Maria Yuryevna Sharapova

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Maria Sharapova
Maria Sharapova at the 2009 Wimbledon Championships 09.jpg
Maria Sharapova tại Wimbledon Championships 2009
Biệt danh Masha
Quốc gia  Nga
Nơi cư trú Bradenton, Floria, Hoa Kỳ
Ngày sinh 19 tháng 4, 1987 (27 tuổi)
Nơi sinh Nyagan, Nga
Chiều cao 1,88 m (6 ft 2 in)
Năm chơi chuyên nghiệp 2001
Tay thuận Tay phải, trái tay 2 tay
Tiền thưởng 30,569,305 Mỹ kim
Đánh đơn
Thắng - Thua 509–122
Vô địch 32 WTA, 4 ITF
Thứ hạng cao nhất 1 (22 tháng 8, 2005)
Thứ hạng hiện tại 6 (28 tháng 7, 2014)
Các giải Grand Slam
Úc Mở rộng W (2008)
Pháp mở rộng W (2012, 2014)
Wimbledon W (2004)
Mỹ Mở rộng W(2006)
Championships W (2004)
Thế vận hội Silver medal.svg Huy chương bạc (2012)
Đánh đôi
Thắng - Thua 23–17
Vô địch 3 WTA
Thứ hạng cao nhất No. 41 (14 tháng 6 năm 2004)
Kết quả giải đôi Grand Slam
Úc Mở rộng 2R (2003, 2004)
Mỹ Mở rộng 2R (2003)

Maria Yuryevna Sharapova (tiếng Nga: ; sinh ngày 19 tháng 4 năm 1987) là một vận động viên quần vợt quốc tịch Nga hiện sinh sống ở Mỹ và là nữ vận động viên kiếm được nhiều tiền nhất trên thế giới.[1]

Sharapova cho đến thời điểm này đã giành được trọn bộ 4 danh hiệu Grand Slam ở nội dung đánh đơn. Danh hiệu đầu tiên là Wimbledon 2004, khi hạ Serena Williams tại trận chung kết, tiếp đó là tại Mỹ Mở rộng, sau khi thắng Justine Henin tại trận chung kết năm 2006. Danh hiệu thứ 3 là tại Úc Mở rộng đánh bại Ana Ivanović năm 2008. Danh hiệu thứ 4, hoàn tất bộ sưu tập Grand Slam sự nghiệp tại giải Pháp Mở rộng năm 2012 khi vượt qua Sara Errani. Cô có Grand Slam thứ 5 sau khi vô địch giải Pháp mở rộng năm 2014. Sharapova còn có danh hiệu WTA Championships vào năm 2004. Ngoài ra thời gian gần đây cô còn vào chung kết Wimbledon năm 2011, chung kết Úc Mở rộng năm 2012, bán kết Mỹ Mở rộng năm 2012, chung kết WTA Championships năm 2012 và chung kết Pháp Mở rộng năm 2013.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2004, Sharapova trở thành người thứ ba trẻ nhất trong lịch sử giành chức vô địch Wimbledon đơn nữ (sau Lottie DodMartina Hingis), người trẻ thứ hai nếu ta bắt đầu tính từ kỷ open khi đánh bại Ai Sugiyama (5-7, 7-5, 6-1) ở tứ kết, Lindsay Davenport (2-6, 7-6, 6-1) ở trận bán kết, và ĐKVĐ Serena Williams (6-1, 6-4) ở trận chung kết. Cô cũng trở thành người Nga đầu tiên giành danh hiệu vô địch tại đây. Sharapova kết thúc năm 2004 với chiến thắng tại WTA Championships, khi hạ Williams (4-6, 6-2, 6-4) sau khi bị dẫn 0-4 ở set quyết định.

