Novak Djokovic

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Novak Djokovic
Novak Djokovic Hopman Cup 2011 (cropped).jpg
Quốc gia Flag of Serbia.svg Serbia
Nơi cư trú Monte Carlo, Monaco
Ngày sinh 22 tháng 5 năm 1987
Nơi sinh Belgrade, Nam Tư
Chiều cao 1 m 88
Cân nặng 80 kg
Bắt đầu chơi chuyên nghiệp 2003
Tay thuận Phải, revers hai tay
Tiền thưởng giành được 49 608 865 $
Đánh đơn
Thắng/thua 502-128 (79,68%)
Số chức vô địch 37
Thứ hạng cao nhất 1 (7 tháng 7 năm 2014)
Thứ hạng hiện tại 1 (7.7.2014)
Thành tích tốt nhất tại các giải Grand Slam
Úc Mở rộng Vô địch (2008, 2011, 2012, 2013)
Pháp Mở rộng Bán kết (2007, 2008, 2011, 2013)
Wimbledon Vô địch (2011, 2014)
Mỹ Mở rộng Vô địch (2011)
Đánh đôi
Thắng/thua 31-46 (40,26%)
Số chức vô địch 1
Thứ hạng cao nhất 114 (30 tháng 11 năm 2009)
Huy chương Olympic
Quần vợt Nam
Đồng 2008 Bắc Kinh Đơn nam

Novak Đoković (theo ký tự Cyril của tiếng Serbia: Новак Ђоковић; phát âm: [ˈnɔvaːk 'ʥɔːkɔviʨ]; thường được viết là Novak Djokovic trong tiếng Anh) (sinh ngày 22 tháng 5 năm 1987 tại Beograd) là một vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Serbia. Hiện anh đang là tay vợt số 1 thế giới. Anh đã có 7 danh hiệu Grand Slam đơn nam: Úc Mở rộng 2008, 2011, 2012, và 2013, Wimbledon 2011, 2014 và Mỹ Mở rộng 2011. Sau khi vô địch 3 Grand Slam vào năm 2011, Djokovic trở thành tay vợt nam thứ 6 trong Kỷ nguyên mở rộng giành được 3 danh hiệu Grand Slam trong 1 năm. Cũng trong năm 2011, Djokovic đã lập kỷ lục vô địch 5 ATP World Tour Masters 1000, và là tay vợt kiếm nhiều tiền thưởng nhất trong lịch sử ATP ở 1 mùa thi đấu (12,595,903$). Anh là tay vợt Serbia đầu tiên vô địch 1 giải Grand Slam và cũng là người trẻ nhất trong trong Kỷ nguyên mở rộng vào đến bán kết 4 cả giải GS, cả liên tiếp và ngắt quãng. Anh cũng giành được danh hiệu lớn khác là Cúp Masters 2008 và cùng đội tuyển quốc gia vô địch Cúp Davis 2010.

Novak Djokovic được nhận giải thưởng Laureus cho Vận động viên nam xuất sắc nhất của năm 2011.[1]

Sự nghiệp thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2006[sửa | sửa mã nguồn]

Là tay vợt đang lên ở tuổi 20, Djokovic đã chứng minh mình là tay vợt có thể thích nghi trên mọi mặt sân với tài năng tiềm tàng. Anh tham gia giải Cúp Hopman với đồng đội là Ana Ivanović. Tuy nhiên họ đã để thua trận chung kết.

Anh tiếp tục cuộc bứt phá ngoạn mục khi thăng hạng vùn vụt năm 2006.

Vào tháng 5 năm 2006, nhiều phóng viên đã đăng tin trên Thông tấn xã Anh về việc mẹ của Djokovic, bà Dijna Djokovic, đã tường lên Hiệp hội Quần vợt Sân cỏ của Anh về việc đưa con trai bà vào Bảng xếp hạng các tay vợt Anh cũng như việc xin chuyển đến sống tại Anh cho gia đình gồm 5 người của Djokovic. Tuy nhiên, những tin đồn đó đã không làm ảnh hưởng đến sự thi đấu Djokovic. Djokovic khởi đầu năm 2006 tại vị trí thứ 78, nhưng với những nỗ lực để vào đến tứ kết Roland Garros và vòng 4 Wimbledon, anh được lọt vào top 40.

Chỉ 3 tuần sau Wimbledon, anh giành danh hiệu đầu tiên của mình tại Amersfoot mà không để thua một set nào. Với chiến thắng thứ 2 tại Metz, Djokovic lọt vào top 20 lần đầu tiên trong sự nghiệp. Còn với những gì anh đã thể hiện tại Indian Wells (Á Quân) và Miami (Vô Địch), 2 giải Masters của năm, anh lọt vào top 10. Trong 2 giải đấu trên, anh đều đánh bại Andy Murray, tay vợt số 1 của Anh hiện nay và cũng là bạn thân của anh, trong 2 trận bán kết mà không để thua một ván đấu nào. Anh để mất giải Indian Wells vào tay Rafael Nadal, nhưng đã trả miếng lại được bằng chiến thắng trước Nadal tại Miami, Florida. Sau đó, anh tham dự giải đấu danh giá Monte Carlo Mở Rộng và để thua David Ferrer tại vòng 3 với 3 ván trắng. Tại giải Estoril, Djokovic đánh bại tay vợt lọt vào bán kết Wimbledon 2007 người Pháp, Richard Gasquet 7-6,0-6,6-1 tại chung kết.

