Gareth Bale

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Gareth Frank Bale
Gareth Bale July 2010.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Gareth Frank Bale[1]
Ngày sinh 16 tháng 7, 1989 (25 tuổi)
Nơi sinh Cardiff, Wales
Chiều cao 6 ft 0 in (1,83 m)
Vị trí Hậu vệ chạy cánh trái / Tiền vệ cánh trái
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Real Madrid
Số áo 11
CLB trẻ
2005–2006 Southampton
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
2006–2007 Southampton 40 (5)
2007–2013 Tottenham Hotspur 146 (42)
2013– Real Madrid 26 (14)
Đội tuyển quốc gia
2005–2006 U-17 Wales 4 (1)
2006 U-19 Wales 1 (0)
2006–2008 U-21 Wales 13 (3)
2006– Wales 44 (12)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 19:45, 4 tháng 2 năm 2011 (UTC).

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 16:00, 4 tháng 2 năm 2011 (UTC)

Gareth Frank Bale (sinh ngày 16 tháng 7 năm 1989) là cầu thủ bóng đá người xứ Wales hiện chơi cho câu lạc bộ Real Madridđội tuyển bóng đá quốc gia Wales. Anh có thể thi đấu ở cả vị trí hậu vệ cánh trái lẫn tiền vệ cánh trái. Nhờ tốc độ và kỹ thuật tốt mà anh đã được gọi vào đội tuyển quốc gia khi mới 17 tuổi.

Năm 2013, Bale chuyển sang Real Madrid từ Tottenham Hotspur với mức giá chuyển nhượng lập kỷ lục thế giới là 77 triệu bảng Anh tương đương gần 97 triệu euro.

Tuổi thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Gareth Bale được sinh ra ở Cardiff và có bố là Frank, mẹ là Debbie[2]; anh học ở trường cấp một Eglwys Newydd ở Whitchurch.[3] Anh là cháu của cựu cầu thủ Cardiff City Chris Pike.[4] Trong thời gian học ở trường này, anh đã được Southampton để ý tới khi mới 9 tuổi, khi anh chơi ở giải bóng đá 5 người cho đội bóng đầu tiên của anh, câu lạc bộ Cardiff Civil Service.

Bale sau đó nhập học ở trường trung học Whitchurch ở Cardiff[5], nơi mà cùng với bóng đá, anh đã chơi rugby, hockey và còn là vận động viên chạy ngắn. Bởi kĩ năng thiên bẩm của anh, giáo viên thể dục của trường này, Gwyn Morris, đã phải đưa ra những luật đặc biệt. Những luật này đã ngăn cản Bale chơi bóng một chạm và không được dùng chân trái. Trong khi ở Whitchurch, Bale luyện tập ở học viện chi nhánh của Southampton ở Bath, mặc dù có vài điều nghi ngờ khi Southampton có thể cho anh một học bổng nhờ vào chiều cao của anh.[2]

Mặc dù khi đó mới 16 tuổi, anh giúp đội U-18 trường anh vô địch giải Cardiff & Vale Senior Cup. Anh rời trường vào mùa hè năm 2005 với điểm A ở môn Thể dục trong kết quả GCSE. Trong năm cuối ở trường, anh được trao tặng giải thưởng cho những đóng góp của mình về thể thao. Trong lời giới thiệu, Morris nói:

Gareth có một động lực lớn để tới thành công và có khả năng cũng như tinh thần để giành được những thành công cá nhân. Cậu ấy là một trong những cá nhân tốt nhất và tôi rất vui khi được giúp cậu ấy học tập.[6]

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Southampton[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 17 tháng 4 năm 2006, khi mới 16 tuổi và 275 ngày, Bale đã trở thành cầu thủ trẻ nhất thứ hai từng thi đấu cho Southampton (sau Theo Walcott) khi anh được đưa vào sân trong trận đấu mà Southampton đánh bại Millwall 2-0. Ngày 6 tháng 8, Bale ghi được bàn thắng đầu tiên bằng một pha đá phạt, cân bằng tỉ số 1-1 trong trận hoà 2-2 với Derby County tại Pride Park.[7]

Sau đó, trên sân St. Mary's, anh tiếp tục ghi bàn vào lưới Coventry City cũng bằng một pha đá phạt.[8] Đến ngày 16 tháng 12 năm 2006, số bàn thắng của Bale đã được nâng lên con số 5 sau khi ghi bàn gỡ hoà trong trận đấu với Sunderland[9] và sút phạt thành bàn vào lưới Hull[10]Norwich City.

