Jean-Jacques Rousseau

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Jean-Jacques Rousseau
Jean-Jacques Rousseau (painted portrait).jpg
Rousseau năm 1753, tranh bởi Maurice Quentin de La Tour
Sinh 28 tháng 6, 1712(1712-06-28)
Geneva, Cộng hòa Geneva
Mất 2 tháng 7, 1778 (66 tuổi)
Ermenonville, Vương quốc Pháp
Thời đại Triết học thế kỷ 18
(Triết học hiện đại)
Lĩnh vực Triết học phương Tây
Trường phái Học thuyết khế ước xã hội
Chủ nghĩa lãng mạn
Sở thích Triết học chính trị, âm nhạc, giáo dục, văn học, tự truyện
Chữ ký Jean-Jacques Rousseau Signature.svg

Jean-Jacques Rousseau, phiên âm tiếng ViệtGiăng Giắc Rút-xô (17121778), sinh tại Geneva, là một nhà triết học thuộc trào lưu Khai sáng có ảnh hưởng lớn tới Cách mạng Pháp 1789, sự phát triển của lý thuyết xã hội, và sự phát triển của chủ nghĩa dân tộc. Rousseau cũng có nhiều đóng góp cho âm nhạc cả trên phương diện lý luận và sáng tác. Ông cũng là người sáng tạo nên cách viết tiểu sử kiểu hiện đại với trọng tâm được đặt vào tính chủ thể. Ông cũng viết tiểu thuyết và đóng góp quan trọng cho trào lưu lãng mạn trong văn học.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Rouseau rời Geneva năm 1728 sau nhiều năm học việc nghề thư ký và tới thủ đô Paris năm 1742. Là thư ký cho Đại sứ Pháp tại Venezia từ 1743-1744. Sau đó ông về Pháp và có năm con với Thérèse Levasseur nhưng ông đều bỏ cho trại trẻ mồ côi nuôi. Trong thời gian này ông làm bạn với Diderot và có đóng góp cho tập Bách khoa thư với các bài về âm nhạc và quan trọng nhất là bài về kinh tế chính trị viết năm 1755.

Năm 1754, Rousseau quay về Geneva và bắt đầu cho ra đời tác phẩm Đối thoại về Nguồn gốc và Cơ sở của Sự Bất bình đẳng của Con người năm 1755. Do viết nhiều tiểu thuyết đả kích tôn giáo, ông buộc phải rời sang BernMôtiers (Thụy Sĩ), nơi ông viết Đề án Hiến Pháp cho đảo Corse và tiếp tục phải tị nạn với nhà triết học David Hume tại Anh Quốc. Ông về Pháp năm 1767 và cưới Thérèse năm 1768, đến 1770 ông trở về thủ đô Paris. Ông tiếp tục viết nhưng các tác phẩm chỉ được xuất bản sau khi ông qua đời vì xuất huyết não vào ngày 2 tháng 7 năm 1778.

Triết học[sửa | sửa mã nguồn]

Tự nhiên và xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Rousseau nhận thấy có sự phân chia về bản chất giữa xã hộibản chất tự nhiên của con người. Ông cho rằng loài người là tốt về bản chất nếu sống ở trạng thái tự nhiên và rằng con người bị tha hóa bởi chính xã hội. Ông cho xã hội là nhân tạo và sự phát triển phụ thuộc lẫn nhau trong xã hội là cản trở đối với chất lượng cuộc sống của loài người.

Trong "Đối thoại giữa Khoa học và Nghệ thuật", Rousseau tranh luận rằng cả khoa họcnghệ thuật đều không bổ ích cho con người. Tiếp theo, trong Bàn về Bất bình đẳng, ông tiếp tục theo vết tiến trình tha hóa của loài người từ trạng thái tự nhiên nguyên thủy lên xã hội hiện đại. Khi loài người buộc phải gắn kết với nhau chặt chẽ hơn, cũng là khi loài người trải qua quá trình ngày càng phụ thuộc lẫn nhau do phân chia lao động và dẫn đến bất bình đẳng, và do vậy cần phải có khế ước xã hội..