Anh là bạn thân thời trung học của Andy Murray, và cũng đôi khi là đồng đội đánh cặp của anh. Tại Davis Cup 4/2006 diễn ra ở Glasgow, đội Serbia và Motenegro (với sự góp mặt của Novak Djokovic) đã đánh bại đội Anh (với Andy Murray). Djokovic giành được trận thắng mang tính quyết định trước Greg Rusedski, giúp đội của anh giành phần thắng 3-1.

Năm 2007[sửa | sửa mã nguồn]

Novak Djokovic tại 2007 U.S. Open

Tại Úc Mở rộng, anh lọt đến vòng 4 trước khi để thua Roger Federer, nhà vô địch của giải này.

Thành tích tốt nhất của Djokovic tại Grand Slam là vào đến bán kết Pháp Mở rộngWimbledon, và đều để thua trước Rafael Nadal.

Tại Wimbledon, anh có chiến thắng kịch tính trước Marcos Baghdatis tại tứ kết. Trận đấu kéo dài đến 5 giờ, chỉ kém 5 phút so với trận đấu đơn dài nhất trong 1 ngày của lịch sử giải Wimbledon. Trong trận bán kết gặp Rafael Nadal, anh buộc phải bỏ cuộc sớm do chấn thương lưng và bàn chân.

Những thành công của anh tại Wimbledon đồng nghĩa với việc anh trở thành tay vợt số 3 thế giới, sau Roger FedererRafael Nadal, vì Andy Roddick đã chỉ lọt đến tứ kết, còn Nikolay Davydenko thì dừng bước ở vòng 4.

Tháng 8 năm 2007 đánh dấu 1 bước ngoặt lớn trong sự nghiệp của Novak Djokovic khi anh đánh bại Andy Roddick (số 3 khi đó), Rafael Nadal (số 2) ở bán kết rồi Roger Federer (số 1) ở chung kết để giành giải vô địch Roger Master ở Montreal, Canada. Đây là lần đầu tiên kể từ Boris Becker năm 1994 có một tay vợt đánh bại cả 3 tay vợt có thứ hạng cao nhất trong bảng xếp hạng ATP tại một giải đấu.

Năm 2008[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2008, Nole chỉ có 4 danh hiệu gồm Cúp Tennis Masters Cup (sân cứng trong nhà), ATP Masters Series Rome (sân đất nện), ATP Masters Series Indian Wells (sân cứng), Úc Mở rộng (sân cứng). Và đó được coi là năm thi đấu rất thành công của Djokovic khi anh giành được Grand Slam đầu tiên trong sự nghiệp tại Úc đầu năm và kết thúc năm với chức vô địch Cúp Masters. Khởi đầu năm 2009 không thuận lợi khi để thua Ernests Gulbis trong giải tại Brisbane (Úc) ngay từ vòng 1 và Jarkko Nieminen tại bán kết giải Sydney (Úc) trước thềm giải Úc mở rộng dường như báo hiệu một năm đầy khó khăn của tay vợt người Serbia.

Ngay sau đó, Nole phải bỏ cuộc ở tứ kết giải Úc mở rộng trước Andy Roddick và không thể bảo vệ chức vô địch năm 2008. Tiếp đó tới tận cuối tháng 2, Djokovic mới giành danh hiệu đầu tiên tại ATP World Tour Dubai 500. Giới chuyên môn đã lo ngại cho phong độ đi xuống của Djokovic khi phải 3 tháng sau anh mới có thêm 1 danh hiệu tại quê nhà Beograd (ATP 250). Dù vẫn giữ thành tích ổn định trong tất cả các giải ATP (trong 20 giải ATP của Djokovic thì anh lọt ít nhất tới tứ kết của 19 giải) nhưng để vươn tới tầm của Federer, Nadal hay cả Murray vẫn là một dấu hỏi chưa có lời giải đáp cho Djokovic. Nhưng tất cả lại thay đổi chỉ trong 3 tháng cuối năm 2009.

5 tháng khát danh hiệu đã được Djokovic "giải nhiệt" ở ATP World Tour 500 tại Bắc Kinh (Djokovic đánh bại Marin Cilic 6-2, 7-6(4)) đầu tháng 10. Người hâm mộ đã có thể thấy một Djokovic khác hẳn những tháng trước đó với tâm lý thi đấu vững vàng, không tỏ ra nôn nóng trước những tình huống khó khăn và đặc biệt cú đánh phải sở trường đã đạt tới độ chính xác rất cao. Bất kỳ tay vợt nào khi đứng trước cú bạt phải của Djokovic đều cảm nhận rõ sức nặng của những pha bóng thuận tay của Djokovic với tốc độ lên tới trên 130 km/h. Ngay tại giải Paris Masters trước thềm ATP World Tour Finals, tay vợt số 2 thế giới Rafael Nadal đã trải qua những phút bất lực trước những cú đánh như vậy của Djokovic. Một ông vua cứu bóng như Nadal mà thường xuyên đứng nhìn đối phương ăn điểm thì đó phải là những cú đánh vô cùng hóc hiểm.