Tháng 12 năm 2006, anh giành giải thưởng Carwyn James cho danh hiệu Vận động viên Thể thao Trẻ trong năm của BBC Wales[11], và danh hiệu Cầu thủ trẻ Trong năm của Giải Football League ngày 4 tháng 3 năm 2007.[12] Báo chí địa phương đã miêu tả mùa giải đầu tiên đối với một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp như anh là "kì diệu" và anh "là một trong những cầu thủ thi đấu sáng tạo nhất ở vị trí cánh trái cũng như khả năng phòng thủ ngày càng được nâng cao trong suốt mùa giải."[13]

Trận đấu cuối cùng của anh cho Southampton là trận đấu lượt đi vòng tứ kết play-off giải hạng nhất với Derby County ngày 12 tháng 5 năm 2007. Bale đã bị chấn thương ở hiệp 2 trận đấu này, khiến anh không thể ra sân ở trận lượt về.[14][15] Tổng cộng, anh đã thi đấu 45 trận cho Southampton và ghi được 5 bàn.

Tottenham Hotspur[sửa | sửa mã nguồn]

Bale hoàn tất việc chuyển nhượng đến Tottenham Hotspur vào ngày 25 tháng 5 năm 2007, với bản hợp đồng có thời hạn 4 năm và Tottenham sẽ phải trả ngay lập tức 5 triệu £, cộng với những khoản trả thêm đưa giá trị chuyển nhượng của Bale lên 10 triệu £.[16]

Anh có trận đấu đầu tiên cho Spurs trong trận giao hữu với St. Patrick's Athletic ngày 12 tháng 7 năm 2007, nhưng đã phải rời sân ở phút 80 do chấn thương. Anh có trận đấu đầu tiên tại Premier League vào ngày 26 tháng 8 trong trận đấu sân khách với Manchester United. Ngay trong trận đấu thứ hai cho Spurs, anh đã có bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ này trong trận hoà 3-3 với Fulham.[17] Bale sau đó lại ghi bàn trong trận Derby Bắc London với Arsenal bằng một quả đá phạt trực tiếp.[18] Tiếp theo, anh ghi bàn trong trận đấu ở League Cup trước Middlesbrough[19], giúp Bale có được 3 bàn thắng chỉ trong 4 trận.

Bale phải rời sân sau pha vào bóng của Fabrice Muamba trong trận đấu với Birmingham City tại Premier League ngày 2 tháng 12 năm 2007. Kết quả chẩn đoán sau đó cho thấy anh bị chấn thương dây chằng mắt cá chân phải. Ban đầu, sau khi phẫu thuật cho Bale, các bác sĩ dự đoán anh sẽ chỉ phải nghỉ thi đấu trong vòng 3 tháng.[20] Tuy nhiên, sau kết quả kiểm tra lại của các bác sĩ, giám đốc thể thao của Spurs là Damien Comolli thông báo rằng Bale phải nghỉ thi đấu phần còn lại của mùa giải vì chấn thương này vào tháng 2 năm 2008.

Ngày 21/10/2010, trong trận đấu với Inter Milan tại vòng bảng UEFA Champions League 2010-11, Bale đã lập được một cú hat-trick tuyệt đẹp vào các phút 52', 89', 90'. Tuy nhiên, ba bàn thắng của anh không thể giúp Tottenham Hotspur chiến thắng. Trận đấu đó, Bale đã khiến hậu vệ phải xuất sắc nhất thế giới Maicon liên tục mắc sai lầm. Trong trận lượt về, dù không trực tiếp ghi bàn nhưng Bale cũng đã đóng góp 2 đường chuyền quyết định giúp Tottenham giành chiến thắng 3-1 và vươn lên dẫn đầu bảng A.

[21] Bale đã ký hợp đồng mới có thời hạn 4 năm với câu lạc bộ vào tháng 8 năm 2008.[22]

Ngày 18-4-2011,hiệp hội PFA đã công nhận Gareth Bale là cầu thủ xuất sắc nhất năm của Premier League.[cần dẫn nguồn]

Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 9 năm 2013, câu lạc bộ Tây Ban Nha Real Madrid thông báo rằng họ đã đạt được thoả thuận chuyển nhượng Bale, ký một hợp đồng 6 năm với mức chuyển nhượng là 77 triệu bảng Anh tương đương gần 97 triệu euro.

