Bộ máy quan liêu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Bộ máy quan liêu là bộ máy của tổ chức xã hội, mà hoạt động của nó được phân chia thành các vai trò, các vai trò này được xác định bởi những quy tắc, thủ tục và được sắp xếp vào một thứ bậc quyền lực. Trong ngôn ngữ thường ngày, thuật ngữ "Bộ máy quan liêu" thường được dùng với nghĩa xấu. Theo nhà lý thuyết xã hội học người Đức Max Weber (1864-1920), các tổ chức xã hội theo mô hình bộ máy quan liêu có ý nghĩa tích cực trong quá trình tổ chức và vận hành xã hội. Các tổ chức này có cấu trúc như vậy vì chúng muốn hợp lý hóa cách tổ chức hoạt động, một xu hướng của xã hội hiện đại. Xu hướng hợp lý hóa tổ chức hoạt động thể hiện ở bước chuyển mạnh mẽ từ cách thực hiện công việc tự phát, thiếu kế hoạch, định hướng giá trị truyền thống sang cách làm việc có hệ thống, được tổ chức theo quy tắc, luật lệ, định hướng mục đích và duy lý.[1]

Đặc trưng của Bộ máy quan liêu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sự phân công lao động được xác định theo quy định, theo luật. Trong một Cục, Vụ của một Bộ, những chức vụ như giám đốc, phó giám đốc, tổng trưởng phòng, trưởng bộ phận được xác định theo quy định của cục, bộ và của chính phủ.
  • Hệ thống ban hành mệnh lệnh theo thứ bậc từ trên xuống dưới với nhiều cấp độ khác nhau. Nghĩa là, một người đồng thời là cấp dưới của một người, nhưng lại là cấp trên của những người khác.
  • Hệ thống văn phòng, hành chính công khai, được bổ sung những file tài liệu viết, có thể cả một cơ quan trong đó những công việc của tổ chức được mô tả và lưu giữ.
  • Quy trình đào tạo chính thức cho các công việc trong tổ chức. Ví dụ, việc đào tạo nhân viên văn phòng sẽ đơn giản hơn và ngắn hơn so với việc tự học hỏi qua kinh nghiệm bản thân.
  • Các thành viên cống hiến toàn bộ sự quan tâm và sức lực cho hoạt động của tổ chức và coi đó là một sự nghiệp, một nghề nghiệp.
  • Các quy định hoặc chính thức ít nhiều ổn định có thể học được và tuân theo một cách dễ dàng. Các quy định này điều chỉnh và định hướng công việc cho các thành viên. Ví dụ, quy định nghỉ giữa giờ làm việc cho công nhân làm ca.
  • Có sự trung thành của thành viên với tổ chức.

Các đặc trưng của bộ máy quan liêu giúp cho tổ chức có thể kiểm soát và điều phối hành động của các thành viên. Đây là yếu tố then chốt để tạo ra hiệu quả và năng suất vượt trội của tổ chức quan liêu so với bất kỳ một loại tổ chức xã hội nào khác. Tuy nhiên, bộ máy quan liêu cũng tạo ra một sản phẩm đặc trưng gọi là "sự bị tha hóa" - Karl Marx (1818-1883).[1]

Quá trình phát triển của Bộ máy quan liêu[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ máy quan liêu không chỉ có trong xã hội hiện đại, mà nó đã tồn tại trong các xã hội Ai Cập, Trung Quốc, La Mã cổ đại từ xa xưa, v.v... Cùng với cuộc cách mạng công nghiệp, bộ máy quan liêu xuất hiện và phát triển mạnh mẽ ở các nước phương Tây. Và quan liêu lại đẻ ra quan liêu thể hiện thành xu hướng tách những nhiệm vụ lớn thành những nhiệm vụ nhỏ hơn. Mỗi một nghề nghiệp được chuyên môn hóa và những đòi hỏi, tiêu chuẩn cũng chặt chẽ và nghiêm khắc hơn. Để đạt được những đòi hỏi, tiêu chuẩn của nghề nghiệp, người lao động phải học qua các trường lớp nhất định, nghĩa là phải được đào tạo trong những bộ máy quan liêu.[2]

Các tổ chức lúc mới ra đời thường còn nhỏ, nhưng càng về sau càng lớn dần lên và có xu hướng trở thành tổ chức độc quyền, nhất là trong kinh tế. Các công ty nhỏ không thể cạnh tranh được với các tổ chức quan liêu đó. Nhằm tạo môi trường cạnh tranh tự do lành mạnh, chính phủ phải lập ra các cơ quan điều phối; điều này đã dẫn đến hình thành bộ máy quan liêu mới. Do đó cho thấy rằng, quan liêu là hiện tượng của nhiều tổ chức trong nhiều chế độ xã hội khác nhau, và gắn bó chặt chẽ với xu hướng hợp lý hóa hoạt động của con người.

Hai nguyên nhân làm cho Bộ máy quan liêu phát triển
  • Năng suất và hiệu quả;
  • Quyền lực.
Các chức năng của những quy định trong Bộ máy quan liêu
  • Giao tiếp;
  • Điều khiển từ xa;
  • Sự trừng phạt;
  • Tạo độ co giãn trong quản lý.[3]

Nhược điểm của tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Nhược điểm của tổ chức
  • Bất ổn định, không chắc chắn;
  • Quy mô tổ chức, tính phức tạp và tính không hiệu quả.
Bệnh lý của tổ chức
  • Phục tùng mù quáng và lạm dụng quyền lực tổ chức;
  • Xung đột trong tổ chức.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Một vài vấn đề về xã hội học và nhân loại học (bằng tiếng Việt). Hà Nội: Nhà Xuất bản Khoa học xã hội.  Đã bỏ qua tham số không rõ |biên tập= (trợ giúp);
  2. ^ Nguyễn Quang A (12 tháng 6 năm 2009). “Ước chi Việt Nam có bộ máy quan liêu” (bằng tiếng Việt). Báo Tiền Phong. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2010. 
  3. ^ Bộ máy quan liêu - nguồn gốc, đặc điểm và tương lai phát triển (HTML) (bằng tiếng Việt). Reportshop. 4 tháng 8 năm 2010 [2010]. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |biên tập= (trợ giúp)

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Albrow, Martin. Bureaucracy. London: Macmillan, 1970.
  • On Karl Marx: Hal Draper, Karl Marx's Theory of Revolution, Volume 1: State and Bureaucracy. New York: Monthly Review Press, 1979.
  • Marx comments on the state bureaucracy in his Critique of Hegel's Philosophy of Right and Engels discusses the origins of the state in Origins of the Family.
  • Ernest Mandel, Power and Money: A Marxist Theory of Bureaucracy. London: Verso, 1992.
  • On Weber: Watson, Tony J. (1980). Sociology, Work and Industry. Routledge. ISBN 0-415-32165-4. 
  • Neil Garston (ed.), Bureaucracy: Three Paradigms. Boston: Kluwer, 1993.
  • Chowdhury, Faizul Latif (2006), Corrupt Bureaucracy and Privatization of Tax Enforcement. Dhaka: Pathak Samabesh, ISBN 984-8120-62-9.
  • Ludwig von Mises, Bureaucracy, Yale University Press, 1962. Liberty Fund (2007), ISBN 978-0-86597-663-4
  • Weber, Max. The Theory of Social and Economic Organization. Translated by A.M. Henderson and Talcott Parsons. London: Collier Macmillan Publishers, 1947.
  • Wilson, James Q. (1989). Bureaucracy. Basic Books. ISBN 0-465-00785--6. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]