Trẻ em

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trẻ em trong trường học

Về mặt sinh học, trẻ emcon người ở giữa giai đoạn từ khi sinhtuổi dậy thì.[1][2] Định nghĩa pháp lý về một "trẻ em" nói chung chỉ tới một đứa trẻ, còn được biết tới là một người chưa tới tuổi trưởng thành.[1]

Trẻ em cũng có thể được hiểu trong mối quan hệ gia đình với bố mẹ (như con traicon gái ở bất kỳ độ tuổi nào)[3] hoặc, với nghĩa ẩn dụ, hoặc thành viên nhóm trong một gia tộc, bộ lạc, hay tôn giáo, nó cũng có thể bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi một thời gian, địa điểm cụ thể, hoặc hoàn cảnh, như trong "một đứa trẻ vô tư" hay "một đứa trẻ của những năm sáu mươi ".[4]

Các định nghĩa pháp lý[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số dưới 15 tuổi năm 2005

Hiệp ước về Quyền Trẻ em của Liên hiệp quốc định nghĩa một đứa trẻ là "mọi con người dưới tuổi 18 trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ em, tuổi trưởng thành được quy định sớm hơn."[5][6] hiệp nước này được 192 của 194 nước thành viên phê duyệt. Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em của Việt Nam năm 2004 quy định trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi.[7] Một số định nghĩa tiếng Anh của từ trẻ em bao gồm thai nhi.[8] Về mặt sinh học, một đứa trẻ là bất kỳ ai trong giai đoạn phát triển của tuổi thơ ấu, giữa sơ sinhtrưởng thành. Trẻ em nhìn chung có ít quyền hơn người lớn và được xếp vào nhóm không để đưa ra những quyết định quan trọng, và về mặt luật pháp phải luôn có người giám hộ.

Công nhận thời thơ ấu như là một trạng thái khác nhau từ bắt đầu tuổi trưởng thành xuất hiện trong các thế kỷ 16 và 17. Xã hội đã bắt đầu liên quan đến trẻ em không phải là một người lớn thu nhỏ nhưng là một người của một cấp dưới của sự trưởng thành cần người lớn bảo vệ, thương yêu và nuôi dưỡng. Sự thay đổi này có thể được xem xét trong các bức tranh: Trong thời Trung cổ, trẻ em được mô tả trong nghệ thuật như người lớn thu nhỏ với không có đặc điểm trẻ con. Trong thế kỷ 16, hình ảnh của trẻ em bắt đầu có sự khác biệt về yếu tố trẻ con. Từ cuối thế kỷ 17 trở đi, trẻ em đã được hiển thị qua các trò chơi. Đồ chơi và văn học cho trẻ em cũng bắt đầu phát triển vào thời điểm này.[9]

Những thái độ về trẻ em[sửa | sửa mã nguồn]

Bức họa A Calling của họa sĩ Pháp Bouguereau

Các thái độ xã hội về trẻ em thay đổi trên khắp thế giới tuỳ theo nền văn hoá. Những thái độ đó đã thay đổi theo thời gian. Một cuộc nghiên cứu năm 1988 về thái độ của châu Âu về tính trung tâm của trẻ em phát hiện rằng Italia là quốc gia đề cao tính trung tâm của trẻ em nhất và Hà Lan ít đề cao nhất, với các quốc gia khác, như Áo, Anh Quốc, Ireland và Tây Đức nằm ở giữa.[10]

Tuổi chịu trách nhiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Trẻ em tại Jerusalem

Độ tuổi theo đó trẻ em bị coi là phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình cũng thay đổi theo thời gian, và nó được phản ánh theo cách chúng được đối xử tại các phiên toà của pháp luật. Thời La Mã, trẻ em bị coi là không có lỗi về các tội phạm, một lập trường sau này được Nhà thờ chấp nhận. Ở thế kỷ 19, trẻ em chưa tới bảy tuổi được cho là không phải chịu trách nhiệm về tội lỗi. Trẻ em từ bảy tuổi trở lên bị coi là phải chịu trách nhiệm về hành vi. Vì thế, chúng có thể phải đối mặt với các trách nhiệm tội phạm, bị gửi tới nhà tù của người lớn, và bị trừng trị như người lớn như đánh roi, đóng dấu ô nhục hay treo cổ.[11] Ngày nay, ở nhiều quốc gia như Canada và Hoa Kỳ, trẻ em từ 12 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm cho hành động của chúng và có thể được gởi tới trung tâm giáo dục đặc biệt giống như các trường giáo dưỡng của Việt Nam cho trẻ vị thành niên.