Nhiều nhận định phân tích chức vô địch năm 2008 của Djokovic cũng một phần vì sự vắng mặt của Nadal do chấn thương, sau đó là Federer bất ngờ bị loại ngay từ vòng bảng đã góp phần giúp tay vợt người Serbia thẳng tiến tới chức vô địch. Một phần có thể đúng như vậy nhưng không thể phủ nhận trong những ngày tháng 11 này, Djokovic đang là tay vợt có phong độ và thể lực tốt nhất trong số 8 tay vợt tham dự giải. Cùng bảng B với Rafael Nadal (2), Nikolay Davydenko (6) và Robin Soderling(8) không phải là trở ngại quá lớn với Djokovic. Trong trận đấu cuối cùng Nole đã chiến thắng thuyết phục trước Nikolay Davydenko với tỉ số 6-1, 7-5.

Năm 2009[sửa | sửa mã nguồn]

Djokovic năm 2009

Djokovic bắt đầu năm 2009 tại giải Brisbane International ở Brisbane, Australia, nơi mà anh đã bị loại bởi Ernests Gulbis ngay vòng đầu tiên. Ở giải Medibank International tại Sydney, anh thua Jarkko Nieminen ở bán kết.

Với tư cách là đương kim vô địch Úc Mở rộng, Djokovic đã phải rút lui ở trận tứ kết với cựu số 1 thế giới Andy Roddick.

Sau khi thua ở bán kết giải Open 13 tại Marseille trước Jo-Wilfried Tsonga, Djokovic vô địch Barclays Dubai Tennis Championships, đánh bại David Ferrer để giành danh hiệu thứ 12 trong sự nghiệp. Djokovic là đương kim vô địch tại BNP Paribas Open ở Indian Wells, California, một giải ATP World Tour Masters 1000, nhưng đã thua Roddick ở tứ kết. Tại giải Sony Ericsson Open ở Key Biscayne, Florida, một giải ATP World Tour Masters 1000 khác, Djokovic đánh bại Federer ở bán kết, trước khi thua Andy Murray ở chung kết.

Djokovic tại US Open 2009

Djokovic vào chung kết Monte-Carlo Rolex Masters trên mặt sân đất nện, thua Rafael Nadal ở chung kết. Tại giải Internazionali BNL d'Italia ở Rome, một giải ATP World Tour Masters 1000 khác, Djokovic là đương kim vô địch và lại để thua ở chung kết lần nữa.

Djokovic là hạt giống số 1 ở giải đấu tổ chức tại quê nhà, Serbia Mở rộng ở Belgrade. Anh đánh bại tay vợt lần đầu vào chung kết Łukasz Kubot để có danh hiệu thứ 2 trong năm. Là hạt giống số 3 tại Mutua Madrilena Madrid Open, Djokovic vào đến bán kết mà không để thua set nào. Ở đó, anh gặp Nadal và thua mặc dù đã có tới 3 match point. Trận đấu diễn ra trong 4 giờ 3 phút, là trận đấu dài nhất ở thể thức 3 set trong lịch sử ATP World Tour trong Kỷ nguyên mở rộng. Tại French Open, anh dừng bước ở vòng 3 trước tay vợt người Đức Philipp Kohlschreiber.

Djokovic bắt đầu mùa giải sân cỏ tại Mở rộng Gerry Weber, sau sự rút lui của Federer, anh trở thành hạt giống số 1. Anh vào tới chung kết, để thua tay vợt Đức Tommy Haas. Djokovic cũng thua Haas ở tứ kết Wimbledon.

Tại US Open Series, Djokovic vào tứ kết Cúp Rogers ở Montreal, trước khi để thua Andy Roddick. Tại giải Western & Southern Financial Group Masters ở Cincinnati, Djokovic đánh bại tay vợt số 3 thế giới Rafael Nadal ở bán kết. Anh thua số 1 thế giới Roger Federer ở chung kết. Tại US Open 2009, Djokovic vào tới bán kết mà chỉ để thua 2 set, đánh bại Ivan Ljubičić, hạt giống số 15 Radek Štěpánek và hạt giống số 10 Fernando Verdasco. Sau đó anh để thua Roger Federer.

Tại Trung Quốc Mở rộng ở Bắc Kinh, anh đánh bại Victor Hănescu, Viktor Troicki, Fernando Verdasco, và Robin Söderling để vào chung kết, nơi anh đánh bại Marin Čilić trong 2 set để vô địch lần thứ 3 trong năm. Tại Shanghai ATP Masters 1000, Djokovic thua ở bán kết trước Nikolay Davydenko.

Tại giải Davidoff Swiss Indoors ở Basel, Djokovic đánh bại Jan Hernych để vào tứ kết. Anh sau đó thắng Stanislas Wawrinka ở tứ kết. Anh thắng trận bán kết trước Radek Štěpánek. Tại chung kết, anh đánh bại tay vợt chủ nhà và đã 3 lần vô địch giải đấu Roger Federer để vô địch danh hiệu thứ 4 trong năm.