Học thuyết chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Khế ước Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Khế ước xã hội là tác phẩm phác họa trật tự chính trị hợp lý của ông. Xuất bản năm 1762, tác phẩm đã có nhiều ảnh hưởng tới triết học phương Tây. Rousseau cho rằng trạng thái tự nhiên bị tha hóa trở thành một tình trạng dã man không còn luật pháp hay đạo đức, nên loài người cần một thể chế để tồn tại, vì bên cạnh đó, sự cạnh tranh lẫn nhau loài người cũng phụ thuộc vào nhau. Theo Rousseau, bằng cách sát cánh bên nhau thông qua một khế ước xã hội và từ bỏ các quyền tự nhiên, cá nhân sẽ giải thoát cả hai áp lực nói trên, tức là vẫn tồn tại và vẫn tự do. Bởi vì khi đã trao quyền lực cho những người đại diện cho nguyện vọng và ý chí chung của quảng đại quần chúng, thì chính điều này đảm bảo cho cá nhân khỏi bị lệ thuộc vào ý chí của các cá nhân khác.

Mặc dù ông cho rằng chủ quyền phải thuộc về nhân dân, nhưng ông lại phân biệt chủ quyền và chính quyền. Chính quyền là người thực hiện chủ quyền, tức ý chí và nguyện vọng chung của quảng đại quần chúng. Tuy chính quyền chỉ là một phần nhỏ trong dân chúng, nhưng lại là những người nắm vững pháp luật nhất, họ chính là các quan tòa - những người áp đặt việc thực thi ý chí nguyện vọng chung của dân chúng. Ông cho rằng luật pháp phải do dân chúng trực tiếp lập ra, thay vì được lập ra thông qua các cơ quan đại diện.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Quan điểm giáo dục của Rousseau được thể hiện qua cuốn tiểu thuyết Emile (Ê-min). Trong đó Emile trải qua giai đoạn giáo dục đầu tiên đến năm 12 tuổi, giáo dục giai đoạn này về bản chất là hoàn toàn tự nhiên. Giai đoạn hai từ 12 đến 16 là giai đoạn lý tính bắt đầu phát triển. Và giai đoạn cuối cùng là từ 15 tuổi trở đi để đứa trẻ tiếp tục phát triển thành người lớn. Ông cho rằng mục đích của giáo dục là học cách sống và điều này có thể đạt được khi có người bảo trợ chỉ dẫn con đường đi để có cuộc sống tốt đẹp.

Tuy nhiên, quan điểm của Rousseau cho giáo dục trẻ em nữ lại không như vậy. Sophie, người yêu của Emile, được giáo dục để tuân theo sự chỉ bảo của chồng, trong khi Emile được giáo dục để tự quyết định lấy cuộc sống của mình.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Từng cải sang Công giáo Rôma lúc còn trẻ rồi quay trở lại với nền giáo thuyết Calvin khổ hạnh của cố hương Geneva như một phần trong giai đoạn cải cách luân lí của mình, Rousseau - xuyên suốt quãng đời còn lại - duy trì việc tuyên tín triết lý tôn giáo đó và coi John Calvin là một nhà lập pháp hiện đại.[1] Tuy vậy, các quan điểm về tôn giáo được trình bày trong các tác phẩm triết học của ông có thể khiến một số người ấn tượng rằng chúng đối nghịch với giáo lý của cả Công giáo và chủ thuyết Calvin.

Tuy nhiên, vào thời đó, sự tán thành khoan dung tôn giáo mạnh mẽ của Rousseau, như được thể hiện qua vị mục sư xứ Savoyard trong cuốn Émile, đã bị suy diễn là ủng hộ cho chủ nghĩa lãnh đạm - một lạc thuyết, dẫn đến việc sách của ông bị lên án ở cả Geneva theo Calvin thuyết và Paris theo Công giáo. Việc ông khẳng định trong Khế ước xã hội rằng các môn đệ đích thực của Đức Giêsu sẽ không là những công dân tốt có thể là lí do khác cho việc lên án ông ở Geneva.