Từ tháng 06, 2004 đến trận bán kết Wimbledon 2005, Sharapova đã có một mạch 22 trận bất bại trên mặt sân cỏ (trong đó có 2 chức vô địch liên tiếp ở Birmingham và một chức vô địch ở Wimbledon). Sau thành công trong năm 2004, Sharapova tiếp tục trụ vững, cô lọt vào bán kết giải Úc mở rộng 2005, và chỉ chịu thua sát nút Serena Williams 2-6, 7-5, 8-6, sau khi đã có 3 cơ hội kết thúc trận đấu (match point).

Tại giải Wimbledon năm 2005, trên đường bảo vệ danh hiệu của mình Sharapova thẳng tiến tới trận bán kết mà không thua một séc nào cả, nhưng tới đây cô đã vấp phải tay vợt đang hồi sinh Venus Williams và đành chịu thua với tỉ số (7-6, 6-1). Đồng thời chấm dứt mạch 22 trận bất bại trên mặt sân cỏ của mình.

Cũng trong năm Davenport bị chấn thương ở trận chung kết Wimbledon nên phải nghỉ thi đấu trong khoảng thời gian từ sau Wimbledon đến sau US Open, vì vậy mà lần đầu tiên Sharapova leo lên vị trí số một thế giới và ở tại vị trí này trong vòng sáu tuần lễ cho đến khi Davenport giành được chức vô địch giải Tier I (chỉ kém 4 giải Grand Slam) tại Zürich vào tháng 10.

Cũng trong năm 2005, một điều hy hữu đã xảy ra với Sharapova. Tại 4 giải Grand Slam cô đã thua 4 tay vợt mà sau đó đã giành chức vô địch. (Thua Kim Clijsters ở bán kết US Open, Serena Williams ở bán kết Úc Mở rộng, Justine Henin-Hardenne ở giải Roland Garros và Venus Williams ở bán kết Wimbledon.

Sharapova thắng giải Mỹ Mở rộng năm 2006

Năm 2006 Sharapova giành danh hiệu đầu tiên trong năm ở giải Pacific Life Open tại Indian Wells (giải được xếp hạng Tier 1), sau khi hạ hạt giống số 4 Elena Dementieva ở trận chung kết, 6-1 6-2. Đông thời Sharapova và Dementieva trở thành hai tay vợt Nga đầu tiên lọt vào trận chung kết của giải đấu này. Ngay sau đó, Sharapova cũng lọt vào trận chung kết của giải Nasdaq-100 Open, nhưng đã chịu thua Svetlana Kuznetsova 6-4, 6-3.

Danh hiệu thứ hai của năm 2006 mà cô giành được là giải Acura ClassicSan Diego, sau khi thắng Clijsters, 7-5, 7-5. Đây là chiến thắng đầu tiên của Sharapova trước Clijsters sau năm lần gặp mặt.

Được coi là một trong những ứng cử viên cho chức vô địch ở giải Mỹ Mở rộng, cô đã xuất sắc giành chức vô địch Grand Slam thứ hai trong sự nghiệp của mình khi lần lượt đánh bại Mauresmo ở trận bán kết với tỉ số 6-0, 4-6, 6-0, rồi Henin-Hardenne ở trận chung kết.

Vào tháng 10 Sharapova giành danh hiệu thứ tư của năm khi vô địch giải Zurich Open 2006.

Cô giành danh hiệu thứ 15- cũng là danh hiệu thứ 5 trong năm sau chức vô địch giải Generali Ladies Linz, đánh bại ĐKVĐ Nadia Petrova sau 2 set.

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

2003

  • Tay vợt nữ của WTA mới xuất hiện ấn tượng nhất
  • Nữ vẫn động viên thể thao quyến rũ nhất (Maxim)

2004

  • Tay vợt nữ của WTA xuất sắc nhất
  • Tay vợt nữ của WTA tiến bộ nhất
  • Nữ vẫn động viên thể thao quyến rũ nhất (Maxim)

2005

  • Tay vợt nữ xuất sắc nhất do ESPN trao tặng
  • Tay vợt Nga xuất sắc nhất do Liên đoàn quần vợt Nga trao tặng
  • Nữ vẫn động viên thể thao quyến rũ nhất (Maxim)