Ở giải Masters 1000 cuối cùng trong năm BNP Paribas Masters tại Paris, Djokovic vô địch giải Masters 1000 đầu tiên trong năm. Anh đánh bại Rafael Nadal ở bán kết. Trong trận chung kết Djokovic vượt qua Gaël Monfils.

Tới giải đấu cuối năm ATP World Tour Finals ở Luân Đôn với tư cách là đương kim vô địch, Djokovic đánh bại Nikolay Davydenko ở lượt đầu tiên vòng bảng. Ở trận đấu thứ 2, anh thua Robin Söderling. Mặc dù thắng Rafael Nadal ở trận thứ 3 nhưng Djokovic vẫn không vào được bán kết.

Djokovic kết thúc năm với vị trí thứ 3 thế giới năm thứ 3 liên tiếp. Djokovic chơi 97 trận trong cả năm, nhiều nhất trong số các tay vợt ở ATP World Tour, với 78 trận thắng – 19 trận thua. Là tay vợt có số trận thắng nhiều nhất trong năm, Djokovic vào đến 10 trận chung kết và giành được 5 danh hiệu.

Năm 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Djokovic bắt đầu mùa giải bằng giải đấu biểu diễn Kooyong Classic. Ở trận đấu đầu tiên, Djokovic đánh bại Tommy Haas, nhưng để thua Fernando Verdasco ở trận tiếp theo. Ở Úc Mở rộng, Djokovic bị loại ở tứ kết bởi Jo-Wilfried Tsonga trong trận đấu kịch tính kéo dài 5 ván đấu. Dù vậy, thành tích này cũng giúp Djokovic lần đầu leo lên vị trí thứ 2 thế giới. Tại giải ATP500 ABN AMRO World Tennis TournamentRotterdam, Djokovic tiến vào bán kết và thất bại trước Mikhail Youzhny. Tại giải ATP500 Dubai Tennis ChampionshipsU.A.E, được xếp làm hạt giống số 2, Djokovic lần lượt đánh bại Guillermo García-López, Victor Troicki, Ivan Ljubicic, Marcos Baghdatis để vào chung kết gặp Mikhail Youzhny, với chiến thắng 7-5 5-7 6-3, Djokovic đã có được danh hiệu đầu tiên của năm. Sau đó Djokovic tham gia cùng đội tuyển Serbia tại vòng 1 cúp đồng đội nam thế giới Cúp Davis gặp đội tuyển Hoa Kỳ. Với 2 chiến thắng quan trọng trước Sam QuerreyJohn Isner, Djokovic đã đưa đội tuyển Serbia vào tứ kết với thắng lợi chung cuộc 3-2.

Tại giải ATP1000 đầu tiên trong năm Indian Wells Masters, Djokovic để thua Ivan Ljubicic ở vòng 4. Tại giải ATP1000 Miami Masters, Djokovic đã để thua ngay vòng đấu đầu tiên trước Olivier Rochus. Với 2 thất bại liên tiếp này, Djokovic quyết định bổ nhiệm Todd Martin làm huấn luyện viên của mình.

Tại giải ATP1000 đầu tiên trên sân đất nện Monte-Carlo Rolex Masters, hạt giống số 2 Djokovic đã tiến vào bán kết gặp Fernando Verdasco với chiến thắng trước Stanislas WawrinkaDavid Nalbandian. Sau đó Djokovic đã để thua Verdasco với tỉ số 2-6 2-6. Tại giải ATP1000 Internazionali BNL d'Italia tại Roma, Djokovic lại để thua Verdasco ở tứ kết sau 3 ván đấu.

Trở về tại giải đấu ATP250 Serbia Mở rộng được tổ chức trên quê nhà, nhà đương kim vô địch đã bỏ cuộc tại tứ kết gặp Filip Krajinovic.

Tại giải Grand Slam thứ 2 trong năm trên sân đất nện, Djokovic đã tiến vào tứ kết sau khi đánh bại Evgeny Korolev, Kei Nishikori, Victor Hănescu, và Robby Ginepri. Ở tứ kết Djokovic bất ngờ để thua Jurgen Melzer sau khi đã thắng 2 ván đầu và 1 break trước trong ván thứ 3.

Tại Grand Slam thứ 3 trong năm Wimbledon, được xếp làm hạt giống số 3 của giải, Djokovic đã đánh bại Olivier Rochus, Taylor Dent, Albert Montanes, Lleyton Hewitt, và Yen-Hsun Lu trên con đường vào bán kết gặp Tomas Berdych, Djokovic đã thua sau 3 set đấu.

Năm 2011[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2011, Djokovic đã có chuỗi trận 41 trận bất bại (trước khi thua Federer ở bán kết Roland Garros) và lật đổ Rafael Nadal để chiếm ngôi số 1 thế giới. Tay vợt 24 tuổi người Serbia chỉ thua 6 trong 76 trận đấu trong năm, trong đó có 2 trận rút lui do chấn thương. Ngoài 3 chức vô địch Grand Slam (Úc Mở rộng, Wimbledon và Mỹ Mở rộng), Djokovic còn đoạt thêm 7 danh hiệu đơn khác.

