag of the United States Martina Navrátilová & Flag of the United States Pam Shriver

Cờ của Belarus/Cờ của Liên Xô Natasha Zvereva

4 1981, 1982, 1983, 1984

1991 (với Larisa Neiland), 1992, 1993, 1994 (Gigi Fernández)

Vô địch đôi nam nữ nhiều lần nhất Trước 1968: Flag of the United States Elizabeth Ryan 7 1919, 1921, 1923 (với Randolph Lycett), 1927 (với Frank Hunter), 1928 (với Patrick Spence), 1930 (với Jack Crawford), 1932 (với Enrique Maier)
Sau 1968: Cờ của Tiệp Khắc/Flag of the United States Martina Navrátilová 4 1985 (với Paul McNamee), 1993 (với Mark Woodforde), 1995 (với Jonathan Stark), 2003 (với Leander Paes)
Đoạt nhiều chức vô địch nhất (Tổng số chức vô địch: đơn, đôi, đôi nam nữ) Trước 1968: Flag of the United States Billie Jean King 20 1961–1979 (6 đơn, 10 đôi, 4 đôi nam nữ)
Flag of the United States Elizabeth Ryan 19 1914–1934 (12 đôi, 7 đôi nam nữ)
Sau 1968: Cờ của Tiệp Khắc/Flag of the United States Martina Navrátilová 20 1976–2003 (9 đơn, 7 đôi, 4 đôi nam nữ)
Các kỷ lục khác
Thắng nhiều game nhất trong trận chung kết Flag of the United States Andy Roddick 39 2009
Thắng nhiều game nhất Flag of the United States John Isner 92 2010
Thi đấu nhiều trận nhất (nam) Cờ của Pháp Jean Borotra 223 1922–1939, 1948–1964
Thi đấu nhiều trận nhất (nữ) Cờ của Tiệp Khắc/Cờ của Hoa Kỳ Martina Navrátilová 326
Thua trận chung kết nhiều nhất (nam hoặc nữ) Cờ của Hoa Kỳ Chris Evert
Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Blanche Bingley Hillyard
7
Nhà vô địch có thứ hạng thấp nhất(nam) Cờ của Croatia Goran Ivanišević thứ 125 2001
Đại diện người chiến thắng (nam) Cờ của Croatia Goran Ivanišević 2001
Nhà vô địch có thứ hạng thấp nhất(nữ) Flag of the United States Venus Williams thứ 31 thế giới(hạt giống số 23 trong giải) 2007
Trẻ tuổi nhất đoạt giải (nam) Cờ của Đức Boris Becker 17 1985
Trẻ tuổi nhất đoạt giải (nữ) Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Lottie Dod 15 1887
Trẻ tuổi nhất đoạt giải (đôi nữ) Cờ của Thụy Sĩ Martina Hingis 15 1996
Trận chung kết dài nhất (thời gian) Cờ của Thụy Sĩ Roger Federer vs
Cờ của Tây Ban Nha Rafael Nadal
4giờ 48phút 2008
Trận đấu có nhiều game nhất (game đấu) Flag of the United States John Isner vs
Flag of France.svg Nicolas Mahut
183 games 2010
Trận đấu dài nhất (nam) Flag of the United States John Isner vs
Flag of France.svg Nicolas Mahut
11giờ 5phút 2010
Trận chung kết dài nhất (nữ) Flag of the United States Lindsay Davenport vs
Flag of the United States Venus Williams
2giờ 49phút 2005
Trận đấu dài nhất (nữ) Flag of the United States Serena Williams vs
Cờ của Nga Elena Dementieva
2giờ 49phút 2009

Chú Thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Gallery[sửa | sửa mã nguồn]