Tâm lý học phát triển

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tâm lý học phát triển là một ngành khoa học nghiên cứu về những thay đổi tâm lý, cảm xúc và nhận thức diễn ra trong suốt tiến trình phát triển con người qua những chặng đường đời khác nhau. Bắt đầu khảo xét từ tuổi ấu thơtrẻ em rồi mở rộng đến tuổi thanh thiếu niên, sự phát triển ở những người thành niên, lão niên cũng như toàn bộ diễn trình đời người. Chuyên ngành tâm lý này khảo xét trên một phổ rộng lớn với các chủ đề gồm những kỹ năng vận động và các quá trình tâm lý khác; sự phát triển nhận thức bao gồm các vấn đề như giải quyết nan đề, nhận thức đạo đức và quy phạm; lĩnh hội ngôn ngữ; sự phát triển về xúc cảm, nhân cách và xã hội; sự tự nhận thức và xác lập bản sắc. Có ba nội dung chính yếu cần xem xét khi phân tích về tâm lý trẻ em là: bối cảnh xã hội, văn hóa và kinh tế xã hội. Tâm lý học phát triển bao gồm các vấn đề liên quan tới quan điểm sự phát triển là mang bản chất tích lũy dần về kiến thức đối nghịch với quan điểm phát triển theo các giai đoạn tách biệt, hay hướng tới quan điểm về trẻ em sinh ra đã có những cấu trúc tâm trí bẩm sinh đối lập với quan điểm về quá trình học hỏi qua trải nghiệm. Nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm tới sự tương tác giữa các phẩm chất cá nhân, hành vi cá nhân và các yếu tố môi trường bao gồm cả bối cảnh xã hội, cũng như những tác động của các yếu tố này tới sự phát triển; một số khác lại tập trung vào các phương pháp tiếp cận khu biệt hơn.

Tâm lý học phát triển có thể ứng dụng trong các lĩnh vực như: tâm lý học giáo dục, tâm bệnh học trẻ em, tâm lý học phát triển pháp lý. Chuyên ngành này cũng bổ sung nền tảng nghiên cứu cho các lĩnh vực khác trong tâm lý học như tâm lý học xã hội, tâm lý học nhận thức, tâm lý sinh thái họctâm lý học so sánh. Tâm lý học phát triển là một ngành khoa học nghiên cứu về những thay đổi tâm lý, cảm xúc và nhận thức diễn ra trong suốt tiến trình phát triển con người qua những chặng đường đời khác nhau. Bắt đầu khảo xét từ tuổi ấu thơ và trẻ em rồi mở rộng đến tuổi thanh thiếu niên, sự phát triển ở những người thành niên, lão niên cũng như toàn bộ diễn trình đời người. Chuyên ngành tâm lý này khảo xét trên một phổ rộng lớn với các chủ đề gồm những kỹ năng vận động và các quá trình tâm lý khác; sự phát triển nhận thức bao gồm các vấn đề như giải quyết nan đề, nhận thức đạo đức và quy phạm; lĩnh hội ngôn ngữ; sự phát triển về xúc cảm, nhân cách và xã hội; sự tự nhận thức và xác lập bản sắc. Có ba nội dung chính yếu cần xem xét khi phân tích về tâm lý trẻ em là: bối cảnh xã hội, văn hóa và kinh tế xã hội. Tâm lý học phát triển bao gồm các vấn đề liên quan tới quan điểm sự phát triển là mang bản chất tích lũy dần về kiến thức đối nghịch với quan điểm phát triển theo các giai đoạn tách biệt, hay hướng tới quan điểm về trẻ em sinh ra đã có những cấu trúc tâm trí bẩm sinh đối lập với quan điểm về quá trình học hỏi qua trải nghiệm. Nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm tới sự tương tác giữa các phẩm chất cá nhân, hành vi cá nhân và các yếu tố môi trường bao gồm cả bối cảnh xã hội, cũng như những tác động của các yếu tố này tới sự phát triển; một số khác lại tập trung vào các phương pháp tiếp cận khu biệt hơn. Tâm lý học phát triển có thể ứng dụng trong các lĩnh vực như: tâm lý học giáo dục, tâm bệnh học trẻ em, tâm lý học phát triển pháp lý. Chuyên ngành này cũng bổ sung nền tảng nghiên cứu cho các lĩnh vực khác trong tâm lý học như nghiên cứu về tâm lý học xã hội, tâm lý học nhận thức, tâm lý sinh thái học và tâm lý học so sánh.

Các phương pháp tiếp cận[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều trường phái lý thuyết đã tìm cách lý giải sự phát triển, trong đó có các quan điểm nổi bật nhất của: Jean Piaget với lý thuyết các giai đoạn phát triển nhận thức, Lev Vygotsky với quan điểm tạo sinh xã hội (và những dòng kế thừa như lý thuyết Văn Hóa trong phát triển của Michael Cole, thuyết hệ sinh thái của Urie Bronfenbrenner), thuyết học tập xã hội của Albert Bandura, và quan điểm cơ bản về quá trình xử lý thông tin trong tâm lý học nhận thức. Xét trong phạm vi hẹp hơn, lịch sử các lý thuyết tiếp tục được phát triển từ các công trình nghiên cứu bổ sung khác. Trong đó phải kể tới 8 giai đoạn phát triển tâm lý xã hội của Erik Erikson và Chủ nghĩa hành vi do John B. Watson sáng lập và B. F. Skinner phát triển (để hiểu hơn về vai trò của chủ nghĩa hành vi, bạn có thể tham chiếu về phân tích hành vi trong sự phát triển của trẻ). Ngoài ra còn nhiều nhánh lý thuyết khác đã đóng góp không nhỏ vào các khía cạnh phát triển đặc thù khác, như lý thuyết gắn bó mô tả về các dạng thức quan hệ liên cá nhân, và thuyết về các giai đoạn nhận thức đạo đức của Lawrence Khlberg.

Các lý thuyết và lý thuyết gia[sửa | sửa mã nguồn]

Các lý thuyết về phát triển theo giai đoạn

  • John Bowlby, Harry Harlow, Mary Ainsworth: thuộc dòng lý thuyết gắn bó
  • Urie Bronfenbrenner: dòng lý thuyết về sinh thái xã hội trong phát triển tâm lý người
  • Jerome Bruner: Nhận thức (chủ nghĩa cấu trúc); thuyết học tập/mô tả cấu trúc thực tại
  • Erik Erikson: các giai đoạn phát triển tâm lý-xã hội
  • Sigmund Freud: các giai đoạn phát triển tâm-tính dục
  • Jerome Kagan: người tiên phong trong tâm lý học phát triển
  • Jean Matter Mandler: lý thuyết phát triển sớm về quá trình tư duy tiền khái niệm
  • Lawrence Kohlberg: các giai đoạn phát triển đạo đức
  • Jean Piaget: lý thuyết về phát triển nhận thức, nhận thức luận bẩm sinh
  • Lev Vygotsky: thuyết tạo sinh xã hội, các vùng phát triển gần nhất
  • Reuven Feuerstein: lý thuyết về điều chỉnh cấu trúc nhận thức
  • Judith Rich Harris: Mẫu thức phát triển xã hội
  • Eleanor Gibson: tâm sinh thái học
  • Robert Kegan: phát triển ở tuổi thành niên
  • Watson, Skinner, Bandura: thuyết hành vi và thyết học tập xã hội

Lý thuyết về các giai đoạn phát triển nhận thức của Jean Piaget[sửa | sửa mã nguồn]