Arthur Ashe

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Arthur Ashe
Quốc gia Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ
Nơi cư trú Richmond, Virginia
Ngày sinh 10 tháng 7 năm 1943
Nơi sinh Richmond, Virginia, Hoa Kỳ
Chiều cao 6 ft 1 in (1,85 m)
Cân nặng 73 kg
Bắt đầu chơi chuyên nghiệp 1969
Gác vợt 1980
Tay thuận Tay phải
Tiền thưởng giành được 2.584.909 $
Đánh đơn
Thắng/thua 818-260
Số chức vô địch 33
Thứ hạng cao nhất Hạng 2 (1976)
Thứ hạng hiện tại
Thành tích tốt nhất tại các giải Grand Slam
Úc Mở rộng Vô địch (1970)
Pháp Mở rộng Tứ kết (1970, 1971)
Wimbledon Vô địch (1975)
Mỹ Mở rộng Vô địch (1968)
Đánh đôi
Thắng/thua
Số chức vô địch 18
Thứ hạng cao nhất

Tiêu bản được cập nhật lần cuối vào: 24 tháng 7 năm 2007.

Arthur Robert Ashe (5 tháng 7 năm 19436 tháng 2 năm 1993) là một cựu vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Mỹ, sinh ra và lớn lên ở Richmond, Virginia. Trong sự nghiệp của mình, Ashe đã giành được 3 danh hiệu Grand Slam, trở thành một trong số những vận động viên quần vợt xuất sắc nhất của Mỹ. Ông, một người Mỹ gốc Phi, còn được nhớ đến với những nỗ lực trong hoạt động xã hội của mình thời gian sau này.

Sự nghiệp quần vợt[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1968, Ashe giành chức vô địch của Giải vô địch quần vợt nghiệp dư Mỹ và Giải quần vợt Mỹ Mở rộng đầu tiên của Kỷ nguyên mở. Ông cũng góp phần giúp đội Mỹ giành Cúp Davis trong năm đó. Ông là vận động viên duy nhất giành cả chức vô địch Mỹ nghiệp dư và chuyên nghiệp trong cùng một năm.[1]. Năm này cũng là một năm đáng nhớ với Ashe khi ông bị chính phủ Nam Phi từ chối cấp thị thực để tham dự giải quần vợt Nam Phi Mở rộng. Sự từ chối này là phương tiện để ông cho mọi người thấy chính sách phân biệt chủng tộc của Nam Phi. Trên các phương tiện truyền thông, Ashe kêu gọi loại Nam Phi ra khỏi cộng đồng quần vợt chuyên nghiệp.

Năm 1969, Ashe chuyển sang thi đấu chuyên nghiệp. Năm 1970, ông giành được danh hiệu Grand Slam đơn thứ hai tại Giải quần vợt Úc Mở rộng.

Năm 1975, Ashe bất ngờ giành chức vô địch Giải quần vợt Wimbledon khi đánh bại tay vợt trẻ hơn đang ở vị trí số 1 thế giới Jimmy Connors trong trận chung kết. Ông tiếp tục thi đấu vài năm nữa, nhưng do chứng bệnh tim nên sau khi phẫu thuật vào năm 1979, Ashe giải nghệ một năm sau đó.

Cho đến nay, Ashe vẫn là người Mỹ gốc Phi duy nhất giành chức vô địch đơn ở Wimbledon, Mỹ Mở rộng và Úc Mở rộng. Ông là một trong hai người da màu gốc Phi giành được danh hiệu Grand Slam đơn (tay vợt còn lại là Yannick Noah người Pháp, vô địch Giải quần vợt Pháp Mở rộng năm 1983).

Trong cuốn tự truyện vào năm 1979, Jack Kramer, một nhà tài trợ cho quần vợt lâu năm, cũng từng là một tay vợt hàng đầu trong thập niên 1940 đã xếp Ashe là một trong 21 tay vợt xuất sắc nhất mọi thời đại.[2]

