Quản trị kinh doanh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


Quản trị kinh doanh là việc thực hiện các hành vi quản trị quá trình kinh doanh để duy trì, phát triển công việc kinh doanh của một hoặc một số doanh nghiệp trong một ngành nào đó.

Trong kinh doanh, quản trị bao gồm việc cân nhắc, tạo ra hệ thống, quy trìnhtối đa hóa "hiệu suất" hoặc/ và "quản lý hoạt động kinh doanh" bằng quá trình tư duy và ra quyết định của nhà quản lý. Quản lý có thể được định nghĩa là quá trình phổ quát của con người và tổ chức nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để hoạt động và đạt được các mục tiêu.

Quản trị viên là danh hiệu chung chỉ các cấp, các chức danh quản lý của các công ty hoặc quản lý chung, các thư ký; người báo cáo cho Ban giám đốc. Đây là chức danh, nhưng trong nhiều doanh nghiệp, chức danh này liên quan đến quản lý tài chính, nhân sự và quản lý hệ thống thông tin dịch vụ là để thể hiện vai trò "quản lý" chung.

Trong một số tổ chức, phân tích, quản lý được xem như một nhóm các thủ tục hành chính, cụ thể kết hợp với các kỹ thuật và các yếu tố trong một tổ chức hoạt động của. Nó đứng phân từ chiến lược điều hành hay làm việc.

Chức năng quản trị[sửa | sửa mã nguồn]

Chúng ta sẽ Định nghĩa về quản trị trước khi nghiên cứu đến chức năng quản trị: Quản trị là sự tác động liên tục có chủ đích của chủ thể quản trị lên đối tượng bị quản trị nhằm mục đích đạt được các mục tiêu đã đặt ra.

Quản trị viên, nói chung, tham gia vào một bộ máy chức năng để cùng đạt được các mục tiêu của tổ chức. Những chức năng quản trị là: Hoạch định, Tổ chức thực hiện, Điều khiển - Chỉ Huy, Kiểm tra - Giám sát và Điều chỉnh. Ngày nay, rất nhiều nghiên cứu xoay quanh các chức năng của Quản trị, và nó có thể tóm lược thành năm chức năng cơ bản và quan trọng: Hoạch định, Tổ chức thực hiện, Điều khiển - Chỉ Huy, Kiểm tra - Giám sát và Điều chỉnh.

Vậy quản trị có các chức năng sau:

Hoạch định[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Chức năng Tổ chức bao gồm quá trình xác định những nhiệm vụ phải được thực hiện, người thực hiện các nhiệm vụ đó, cách thức phân nhóm các nhiệm vụ, ai sẽ phải báo cáo cho ai, và cấp nào sẽ được ra quyết định

Điều khiển chỉ huy[sửa | sửa mã nguồn]

Như ta đã biết, mỗi tổ chức bao giờ cũng có yếu tố con người và công việc của nhà quản trị là làm thế nào để đạt được mục tiêu của tổ chức bằng và thông qua người khác. Đây chính là chức năng lãnh đạo. Khi các quản trị viên khích lệ các nhân viên cấp dưới của mình, tạo ảnh hưởng đến từng cá nhân hay tập thể lúc họ làm việc, lựa chọn kênh thông tin hiệu quả nhất hay giải quyết các vấn đề liên quan đến hành vi của nhân viên thì các nhà quản trị đang thực hiện chức năng lãnh đạo.

Kiểm tra - Giám Sát[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi các mục tiêu được xác lập, các kế hoạch được hoạch định, cơ cấu tổ chức được xác định và nhân viên được tuyển dụng, đào tạo và khuyến khích làm việc thì sai sót vẫn có thể xảy ra. Để đảm bảo cho mọi việc đi đúng hướng, nhà quản trị phải giám sát và đánh giá kết quả công việc. Kết quả thực tế phải được so sánh với những mục tiêu đã xác lập trước đó để nhà quản trị có thể đưa ra những hoạt động cần thiết, đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức đi đúng quỹ đạo. Quá trình giám sát, so sánh, và hiệu chỉnh là nội dung của chức năng kiểm soát.

Điều chỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

Thông qua chức năng Kiểm tra - Kiểm Soát nhà quản trị sẽ biết được mục tiêu nào đạt, chưa đạt để điều chỉnh cho hợp lý với sự thay đổi nhằm hoàn thành mục đích tổng thể đã đặt ra của tổ chức.

Vai trò của nhà Quản trị đối với Doanh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Vai trò quan hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả các nhà Quản trị luôn phải thực hiện những tác vụ có liên quan đến mọi người xung quanh (cấp dưới, người ngoài tổ chức) và các công việc khác mang tính chất nghi thức và biểu tượng. Đó là các vai trò Quan hệ hay Liên kết. Doanh nghiệp có được hình ảnh tốt đẹp đối với nhân viên và đối tác hay không phụ thuộc một phần không nhỏ vào vai trò này của nhà Quản trị

Vai trò thông tin[sửa | sửa mã nguồn]

Ở bất kỳ góc độ nào, tất cả các nhà quản trị đều có vai trò Thông tin gồm: Tiếp nhận, thu thập và phổ biến thông tin. Với vai trò này, người quản trị thu nhận, phân loại, và cung cấp thông tin cần thiết cho những đối tượng phù hợp. Vai trò này bao gồm: Theo dõi thông tin, phổ biến thông tin, và đại diện phát ngôn

Vai trò Ra quyết định[sửa | sửa mã nguồn]

Vai trò này xoay quanh việc đưa ra những quyết định. Đây là vai trò rất quan trọng của nhà Quản trị. Thành công hay thất bại của Doanh nghiệp là ở vai trò này của Nhà Quản trị, bao gồm vai trò của người khởi xướng, Người xử lý các xáo trộn, người phân bổ nguồn lực và người đàm phán, thương lượng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]