Ngày 23 tháng 5 2014, trong trận chung kết cup C1 Châu Âu anh đã đóng góp 1 bàn thắng quan trọng giúp real Madrid vượt lên dẫn trước đối thủ cùng thành phố là Atle'tico Madrid 2-1 để những phút còn lại của 2 hiệp phụ được ấn định chiến thắng bởi Phillipe Mảrcelo và Cristiano Ronaldo bằng 2 bàn thắng nâng tỉ số lên thành 4-1

Phong cách thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 2 tháng 11 năm 2010, sau trận đấu vòng bảng Champions League gặp clb Inter Milan, đồng đội của anh là Rafael van der Vaart đã nói, "Tất cả mọi người đều nể sợ anh ấy [Bale]. Maicon là một trong những hậu vệ cánh xuất sắc nhất thế giới nhưng hôm nay đã bị Bale "giết chết"."[23][24]

Trong bản tường thuật về trận đấu này, Tờ El Mundo của Tây Ban Nha đã viết: "Bale kết hợp chiều cao và vóc dáng của 1 vận động viên chạy nước rút 800m như Steve Ovett với khả năng bứt tốc và lao thẳng của 1 cầu thủ rugby như Bryan Habana. và, khi leo biên, anh tung ra những cú tạt bóng xoáy giống như 1 cầu thủ Brazil.... 3 bàn và 2 lần kiến tạo trước nhà vô địch châu Âu. Màn trình diễn của anh đã gây ấn tượng với nhiều người."[25]

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối mùa giải 2005–06, Bale được gọi vào đội tuyển xứ Wales và anh có trận đấu quốc tế đầu tiên vào ngày 27 tháng 5 năm 2006[26] khi vào sân thay người trong chiến thắng 2–1 trước đội tuyển Trinidad và Tobago, Anh cũng là cầu thủ trẻ tuổi nhất từng chơi cho đội tuyển (16 tuổi và 315 ngày).[27].

Brian Flynn đã bình luận rằng Bale có khả năng trở thành một ngôi sao bóng đá tương lai, khả năng kĩ thuật của anh cũng được so sánh với cầu thủ Ryan Giggs.[28] ngày 7 tháng 10 năm 2006, Bale trở thành cầu thủ trẻ tuổi nhất từng ghi bàn cho đội tuyển xứ Wales tại trận đấu vòng loại Euro 2008 gặp Slovakia.[29] Anh ghi bàn thắng thứ 2 của mình cho đội tuyển xứ Wales trong chiến thắng 3–0 trước San Marino vào ngày 28 tháng 3 năm 2007.

Bale có đủ điều kiện để chơi cho đội tuyển Anh do co bà ngoại là người Anh, nhưng anh đã phát biểu vào năm 2007 rằng:

"Được thi đấu cho Wales là một vinh dự... Không ai tới từ Anh từng liên hệ với cá nhân tôi, dù chỉ thông qua đại diện của tôi."[30]

Sau khi bị chấn thương và phải nghỉ 1 thời gian dài, vào ngày 10 tháng 10 năm 2009,anh đã quay trở lại trong trận đấu vòng loại World Cup 2010 gặp Phần Lan. ngày 14 tháng 10, trong trận cuối cùng của ĐT Wales ở vòng loại World Cup,anh đã kiến tạo cho David Vaughan ghi bàn mở tỉ số trận gặp Liechtenstein và giành được quả đá phạt dẫn đến bàn thắng thứ hai, cũng là bàn thắng đầu tiên của Aaron Ramsey ở cấp độ đội tuyển.

Tháng 12 năm 2010, Bale được trao Cúp BBC Cymru nhân vật thể thao của năm.[31]

Thế vận hội Mùa hè 2012[sửa | sửa mã nguồn]

Bale vẫn đủ tuổi để thi đấu tại Thế vận hội Mùa hè 2012 và anh đã nói rằng anh "thích thi đấu ở thế vận hội" cho đội tuyển Olimpic Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland.[32]