2006

  • Nữ vẫn động viên thể thao quyến rũ nhất (Maxim)
  • Tay vợt Nga xuất sắc nhất do Liên đoàn quần vợt Nga trao tặng

Đời sống riêng tư[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sharapova đã sống ở Mỹ từ khi cô còn nhỏ nhưng cô vẫn giữ quốc tịch Nga.
  • Gần đây Sharapova đã mua một ngôi nhà nhìn ra bờ biển ở Manhattan Beach, ngoại ô Los Angeles, California, nhưng suốt thời gian trong năm, cô sống gần cơ sở huấn luyện của IMG ở Bradenton.
  • Năm 19, Sharapova đã hoàn thành xong chương trình trung học.[2]
  • Sharapova có một thói quen là hay hét trên sân thi đấu. Là tay vợt ồn áo nhất kể từ khi Monica Seles từ giã sự nghiệp, một tờ bào lá cải ở London đã viết "giọng hét của cô lúc cao điểm đạt tới âm lực 102 decibel" (ngang với còi của một ôtô cảnh sát).[3]
  • Sharapova là bạn thân với tay vợt nữ người Nga Maria Kirilenko, nếu không thì không thân thiết với các tay vợt Nga khác.[4]
  • Tên gọi thân mật của Sharapova là "Masha".[5]
  • Sharapova tặng cây vợt mà cô đã sử dụng tại trận chung kết Wimbledon cho Regis Philbin khi quay Trực tiếp với Regis và Kelly (Live with Regis and Kelly).
  • Sharapova là tay vợt Nga duy nhất đã giành được nhiều hơn một chức vô địch Grand Slam.
  • Nhà tạo mốt mà Sharapova thích nhất là Marc Jacobs. Cô thỉnh thoảng tới dự các buổi trình diễn thời trang của ông.
  • Sharapova đã hoàn thành bộ sưu tập Grand Slam của mình (Grand Slam sự nghiệp) sau khi giành được chức vô địch tại Pháp Mở rộng.
  • Sharapova giành được huy chương Bạc tại Olympics London 2012 sau khi thua Serena Williams với tỉ số 6-0 6-1.^^

Trích dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Khi tôi cố gắng để trở thành tay vợt quần vợt hàng đầu, tôi không bao giờ nói tôi là thứ hai, tôi nói tôi muốn là số một".[6]
  • "Sau khi đã suy nghĩ kĩ càng, cá nhân tôi tin rằng, cuộc đời tôi không chỉ là về một quả chuối". (Phát biểu trong buổi họp báo sau chức VĐ US Open khi có người cho rằng HLV của cô đã ra dấu để cô ăn một quả chuối)

Chung kết Grand Slam đơn nữ đã tham dự[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (5)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải đấu Đối thủ ở trận chung kết Kết quả
2004 Wimbledon Flag of the United States.svg Serena Williams 6-1, 6-4
2006 Mỹ Mở rộng Flag of Belgium (civil).svg Justine Henin-Hardenne 6-4, 6-4
2008 Úc Mở rộng Flag of Serbia.svg Ana Ivanović 7-5, 6-3
2012 Pháp Mở rộng Flag of Italy.svg Sara Errani 6-3, 6-2
2014 Pháp Mở rộng Flag of Romania.svg Simona Halep 6-4, 6-7, 6-4

Á quân (4)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải đấu Đối thủ ở trận chung kết Kết quả
2007 Úc Mở rộng Flag of the United States.svg Serena Williams 6-1 6-2
2011 Wimbledon Flag of the Czech Republic.svg Petra Kvitova 6-3, 6-4
2012 Úc Mở rộng Flag of Belarus.svg Victoria Azarenka 6-0,6-3
2013 Pháp Mở rộng Flag of the United States.svg Serena Williams 6-4 6-4

Chung kết giải WTA Tour Championships đơn nữ đã tham dự[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (1)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thành phố đăng cai Đối thủ ở trận chung kết Kết quả
2004 Los Angeles Flag of the United States.svg Serena Williams 4-6, 6-4, 6-4