Không giống với các triết gia Khai sáng triệt để khác, Rousseau khẳng định sự cần thiết của tôn giáo. Nhưng ông bác bỏ giáo lý về tội nguyên tổ, điều đóng vai trò quan trọng trong chủ thuyết Calvin (trong Émile, Rousseau viết "không có sự lầm lạc nguyên thủy trong trái tim con người").[2]

Vào thế kỷ 18, nhiều nhà thần giáo tự nhiên coi Thiên Chúa chỉ thuần túy là một đấng tác tạo vũ trụ trừu tượng và phi vị cách, mà họ xem giống như một cỗ máy khổng lồ. Thần giáo tự nhiên của Rousseau khác biệt với kiểu thông thường trong tính xúc cảm nồng nhiệt của nó. Ông nhận thấy sự hiện diện của Thiên Chúa qua tạo vật của ngài, bao gồm loài người - mà tách khỏi ảnh hưởng gây hại của xã hội - thì tốt đẹp, bởi vì Thiên Chúa thì tốt lành. Việc Rousseau gắn kết một giá trị tinh thần cho vẻ đẹp của tự nhiên đã thúc đẩy thái độ của chủ nghĩa lãng mạn thế kỷ 19 hướng về tự nhiên và tôn giáo.

Rousseau thấy phiền não rằng quan điểm thần giáo tự nhiên của mình bị lên án quá mạnh, trong khi những người trong nhóm philosophes vô thần hơn thì lại được lờ đi. Ông tự biện hộ trước những người chỉ trích quan điểm tôn giáo của ông trong "Thư gửi Christophe de Beaumont, Tổng giám mục Paris, trong đó ông khẳng định rằng tự do thảo luận về các vấn đề tôn giáo về bản chất thì có tính tôn giáo hơn so với nỗ lực áp đặt niềm tin bằng vũ lực."[3]

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Rousseau có ảnh hưởng lớn đến cuộc Cách mạng Pháp, mặc dù ý tưởng chủ quyền thuộc về toàn thể nhân dân được thực hiện qua hình thức đại diện thay vì trực tiếp. Ông cũng là một trong những tác giả đầu tiên phê phán thể chế tư hữu và được xem là bậc tiền bối của chủ nghĩa xã hội hiện đại và chủ nghĩa cộng sản khoa học. Ông cũng là người sớm đặt câu hỏi liệu ý chí nguyện vọng của đa số liệu có phải lúc nào cũng đúng và mục tiêu của chính quyền theo ông là phải đảm bảo tự do, bình đẳng và công bằng cho tất cả cho dù có phải là ý chí của đa số hay không. So với các nhà khai sáng đương thời như VoltaireMontesquieu, tư tưởng chính trị của Rousseau cấp tiến hơn.

Ông cũng cho rằng nguyên tắc cơ bản của triết học chính trịchính trịđạo đức không được tách rời. Khi nhà nước không thực hiện đúng theo giá trị đạo đức thì cũng không thể thực hiện đúng các chức năng của mình và cũng không thể có quyền lực đối với một cá nhân được nữa. Nguyên tắc quan trọng thứ hai là tự do mà nhà nước được lập ra để gìn giữ.

Quan niệm về giáo dục của Rousseau mà trong đó đối tượng của giáo dục chính là những đứa trẻ mạnh khỏe cả về thể chất và tinh thần, cũng như việc ông không xem trọng sự cần thiết của giáo dục qua sách vở, cũng như việc ông nhấn mạnh sự cần thiết phải giáo dục cảm xúc cho trẻ em trước khi giáo dục lý tính đã là tiền đề cho lý thuyết giáo dục hiện đại đặt trẻ em làm trung tâm.

Các tác phẩm của Rousseau đều thể hiện rằng thiên nhiên giúp con người hình thành nên bản chất của mình, giúp con người thống nhất để vượt qua sự tù đày và giam cầm của xã hội. Chính vì vậy, ông khẳng định sự cần thiết của việc con người về với tự nhiên, sự cần thiết đặt con người ở nơi nằm ngoài những ràng buộc của xã hội và những định kiến của văn minh. Và như vậy, ý tưởng của ông chính là Chủ nghĩa Lãng mạn, mặc dầu chính bản thân ông xem mình là người của phong trào Khai sáng.