Thành tích chói sáng ấy đã giúp Djokovic vượt qua siêu sao bóng đá Lionel Messi (Argentina) và "ông vua" mới của làng đua công thức 1 Sebastian Vettel (Đức) để đoạt giải thưởng vận động viên (VĐV) nước ngoài xuất sắc nhất năm 2011 của BBC (BBC Overseas Sports Personality of the Year). Đây là lần thứ 6 trong 11 năm qua, một VĐV quần vợt được các biên tập viên thể thao của các tờ báo, tạp chí Anh và khu vực bình chọn cho giải thưởng này.

Djokovic bắt đầu mùa giải 2011 bằng một phong độ ấn tượng khi đánh bại Roger FedererAndy Murray để đăng quang ở Úc mở rộng. Sau đó, tay vợt Serbia có hai lần hạ gục "ông vua sân đất nện" Nadal trên đường đoạt danh hiệu ở Indian Wells và Miami (Mỹ), rồi tiếp tục thống trị mặt sân đất nện ở các giải Rome (Ý) và Madrid (Tây Ban Nha).

Cột mốc đáng nhớ nhất của Djokovic là chiến thắng trước Nadal ở chung kết Wimbledon để lần đầu tiên leo lên vị trí số 1 thế giới. Chấn thương vai sau đó không cho Djokovic được thể hiện nhiều ở giải đấu tại Cincinnati (Mỹ), nhưng tay vợt Serbia vẫn hồi phục kịp thời để nâng cao chiếc cúp Mỹ mở rộng sau khi đánh bại Nadal trong trận chung kết.

Sau Mỹ mở rộng 2011, tay vợt Serbia ẵm trọn các giải thưởng giành cho tay vợt xuất sắc nhất của năm từ ATP và ITF.

Năm 2012[sửa | sửa mã nguồn]

Djokovic bước vào mùa giải mới tại giải Grand Slam đầu tiên trong năm Úc mở rộng. Được xếp là hạt giống số 1 của giải, Djokovic đã liên tiếp đánh bại các đối thủ Paolo Lorenzi, Santiago Giraldo, Nicolas Mahut, Lleyton Hewitt, David Ferrer để tiến vào bán kết gặp Andy Murray. Ở bán kết, Djokovic đã vượt qua Murray sau 4 giờ 50 phút trong 1 trận đấu kéo dài 5 set căng thẳng với các tỉ số 6-3 3-6 6-7 6-1 7-5 để dành quyền vào chung kết gặp Rafael Nadal. Trong trận chung kết, một lần nữa Djokovic đánh bại Nadal lần thứ 3 liên tiếp tại chung kết các giải Grand Slam để dành chức vô địch úc mở rộng thứ 3 và là Grand Slam thứ 5 trong sự nghiệp. Tỉ số các set là 5-7, 6-4, 6-2, 6-7, 7-5 sau 5h53 phút thi đấu. Đây là trận chung kết kéo dài nhất trong lịch sử các kì Grand Slam và là trận đấu dài nhất trong lịch sử Úc Mở rộng.

Năm 2013[sửa | sửa mã nguồn]

Ở giải Grand Slam đầu tiên trong năm, Djokovic chiến thắng Andy Murray trong trận chung kết sau 4 set, nâng cao chiếc cúp vô địch lần thứ 3 liên tiếp tại Australian Open. Anh là vận động viên đầu tiên kể từ kỉ nguyên mở rộng giành được 3 danh hiệu Grand Slam châu Á/Đại Dương này, vào các năm 2011, 2012, và 2013. Đây là danh hiệu Grand Slam thứ 6 của anh trong sự nghiệp. Tiếp nối thành công này, anh giành tiếp chức vô địch thư tư liên tiếp tại Dubai. Nhưng với chấn thương và phong độ không tốt, anh đã phải rút lui sớm tại 2 giải Masters 1000 quan trọng, đó là BNP Paribas Open (Indian Wells) và Sony Open Tennis (Miami). Djokovic bước vào mùa giải trên mặt sân đất nện với vị trí là hạt giống số 1, khởi đầu với Monte-Carlo Masters. Dù trước đó anh gặp chấn thương, và thi đấu không chắc chắn trong những trận đấu đầu tiên của mùa giải, nhưng kể từ khi bước vào vòng tứ kết, Djokovic đã chúng tỏ anh xứng đang với ngôi vị số 1 thế giới sau khi lần lượt hạ 2 hiện tượng của giải, Jarkko NieminenFabio Fognini với tỉ số 6-4, 6-3 và 6-2, 6-1. Cuối cùng, anh đã giành được danh hiệu Monte-Carlo Rolex Masters đầu tiên của mình trong sự nghiệp, sau khi đánh bại Rafael Nadal 6-2, 7-6(1). Hiện tại anh chỉ còn thiếu giải Western & Southern Open tại Cincinnati là đủ bộ sưu tập trong hệ thống giải đấu ATP World Tour Masters 1000.