Á quân (4)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thành phố đăng cai Đối thủ ở trận chung kết Kết quả
2007 Madrid Flag of Belgium (civil).svg Justine Henin 5-7, 7-5, 6-3
2012 Istanbul Flag of the United States.svg Serena Williams 6-3, 6-4

Chung kết các giải WTA Tour đã tham dự[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (19)[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú
Grand Slam (3)
WTA Championships (1)
Tier I (4)
WTA Tour (9)
Chức vô địch theo mặt sân
Cứng (13)
Đất nện (1)
Cỏ (3)
Trải thảm (1)
Stt. Ngày Giải Mặt sân Đối thủ ở trận chung kết Kết quả
1. 29 tháng 09, 2003 Flag of Japan (bordered).svg Tokyo Cứng Flag of Hungary.svg Aniko Kapros 2-6, 6-2, 7-6(5)
2. 27 tháng 10, 2003 Flag of Canada.svg Quebec Cứng Flag of Venezuela.svg Milagros Sequera 6-2 bỏ cuộc
3. 07 tháng 06, 2004 Flag of the United Kingdom.svg Birmingham Cỏ Cờ của Pháp Tatiana Golovin 4-6, 6-2, 6-1
4.|bgcolor="e5d1cb"|21 tháng 06, 2004|bgcolor="e5d1cb"|Flag of the United Kingdom.svg Wimbledon|bgcolor="e5d1cb"|Cỏ|bgcolor="e5d1cb"|Flag of the United States.svg Serena Williams |bgcolor="e5d1cb"|6-1, 6-4
5. 27 tháng 09, 2004 Flag of South Korea (bordered).svg Seoul Cứng Flag of Poland.svg Marta Domachowska 6-1, 6-1
6. 4 tháng 10, 2004 Flag of Japan (bordered).svg Tokyo (2) Cứng Flag of the United States.svg Mashona Washington 6-0, 6-1
7.|bgcolor="ffffcc"|08 tháng 11, 2004|bgcolor="ffffcc"|Flag of the United States.svg WTA Championships, Los Angeles|bgcolor="ffffcc"|Cứng|bgcolor="ffffcc"|Flag of the United States.svg Serena Williams|bgcolor="ffffcc"|4-6, 6-2, 6-4
8.|bgcolor="#dfe2e9"|06 tháng 02, 2005|bgcolor="#dfe2e9"|Flag of Japan (bordered).svg Tōkyō|bgcolor="#dfe2e9"|Trải thảm Flag of the United States.svg Lindsay Davenport|bgcolor="#dfe2e9"|6-1, 3-6, 7-6(5)
9. 21 tháng 02, 2005 Flag of Qatar (bordered).svg Doha Cứng Flag of Australia.svg Alicia Molik 4-6, 6-1, 6-4
10. 06 tháng 06, 2005 Flag of the United Kingdom.svg Birmingham (2) Cỏ Flag of Serbia (bordered).svg Jelena Jankovic 6-2, 4-6, 6-1
11.|bgcolor="#dfe2e9"|18 tháng 03, 2006|bgcolor="#dfe2e9"|Flag of the United States.svg Indian Wells|bgcolor="#dfe2e9"|Cứng|bgcolor="#dfe2e9"|Flag of Russia.svg Elena Dementieva|bgcolor="#dfe2e9"|6-1, 6-2
12.|bgcolor="#dfe2e9"|06 tháng 08, 2006|bgcolor="#dfe2e9"|Flag of the United States.svg San Diego|bgcolor="#dfe2e9"|Cứng|bgcolor="#dfe2e9"|Belgium Kim Clijsters|bgcolor="#dfe2e9"|7-5, 7-5
13.|bgcolor="e5d1cb"|09 tháng 09, 2006|bgcolor="e5d1cb"|Flag of the United States.svg Mỹ Mở rộng, Thành phố New York|bgcolor="e5d1cb"|Cứng|bgcolor="e5d1cb"|Flag of Belgium (civil).svg Justine Henin-Hardenne|bgcolor="e5d1cb"|6-4, 6-4
14.|bgcolor="#dfe2e9"|22 tháng 10, 2006|bgcolor="#dfe2e9"|Flag of Switzerland.svg Zürich|bgcolor="#dfe2e9"|Cứng|bgcolor="#dfe2e9"|Flag of Slovakia (bordered).svg Daniela Hantuchova|bgcolor="#dfe2e9"|6-1, 4-6, 6-3
15. 29 tháng 10, 2006 Flag of Austria.svg Linz, Áo Cứng Flag of Russia.svg Nadia Petrova 7-5, 6-2
16.|bgcolor="#dfe2e9"|06 tháng 08, 2007|bgcolor="#dfe2e9"|Flag of the United States.svg San Diego (2)|bgcolor="#dfe2e9"|Cứng|bgcolor="#dfe2e9"|Flag of Switzerland.svg Patty Schyder|bgcolor="#dfe2e9"|6-3, 3-6,6-1|- bgcolor="e5d1cb" 17. 26 tháng 1, 2008 Flag of Australia.svg Úc Mở rộng, Úc Cứng Flag of Serbia.svg Ana Ivanović 7-5, 6-3
18. 24 tháng 2, 2008 Qatar Total Mở rộng, Doha Cứng Cờ của Nga Vera Zvonareva 6–1, 2–6, 6–0
19. 13 tháng 4, 2008 Bausch & Lomb Championships, Amelia Island, Florida,Mỹ Đất nện Cờ của Slovakia Dominika Cibulková 7–6(7), 6–3