Tác phẩm chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm được dịch sang tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Jean-Jacques Rousseau. Encyclopædia Britannica
  2. ^ il n'y a point de perversité originelle dans le cœur humain Émile, ou De l'éducation/Édition 1852/Livre II
  3. ^ Nguyên văn tiếng Pháp của toàn bức thư có trực tuyến tại: Lettre à Mgr De Beaumont Archevêque de Paris (1762)

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Abizadeh, Arash (2001). "Banishing the Particular: Rousseau on Rhetoric, Patrie, and the Passions" Political Theory 29.4: 556-82.
  • Babbitt, Irving ([1919] 1991). Rousseau and Romanticism. Edison, New Jersey: Transaction Publishers (Library of Conservative Thought)
  • Bertram, Christopher (2003). Rousseau and The Social Contract. London: Routledge.
  • Cassirer, Ernst (1945). Rousseau, Kant, Goethe. Princeton University Press.
  • Cassirer, Ernst ([1935]1989). The Question of Jean-Jacques Rousseau. Peter Gay, editor and translator. Series editor, Jacques Barzun. Yale University Press.
  • Conrad, Felicity (2008). "Rousseau Gets Spanked, or, Chomsky's Revenge." The Journal of POLI 433. 1.1: 1-24.
  • Cooper, Laurence (1999). Rousseau, Nature and the Problem of the Good Life. Pennsylvania: Pennsylvania State University Press.
  • Cottret, Monique and Bernard Cottret. Jean-Jacques Rousseau en son temps, Paris, Perrin, 2005.
  • Cranston, Maurice (1982). Jean-Jacques: The Early Life and Work. New York: Norton.
  • Cranston, Maurice (1991). The Noble Savage. Chicago: University of Chicago Press.
  • Cranston, Maurice (1997). The Solitary Self. Chicago: University of Chicago Press.
  • Damrosch, Leo (2005). Jean-Jacques Rousseau: Restless Genius. New York: Houghton Mifflin.
  • Deeb, Benjamin (2010). "The Free Man in Chains". Orange, CA: Zero Gravity Press (ISBN 0-452-28580-1).
  • Dent, Nicholas, J.H. (1988). Rousseau: An Introduction to his Psychological, Social, and Political Theory. Oxford: Blackwell.
  • Dent, Nicholas, J. H. (1992). A Rousseau Dictionary. Oxford: Blackwell.
  • Dent, Nicholas. (2005). Rousseau. London: Routledge.
  • Derathé, Robert.(1948). Le Rationalism de J.-J. Rousseau. Press Universitaires de France.
  • Derathé, Robert ([1950] 1988). Jean-Jacques Rousseau et la Science Politique de Son Temps. Paris: Vrin,
  • Derrida, Jacques (1976). Of Grammatology, trans. Gayatri Chakravorty Spivak. Baltimore: Johns Hopkins Press.
  • Einaudi, Mario (1968). Early Rousseau. Ithaca: Cornell University Press.
  • Ellingson, Ter. (2001). The Myth of the Noble Savage. Berkeley, CA: University of California Press.
  • Farrell, John (2006). Paranoia and Modernity: Cervantes to Rousseau. New York: Cornell University Press.
  • Garrard, Graeme (2003). Rousseau's Counter-Enlightenment: A Republican Critique of the Philosophes. Albany: State University of New York Press.
  • Gauthier, David (2006). Rousseau: The Sentiment of Existence. Cambridge: Cambridge University Press.
  • Hendel, Charles W. (1934). Jean-Jacques Rousseau: Moralist. 2 Vols. (1934) Indianapolis, IN: Bobbs Merrill.
  • de Jouvenel, Bertrand (1962). "Rousseau the Pessimistic Evolutionist." Yale French studies 27 83-96
  • Kateb, George (1961). "Aspects of Rousseau’s Political Thought," Political Science Quarterly, tháng 12 năm 1961.