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Grand Slam[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (7)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải đấu Đối thủ Tỉ số
2008 Úc Mở rộng Flag of France.svg Jo-Wilfried Tsonga 4–6, 6–4, 6–3, 7–62
2011 Úc Mở rộng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 6–4, 6–2, 6–3
2011 Wimbledon Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6–3, 6–1, 1-6, 6-4
2011 Mỹ Mở rộng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6–2, 6–4, 6-7, 6-1
2012 Úc Mở rộng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 5-7, 6–4, 6–2
2013 Úc Mở rộng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 26-7, 7-63, 6-3, 6-2
2014 Wimbledon Flag of Switzerland.svgRoger Federer 0-6 0-6 0-6

Á quân (6)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải đấu Đối thủ Tỉ số
2007 Mỹ Mở rộng Flag of Switzerland.svg Roger Federer 6–74, 6–72, 4–6
2010 Mỹ Mở rộng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 4–6, 7-5, 4–6, 2–6
2012 Pháp Mở rộng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 4-6, 3-6, 6–2, 5–7
2012 Mỹ Mở rộng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 106–7, 5-7, 6-2, 6-3, 2-6
2013 Wimbledon Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 4-6, 5-7, 4-6
2013 Mỹ Mở rộng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6–2 3–6 6–4 6–1

Masters Cup/ATP World Tour Finals[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (3)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải đấu Đối thủ Tỉ số
2008 Masters Cup Flag of Russia.svg Nikolay Davydenko 6–1, 7–5
2012 ATP World Tour Finals Flag of Switzerland.svg Roger Federer 7–6(8), 7–5
2013 ATP World Tour Finals Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6–3 6–4

ATP Masters Series / ATP World Tour Masters 1000[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (12)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải đấu Đối thủ Tỉ số
2007 Miami Flag of Argentina.svg Guillermo Canas 6–3, 6–2, 6–4
2007 Rogers Cup, Montreal Cờ của Thụy Sĩ Roger Federer 7–6(2), 2–6, 7–6(2)
2008 Pacific Life Open, Indian Wells, California Flag of the United States Mardy Fish 6–2, 5–7, 6–3
2008 Internazionali d'Italia, Roma Cờ của Thụy Sĩ Stanislas Wawrinka 4–6, 6–3, 6–3
2009 BNP Paris Masters Cờ của Pháp Gael Monfils 6-2,5-7,7-6(3)
2011 Indian Wells Masters Cờ của Tây Ban Nha Rafael Nadal 4-6,6-3,6-2
2011 Miami Masters Cờ của Tây Ban Nha Rafael Nadal 4-6,6-3,7-6(4)
2011 Madrid Masters Cờ của Tây Ban Nha Rafael Nadal 7-5,6-4
2011 Rome Masters Cờ của Tây Ban Nha Rafael Nadal 6-4,6-4
2011 Rogers Cup, Montreal Flag of the United States Mardy Fish 6-2, 3-6, 6-4
2012 Miami Masters Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Andy Murray 6-1, 7-6(4)
2012 Rogers Cup, Toronto Cờ của Pháp Richard Gasquet 6-2, 3-6, 6-4

Á quân (9)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải đấu Đối thủ Tỉ số
2007 Indian Wells Flag of Spain.svg Rafael Nadal 2-6, 5-7
2008 Cincinnati Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 7-64, 7-65
2009 Miami Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 2-6,5-7
2009 Monte Carlo Flag of Spain.svg Rafael Nadal 3-6,6-2,1-6
2009 Rome Master Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6-7,2-6
2009 Cincinnati Flag of Switzerland.svg Roger Federer 1-6,5-7
2011 Cincinnati Flag of Scotland.svg Andy Murray 4-6,0-3
2012 Monte Carlo Flag of Spain.svg Rafael Nadal 3-6,1-6
2012 Rome Master Flag of Spain.svg Rafael Nadal 5-7,3-6