Thua ở trận chung kết (7)[sửa | sửa mã nguồn]

Stt. Ngày Giải Mặt sân Đối thủ ở trận chung kết Kết quả
1.|bgcolor="#dfe2e9"|18 tháng 10, 2004|bgcolor="#dfe2e9"|Flag of Switzerland.svg Zürich|bgcolor="#dfe2e9"|Cứng|bgcolor="#dfe2e9"|Flag of Australia.svg Alicia Molik|bgcolor="#dfe2e9"|6-4, 2-6, 3-6
2.|bgcolor="#dfe2e9"|21 tháng 03, 2005|bgcolor="#dfe2e9"|Flag of the United States.svg Miami|bgcolor="#dfe2e9"|Cứng|bgcolor="#dfe2e9"|Flag of Belgium (civil).svg Kim Clijsters|bgcolor="#dfe2e9"|3-6, 5-6
3. 20 tháng 02, 2006 Flag of the United Arab Emirates.svg Dubai Cứng Flag of Belgium (civil).svg Justine Henin-Hardenne 5-7, 2-6
4. 30 tháng 03, 2006 Flag of the United States.svg Miami (2) Cứng Flag of Russia.svg Svetlana Kuznetsova 4-6, 3-6
5. 27 tháng 1, 2007 Flag of Australia.svg Úc Mở rộng Cứng Flag of the United States.svg Serena Williams 1-6, 2-6
6. 18 tháng 06, 2007 Flag of the United Kingdom.svg Birmingham Cỏ Flag of Serbia.svg Jelena Janković 4-6, 6-3, 7-5
7. 11 tháng 11, 2007 Flag of Spain.svg WTA Tour Championships, Madrid Cứng Flag of Belgium (civil).svg Justine Henin 5-7, 7-5, 6-3

Vô địch đôi nữ (3)[sửa | sửa mã nguồn]

Stt. Ngày Giải Mặt sân Đồng đội Đối thủ ở trận chung kết Kết quả
1. 29 tháng 09, 2003 Flag of Japan (bordered).svg Tokyo Cứng Flag of Thailand.svg Tamarine Tanasugarn Flag of the United States.svg Ansley Cargill
Flag of the United States.svg Ashley Harkleroad
7-6 (1), 6-0
2. 20 tháng 10, 2003 Flag of Luxembourg.svg Luxembourg Cứng Flag of Thailand.svg Tamarine Tanasugarn Flag of Ukraine.svg Elena Tatarkova
Flag of Germany.svg Marlene Weingartner
6-1, 6-4
3. 07 tháng 06, 2004 Flag of the United Kingdom.svg Birmingham Cỏ Flag of Russia (bordered).svg Maria Kirilenko Flag of Australia.svg Lisa Mcshea
Flag of Venezuela.svg Milagros Sequera
6-2, 6-1