  • Kitsikis, Dimitri (2006).Jean-Jacques Rousseau et les origines françaises du fascisme. Nantes: Ars Magna Editions.
  • LaFreniere, Gilbert F. (1990). "Rousseau and the European Roots of Environmentalism." Environmental History Review 14 (No. 4): 41-72
  • Lange, Lynda (2002). Feminist Interpretations of Jean-Jacques Rousseau. University Park: Penn State University Press.
  • Lovejoy, Arthur O. ([1923] 1948). "The Supposed Primitivism of Rousseau's 'Discourse on Inequality'". Modern Philology: XXI: 165-186. Reprinted in Essays in the History of Ideas (Baltimore: John Hopkins Press). "A classic treatment of the Second Discourse"—Nicholas Dent.
  • Marks, Jonathan (2005). Perfection and Disharmony in the Thought of Jean-Jacques Rousseau. Cambridge: Cambridge University Press.
  • Roger Masters (ed.), 1964. The First and Second Discourses by Jean-Jacques Rousseau, translated by Roger D Masters and Judith R Masters. New York: St. Martin's Press (ISBN 0-312-69440-7).
  • Roger Masters, 1968. The Political Philosophy of Rousseau. Princeton, N.J., Princeton University Press (ISBN 978-0-691-01989-5), also available in French (ISBN 2-84788-000-3).
  • Roger Masters (ed.), 1978. On the Social Contract, with the Geneva Manuscript and Political Economy by Jean-Jacques Rousseau, translated by Judith R Masters. New York: St Martin’s Press (ISBN 0-312-69446-6).
  • Melzer, Arthur (1990). The Natural Goodness of Man: On the System of Rousseau's Thought. Chicago: University of Chicago Press.
  • Pateman, Carole (1979). The Problem of Political Obligation: A Critical Analysis of Liberal Theory. Chichester: John Wiley & Sons.
  • Riley, Patrick (1970). "A Possible Explanation of the General Will". American Political Science Review 64:88
  • Riley, Patrick (1978). "General Will Before Rousseau". Political Theory, vol. 6, No. 4: 485-516.
  • Riley, Patrick (ed.) (2001). The Cambridge Companion to Rousseau. Cambridge: Cambridge University Press.
  • Robinson, Dave & Groves, Judy (2003). Introducing Political Philosophy. Icon Books. ISBN 1-84046-450-X.
  • Scott, John, T., editor (2006). Jean Jacques Rousseau, Volume 3: Critical Assessments of Leading Political Philosophers. New York: Routledge.
  • Simpson, Matthew (2006). Rousseau's Theory of Freedom. London: Continuum Books.
  • Simpson, Matthew (2007). Rousseau: Guide for the Perplexed. London: Continuum Books.
  • Starobinski, Jean (1988). Jean-Jacques Rousseau: Transparency and Obstruction. Chicago: University of Chicago Press.
  • Strauss, Leo (1953). Natural Right and History. Chicago: University of Chicago Press, chap. 6A.
  • Strauss, Leo (1947). "On the Intention of Rousseau," Social Research 14: 455-87.
  • Strong, Tracy B. (2002). Jean Jacques Rousseau and the Politics of the Ordinary. Lanham, MD: Rowman and Littlefield.
  • Talmon, Jacob R. (1952). The Origins of Totalitarian Democracy. New York: W. W. Norton.
  • Virioli, Maurizio ([1988] 2003). Jean-Jacques Rousseau and the 'Well-Ordered Society'. Hanson, Derek, translator. Cambridge University Press, 2003 ISBN 0-521-53138-1, 9780521531382
  • Williams, David Lay (2007). Rousseau’s Platonic Enlightenment. Pennsylvania State University Press.
  • Wokler, Robert (1995). Rousseau. Oxford: Oxford University Press.
  • Wraight, Christopher D. (2008), Rousseau's The Social Contract: A Reader's Guide. London: Continuum Books.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]