Hoạt động sau khi giải nghệ quần vợt[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi giải nghệ, Ashe làm nhiều công việc, bao gồm viết bài cho tạp chí Time, bình luận cho kênh thể thao ABC Sports, sáng lập ra Giải quần vợt trẻ Quốc gia và là đội trưởng đội tuyển quần vợt Mỹ dự Cúp Davis. Năm 1983 Ashe phải thực hiện ca phẫu thuật tim lần thứ hai. Ông có tên trong Nhà lưu danh quần vợt quốc tế năm 1985. Ông còn sáng lập ra Quỹ Arthur Ashe để chống lại bệnh AIDS.[3]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1988, Ashe phát hiện ra mình bị nhiễm virus HIV từ một lần truyền máu tại một trong hai cuộc phẫu thuật tim. Ông và vợ giấu kín tình trạng bệnh tật của mình cho đến 8 tháng 4 năm 1992, khi một bài báo trên tờ USA Today đề cập đến tình hình sức khoẻ của ông, buộc ông phải công bố tình trạng nhiễm bệnh của mình. Trong năm cuối của cuộc đời, Ashe đã làm nhiều việc kêu gọi sự chú ý của những bệnh nhân bị AIDS toàn thế giới. Hai tháng trước khi mất, ông thành lập Học viện Arthur Ashe vì sức khoẻ thành thị để giúp đỡ những nơi có tình trạng chăm sóc sức khoẻ không tốt. Ashe được tạp chí thể thao Sports Illustrated bình chọn là Nhà thể thao của năm. Ông cũng dành nhiều thời gian cuối đời để viết cuối hồi kí Days of Grace, hoàn thành chỉ chưa đến một tuần trước khi mất.

Ashe mất vì biến chứng từ AIDS vào ngày 6 tháng 2 năm 1993. Ông bị toxoplasmosis, một căn bệnh nhiễm trùng liên quan tới AIDS. Dù vậy nguyên nhân chính gây ra cái chết của ông không được công bố rõ ràng.[4]

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Sân Arthur Ashe năm 2005

Các trận chung kết quan trọng[sửa | sửa mã nguồn]

Grand Slam[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn: 7 (3 thắng–4 thua)[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí Năm Giải đấu Mặt sân Đối thủ Tỉ số
Á quân 1966 Úc Mở rộng Cỏ Cờ của Úc Roy Emerson 6–4, 6–8, 6–2, 6–3
Á quân 1967 Úc Mở rộng Cỏ Cờ của Úc Roy Emerson 6–4, 6–1, 6–4
Vô địch 1968 Mỹ Mở rộng Cỏ Flag of the Netherlands Tom Okker 14–12, 5–7, 6–3, 3–6, 6–3
Vô địch 1970 Úc Mở rộng Cỏ Cờ của Úc Dick Crealy 6–4, 9–7, 6–2
Á quân 1971 Úc Mở rộng Cỏ Cờ của Úc Ken Rosewall 6–1, 7–5, 6–3
Á quân 1972 Mỹ Mở rộng Cỏ Cờ của România Ilie Năstase 3–6, 6–3, 6–7(1-5), 6–4, 6–3
Vô địch 1975 Wimbledon Cỏ Flag of the United States Jimmy Connors 6–1, 6–1, 5–7, 6–4

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Arthur Robert Ashe, Jr.”. TennisFame.com. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2009. 
  2. ^ Kramer chọn ra tay vợt xuất sắc nhất là Don Budge hoặc Ellsworth Vines. Bốn tay vợt tiếp theo theo thứ tự thời gian là Bill Tilden, Fred Perry, Bobby Riggs, và Pancho Gonzales. Sau sáu tay vợt này là đến "nhóm thứ hai" gồm Rod Laver, Lew Hoad, Ken Rosewall, Gottfried von Cramm, Ted Schroeder, Jack Crawford, Pancho Segura, Frank Sedgman, Tony Trabert, John Newcombe, Arthur Ashe, Stan Smith, Björn BorgJimmy Connors. Kramer cảm thấy không thể xếp hạng Henri CochetRené Lacoste một cách chính xác nhưng nhận xét là họ nằm trong số những tay vợt rất xuất sắc.
  3. ^ “Arthur Ashe Biography”. CMG WorldWide. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2009. 
  4. ^ “Arthur Ashe, Tennis Star, is Dead at 49 (Ngôi sao quần vợt Arthur Ashe từ trần ở tuổi 49)”. AIDS Education Global Information System. 8 tháng 2 năm 1993. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2009. 
  5. ^ Asante, Molefi Kete (2002). 100 Greatest African Americans: A Biographical Encyclopedia (100 người Mỹ gốc Phi vĩ đại nhất: Bách khoa toàn thư về tiểu sử). Amherst, New York: Prometheus Books. tr. 400. ISBN 1-57392-963-8. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2009. 
  6. ^ “40 Greatest players of the TENNIS Era (29-32) (40 tay vợt xuất sắc nhất Kỉ nguyên mở)”. TENNIS Magazine. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2009.