Toàn bộ (43)[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (30)[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng kết
Grand Slam (6)
Tennis Masters Cup/ATP World Tour Final (2)
ATP Masters Series (11)
ATP Tour (13)
Số Ngày Giải đấu Mặt sân Đối thủ ở chung kết Tỉ số
1. 23 tháng 7, 2006 Amersfoort, Hà Lan Đất nện Flag of Chile.svg Nicolás Massú 7-6(5), 6-4
2. 8 tháng 10, 2006 Metz, Pháp Cứng Flag of Austria.svg Jürgen Melzer 4-6 6-3 6-2
3. 7 tháng 1, 2007 Adelaide, Úc Cứng Flag of Australia.svg Chris Guccione 6-3, 6-7(6), 6-4
4. 1 tháng 4, 2007 Miami Masters, Hoa Kỳ Cứng Flag of Argentina.svg Guillermo Cañas 6-3, 6-2, 6-4
5. 6 tháng 5, 2007 Estoril, Bồ Đào Nha Đất nện Flag of France.svg Richard Gasquet 7-6, 0-6, 6-1
6. 12 tháng 8, 2007 Montreal Masters, Canada Cứng Flag of Switzerland.svg Roger Federer 7-6, 2-6, 7-6
7. tháng 10, 2007 Viên, Áo Cứng Flag of Switzerland.svg Stanislas Wawrinka 6-4, 6-0
8. 27 tháng 1, 2008 Úc Mở rộng, Úc Cứng Flag of France.svg Jo-Wilfried Tsonga 4-6, 6-4, 6-3, 7-6
9. 23 tháng 3, 2008 Indian Wells, Hoa Kỳ Cứng Flag of the United States Maddy Fish 6-2, 5-7, 6-3
10. 11 tháng 5, 2008 Master Rome, Ý Đất nện Cờ của Thụy Sĩ Stanislas Wawrinka 4-6, 6-3, 6-3
11. 16 tháng 11, 2008 Master Cup, Trung Quốc Cứng Flag of Russia.svg Nicolay Davydenko 6-1, 7-5
12. 28 tháng 2, 2009 Dubai Tennis C., UAE Cứng Flag of Spain.svg David Ferrer 7-5, 6-3
13. 10 tháng 5, 2009 Serbia Mở rộng, Serbia Cứng Cờ của Ba Lan Lukasz Kubot 6-3, 7-6
14. 5 tháng 10, 2009 China Open, Trung Quốc Cứng Cờ của Croatia Marin Cilic 6-2, 7-6
15. 8 tháng 11, 2009 Davidoff Swiss Indoors, Thụy Sĩ Cứng Cờ của Thụy Sĩ Roger Federer 6-4, 4-6, 6-2
16. 15 tháng 11, 2009 BNP Paribas Masters, Pháp Cứng Flag of France.svg Gael Monfils 6-2, 5-7, 7-6
17. 28 tháng 2, 2010 Dubai Tennis C., UAE Cứng Flag of Russia.svg Mikhail Youzhny 7-5, 5-7, 6-3
18. 10 tháng 10, 2010 Bắc Kinh,Trung Quốc Cứng Flag of Spain.svg David Ferrer 6–2, 6–4
19. 30 tháng 1, 2011 Úc Mở rộng, Úc Cứng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 6-4, 6-2, 6-3
20. 26 tháng 2, 2011 Dubai, UAE Cứng Flag of Switzerland.svg Roger Federer 6–3, 6–3
21. 20 tháng 3, 2011 Indian Wells, Hoa Kỳ Cứng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 4–6, 6–3, 6–2
22. 3 tháng 4, 2011 Miami, Hoa Kỳ Cứng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 4–6, 6–3, 7–6(4)
23. 1 tháng 5, 2011 Beograd, Serbia Cứng Flag of Spain.svg Feliciano López 7–6(4), 6–2
24. 8 tháng 5, 2011 Madrid, Tây Ban Nha Đất nện Flag of Spain.svg Rafael Nadal 7–5, 6–4
25. 15 tháng 5, 2011 Roma, Ý Đất nện Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6–4, 6–4
26. 3 tháng 7, 2011 Wimbledon, Anh Cỏ Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6–4, 6–1, 1–6, 6–3
27. 14 tháng 8, 2011 Montreal, Canada Cứng Flag of the United States.svg Mady Fish 6–2, 3–6, 6–4
28. 12 tháng 9, 2011 Mỹ Mở rộng, Hoa Kỳ Cứng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6–2, 6–4, 6–7(3), 6–1
29. 29 tháng 1, 2012 Úc mở rộng, Úc Cứng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 5-7, 6-4, 6-2, (5)6-7, 7-5
30. 1 tháng 4, 2012 Miami, Hoa Kỳ Cứng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 6–1, 7–6(4)

Á quân đơn (14)[sửa | sửa mã nguồn]

TT Ngày Giải đấu Mặt sân Đối thủ ở vòng chung kết Điểm số
1. 30 tháng 7, 2006 Umag, Croatia Nện Flag of Switzerland.svg Stanislas Wawrinka 6–6(1),nghỉ
2. 18 tháng 3, 2006 Indian Wells, Hoa Kỳ Cứng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 2–6, 5–7
3. 9 tháng 9, 2007 Mỹ Mở rộng, New York, Hoa Kỳ Cứng Flag of Switzerland.svg Roger Federer 6–7(4), 6–7(2), 4–6
4. 15 tháng 6, 2008 London (Queen's Club),, Anh Cỏ Flag of Spain.svg Rafael Nadal 6–7(6), 5–7
5. 3 tháng 8, 2008 Cincinnati, Hoa Kỳ Cứng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 6–7(4), 6–7(5)
6. 28 tháng 9, 2008 Bangkok, Thái Lan Cứng Flag of France.svg Jo-Wilfried Tsonga 6–7(4), 4–6
7. 5 tháng 4, 2009 Miami, Hoa Kỳ Cứng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 2–6, 5–7
8. 19 tháng 4, 2009 Monte Carlo, Monaco Nện Flag of Spain.svg Rafael Nadal 3–6, 6–2, 1–6
9. 3 tháng 5, 2009 Roma, Ý Nện Flag of Spain.svg [Rafael Nadal 6–7(2), 2–6
10. 16 tháng 6, 2009 Halle, Đức Cỏ Flag of Germany.svg Tommy Haas 3–6, 7–6(4), 1–6
11. 23 tháng 8, 2009 Cincinnati, Hoa Kỳ Cứng Flag of Switzerland.svg Roger Federer 1–6, 5–7
12. 12 tháng 9, 2010 Mỹ Mở rộng, New York, Hoa Kỳ Cứng Flag of Spain.svg Rafael Nadal 4–6, 7–5, 4–6, 2–6
13. 8 tháng 11, 2010 Basel, Thụy Sỹ Cứng (i) Flag of Switzerland.svg Roger Federer 4–6, 6-3, 1–6
14. 21 tháng 8, 2011 Cincinnati, Hoa Kỳ Cứng Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray 4–6, 0–3 bỏ cuộc
15. 22 tháng 4, 2012 Monte Carlo, Monaco Đất nện Flag of Spain.svg Rafael Nadal 3–6, 1–6
16. 21 tháng 5, 2012 Rome, Italia Đất nện Flag of Spain.svg Rafael Nadal 5–7, 3–6
17. 11 tháng 6, 2012 Giải quần vợt Pháp Mở rộng, Paris, Pháp Đất nện Flag of Spain.svg Rafael Nadal 4–6, 3–6, 6–2, 5–7