Thua ở trận chung kết đôi nữ (1)[sửa | sửa mã nguồn]

Stt. Ngày Giải Mặt sân Đồng đội Đối thủ ở trận chung kết Kết quả
1. 12 tháng 02, 2004 Flag of the United States.svg Memphis Cứng Flag of Russia (bordered).svg Vera Zvonareva Flag of Sweden.svg Åsa Svensson
Flag of the United States.svg Meilen Tu
6-4, 7-6 (0)

Bảng tổng kết thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Để tránh việc nhầm lẫn do sự trùng lặp khi đếm, bảng sau đây chỉ được cập nhật khi một giải đấu đã hoàn toàn kết thúc. Lần cuối cùng cập nhật là sau Giải quần vợt Úc Mở rộng 2007

Giải đấu 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 SR
Úc mở rộng A V1 V3 BK BK CK 1 / 6
Pháp mở rộng A V1 TK TK V4 BK V4 0 / 6
Wimbledon A V4 BK BK V4 V2 1 / 6
Mỹ mở rộng A V2 V3 BK V3 A 1 / 5
Grand Slam SR 0 / 0 0 / 4 1 / 4 0 / 4 1 / 4 0 / 4 1 / 3 2 / 20
Grand Slam Thắng-Thua 0-0 4-4 15-3 19-4 20-3 16-4 11-3 N/A
Tokyo A A V2 BK BK 1 / 4
Indian Wells V2 V1 V4 BK V4 BK 1 / 7
Miami A V1 V4 CK CK V4 A 0 / 4
Charleston A V1 A A A A TK 0 / 2
Berlin A A V3 TK A A A 0 / 2
Rome A A V3 BK A A BK 0 / 3
San Diego A A TK A 2 / 3
Montreal/Toronto A V1 V3 A A A V3 0 / 3
Moskva A A A TK TK V2 0 / 3
Zurich A A CK A A 1 / 2
WTA Tour Championships A A BK BK CK 1 / 3
Tổng số giải thi đấu 2 14 20 15 15 14 N/A
Số lần lọt vào trận chung kết 0 2 6 4 7 1 N/A
Số chức vô địch 0 2 5 3 5 1 N/A
Vị trí xếp hạng vào cuối năm 186 32 4 4 2 5 N/A

A = Không tham gia giải đấu

SR = Tỉ lệ số lần đoạt chức vô địch trên tổng số lần tham dự giải

V1, V2, V3... = Vòng 1, Vòng 2, Vòng 3

TK = Tứ kết

BK = Bán kết

CK = Thua ở trận chung kết

VĐ = Vô địch

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

WTA | 10 vận động viên quần vợt nữ hàng đầu tính đến 28 tháng 10 năm 2013
1. Straight Line Steady.svg Flag of the United States.svg Serena Williams
6. Green Arrow Up Darker.svg Flag of the Czech Republic.svg Petra Kvitová
2. Straight Line Steady.svg Flag of Belarus.svg Victoria Azarenka
7. Red Arrow Down.svg Flag of Italy.svg Sara Errani
3. Green Arrow Up Darker.svg Flag of the People's Republic of China.svg Li Na
8. Straight Line Steady.svg Flag of Serbia.svg Jelena Janković
4. Red Arrow Down.svg Flag of Russia.svg Maria Sharapova
9. Straight Line Steady.svg Flag of Germany.svg Angelique Kerber
05. Red Arrow Down.svg Flag of Poland.svg Agnieszka Radwańska
10. Straight Line Steady.svg Flag of Denmark.svg Caroline Wozniacki