Những cuộc điều tra đã phát hiện ra rằng ít nhất 25 quốc gia trên thế giới không có độ tuổi quy định cho giáo dục phổ cập. Độ tuổi lao động tối thiểu và độ tuổi kết hôn tối thiểu cũng khác biệt. Tại ít nhất 125 quốc gia, trẻ em trong độ tuổi 7-15 có thể bị đưa ra toà và có thể bị bỏ tù vì các hành động tội phạm. Ở một số quốc gia, trẻ em bị buộc phải tới trường cho tới khi 14 hay 15 tuổi, nhưng cũng có thể làm việc trước độ tuổi đó. Quyền tiếp cận giáo dục của trẻ em có thể bị đe doạ vì việc kết hôn sớm, lao động trẻ em và việc bỏ tù.[12]

Sự hoà nhập xã hội của trẻ em[sửa | sửa mã nguồn]

Trẻ em tại Namibia

Tất cả trẻ em đều trải qua các giai đoạn phát triển xã hội. Một đứa bé hay một đứa trẻ rất ít tuổi có thể chơi một mình một cách hạnh phúc. Nếu một đứa trẻ khác đi tới, nó có thể bị tấn công thân thể hay bị đẩy đi. Sau đó, đứa trẻ có thể chơi với đứa trẻ khác, dần học cách chia sẻ và chờ đợi. Cuối cùng nhóm phát triển lớn hơn, tới ba hay bốn đứa trẻ. Tới khi đứa trẻ vào trường mẫu giáo, nó thường sẽ vui vẻ gia nhập và có trải nghiệm với nhóm.[13]

Trẻ em với ADHD và không có khả năng học có thể cần sự giúp đỡ đặc biệt để phát triển các khả năng xã hội. Các đặc điểm bốc đồng của một đứa trẻ ADHD có thể dẫn tới quan hệ đồng tuổi kém. Trẻ em có khoảng chú ý kém có thể không hoà nhập vào các quy tắc xã hội trong môi trường của chúng, khiến chúng khó học được các kỹ năng xã hội thông qua kinh nghiệm.[13]

Các tác giả viết nhiều về trẻ em[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà văn[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Child”. TheFreeDictionary.com. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2013. 
  2. ^ “Child”. Oxford English Dictionary. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2013. 
  3. ^ “For example, the US Social Security department specifically defines an adult child as being over 18”. Ssa.gov. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2013. 
  4. ^ “American Heritage Dictionary”. 7 tháng 12 năm 2007. 
  5. ^ “Convention on the Rights of the Child”. Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights.  Ratified by 192 of 194 member countries.
  6. ^ "Convention on the Rights of the Child" The Policy Press, Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights
  7. ^ "Yêu" như thế nào là phạm tội?, 24H.COM.VN, ngày 10/10/2011
  8. ^ See Shorter Oxford English Dictionary 397 (6th ed. 2007), which's first definition is "A fetus; an infant;...". See also ‘The Compact Edition of the Oxford English Dictionary: Complete Text Reproduced Micrographically’, Vol. I (Oxford University Press, Oxford 1971): 396, which defines it as: ‘The unborn or newly born human being; foetus, infant’.
  9. ^ . “Essays on childhood”. Elizabethi.org. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2013. 
  10. ^ Rachel K. Jones and April Brayfield, Life's greatest joy?: European attitudes toward the centrality of children. Social Forces, Vol. 75, No. 4, Jun 1997. 1,239-69 pp. Chapel Hill, North Carolina.
  11. ^ Fikadu Satena. “Juvenile courts”. Law.jrank.org. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2013. 
  12. ^ Melchiorre, A. (2004) At What Age?...are school-children employed, married and taken to court?
  13. ^ a ă Socialization stages

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]