Thu nhập từ thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Grand Slams Vô địch ATP Tổng cộng Thu nhập ($) Xếp hạng tiền thưởng
2003 0 0 0 2.704 937
2004 0 0 0 40.790 292
2005 0 0 0 202.416 114
2006 0 2 2 644.940 28
2007 0 5 5 3.927.700 3
2008 1 2 3 3.136.920 2
2009 0 5 5 5,476,471 3 [2]
2010 0 2 2 4,243,807 3 [2]
2011 3 7 10 12,595,903 1 [2]
2012 (đến 30/01/2012) 1 0 1 2,372,910 1 [2]
Career (đến 30/01/2012) 5 24 29 35,255,670 4

Kỷ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2011

- 10 là số danh hiệu mà Djokovic giành được trong mùa, trong đó có 3 danh hiệu Grand Slam (Úc Mở rộng, WimbledonHoa Kỳ Mở rộng) và cả 5 ngôi vô địch ở các giải Masters 1000 (Indian Wells, Key Biscayne, Madrid Masters, Roma MastersCúp Rogers).

- 70 là số trận thắng trong mùa của Djokovic, trong đó, anh từng tạo ra chuỗi 43 trận thắng liên tiếp từ đầu mùa cho đến bán kết Roland Garros (nơi anh bị chặn đứng bởi Federer); Djokovic cũng chỉ thua có 6 trận trong mùa (trong đó có 2 trận thua tại ATP World Tour Finals vào cuối năm - một giải đấu mà anh tham gia "lấy lệ" và nhanh chóng buông vợt khá chóng vánh trước David FerrerJanko Tipsarević). Thành tích này của Djokovic được xác nhận chỉ thua thành tích của John McEnroe trong mùa giải 1984 với 82 trận thắng và 3 trận thua.

- 1 và 13.630 là thứ hạng và điểm số của Djokovic trên bảng điểm xếp hạng của ATP - đây là số điểm kỷ lục đối với một tay vợt từ khi ATP thay đổi hệ số tính điểm vào năm 2009; xếp ngay sau Djokovic lần lượt là NadalFederer với những con số tương ứng lần lượt là 2 và 9.595; 3 và 8.170.

- 12.619.803$ là số tiền thưởng mà Djokovic giành được trong mùa; đây là số tiền thưởng kỷ lục mà một tay vợt thắng được trong mùa giải; kỷ lục của Djokovic đã vượt qua số tiền thưởng 10,1 triệu USD của Nadal (mùa giải 2010) và Federer (mùa giải 2007).[3]

- 6 là số trận toàn thắng trước Nadal ở chung kết các giải đấu trong mùa; Djokovic đã khiến cho Nadal nếm trải thứ cảm giác khó khăn mà anh từng buộc Federer phải chịu đựng trong ngần ấy năm.

Mùa giải 2013

- Với chức vô địch Úc mở rộng, Djokovic trở thành tay vợt đầu tiên từ kỷ nguyên Mở vô địch 3 lần liên tiếp tại đây. Với 4 chức vô địch tổng cộng, anh cũng san bằng kỷ lục trước đó của Agassi và Federer[4].

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The winners of the 2012 Laureus World Sports Awards are…, Serbia's Novak Djokovic was acclaimed Laureus World Sportsman of the Year after his remarkable 2011 when he won three Grand Slam events - the Australian Open, Wimbledon and the US Open - and took away the tennis world No 1 ranking from Rafael Nadal.
  2. ^ a ă â b http://www.atpworldtour.com/~/media/83CECA5E6E40428D83464B7828CC4043.ashx
  3. ^ Djokovic lập kỷ lục tiền thưởng quần vợt
  4. ^ Hủy diệt Murray, Djokovic đi vào lịch sử

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệp hội quần vợt nhà nghề
10 tay vợt nam hàng đầu tính đến 27 tháng 01 năm 2014
1. Straight Line Steady.svg Flag of Spain.svg Rafael Nadal
6. Red Arrow Down.svg Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray
2. Straight Line Steady.svg Flag of Serbia.svg Novak Djokovic
7. Red Arrow Down.svgFlag of the Czech Republic.svg Tomas Berdych
3. Green Arrow Up Darker.svg Flag of Switzerland.svg Stanislas Wawrinka
8. Red Arrow Down.svgFlag of Switzerland.svg Roger Federer
4. Green Arrow Up Darker.svg Flag of Argentina.svg Juan Martín del Potro
9. Straight Line Steady.svg Flag of France.svg Richard Gasquet
5. Red Arrow Down.svg Flag of Spain.svg David Ferrer
10. Straight Line Steady.svg Flag of France.svg Jo-Wilfried Tsonga