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

# Thời gian Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 7 tháng 10, 2006 Sân vận động Millennium, Cardiff, Wales  Slovakia 1 – 2 1 – 5 Vòng loại Euro 2008
2. 28 tháng 3, 2007 Sân vận động Millennium, Cardiff, Wales  San Marino 2 – 0 3 – 0 Vòng loại Euro 2008
3. 12 tháng 10, 2010 St. Jakob-Park, Basel, Thụy Sĩ  Thụy Sĩ 1 – 1 1 – 4 Vòng loại Euro 2012

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới ngày 4 tháng 2 năm 2011[33]

Câu lạc bộ Mùa giải Giải Cúp Cúp Liên đoàn châu Âu Khác1 Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Southampton 2005–06 2 0 0 0 0 0 0 0 0 0 2 0
2006–07 38 5 1 0 3 0 0 0 1 0 43 5
Tổng cộng 40 5 1 0 3 0 0 0 1 0 45 5
Tottenham Hotspur 2007–08 8 2 1 0 1 1 3 0 0 0 13 3
2008–09 16 0 2 0 5 0 7 0 0 0 30 0
2009–10 23 3 8 0 3 0 0 0 0 0 34 3
2010–11 23 7 0 0 0 0 7 4 0 0 30 11
Tổng cộng 70 12 10 0 9 1 17 4 0 0 106 17
Tổng sự nghiệp 110 17 11 0 12 1 17 4 1 0 151 22

1 bao gồm trận play-offs Giải bóng đá hạng nhất Anh

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Học viện Southampton
Tottenham Hotspur
Real Madrid

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đội hình xuất sắc nhất năm của Giải hạng nhất Anh: 2006-07
  • BBC Wales Carwyn James Junior Sportsman of the Year Award 2006
  • Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của Football League: 2007
  • Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Premier League: 2011
  • Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của FAW: 2007[34]
  • E.ON Player of the Round: 2009–10 5th Round[35]
  • Cầu thủ xuất sắc nhất tháng của Premier League: Tháng 4 năm 2010[36]
  • Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của Tottenham Hotspur: 2009–10[37]
  • Giải thưởng cầu thủ xuất sắc nhất năm của Wales: 2010[38]
  • BBC Wales Sports Personality 2010[39]
  • Cầu thủ hay nhất năm của PFA (mùa giải 2010-2011)[40]
  • Cầu thủ hay nhất năm của PFA (mùa giải 2012–13)[40]
  • Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của PFA (mùa giải 2012–13)[40]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Search 1984 to 2006 – Birth, Marriage and Death indexes”. Findmypast.com. Truy cập 24/11/2009. 
  2. ^ a ă “Bale Model”. The Sun. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010. 
  3. ^ “Hall Of Fame”. Eglwys Newydd Primary School. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010. 
  4. ^ “Bluebirds of a feather are flocking together”. South Wales Echo. Wales Online. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2008. 
  5. ^ “Powerleague Official Opening”. Whitchurch High School. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2010. 
  6. ^ Young Gareth made own rules. The Daily Echo. 13 tháng 1 năm 2007. 
  7. ^ “Derby 2 Southampton 2”. Southampton F.C. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  8. ^ “Saints 2 Coventry 0”. Southampton F.C. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  9. ^ “Sunderland 1 Saints 1”. Southampton F.C. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  10. ^ “Hull v Saints”. Southampton F.C. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  11. ^ “Calzaghe scoops BBC Wales honour”. BBC Sport. 3 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  12. ^ “Prestige award for Bale”. Southampton F.C. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2007. 
  13. ^ Leitch, Adam (11 May năm 2007). “Introducing your Saints heroes...”. Daily Echo: 20. 
  14. ^ “Southampton 1–2 Derby”. BBC Sport. 12 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2007. 
  15. ^ “Bale KO'd for two weeks”. Southern Daily Echo. 13 tháng 4 năm 2007. 
  16. ^ “Tottenham complete Bale transfer”. BBC Sport. 25 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2010. 
  17. ^ “Fulham 3–3 Tottenham”. BBC Sport. 1 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2007. 
  18. ^ “Tottenham 1–3 Arsenal”. BBC Sport. 15 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2009. 
  19. ^ “Tottenham 2–0 Middlesbrough”. BBC Sport. 26 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2009. 
  20. ^ Mạnh Đức (5 tháng 2 năm 2008). “Tottenham mất Gareth Bale cho đến cuối mùa giải”. 24h.com.vn. Việt Báo. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2010. 
  21. ^ “Injury rules out Bale for season”. BBC Sport. 4 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2008. 
  22. ^ “Bale signs new Tottenham contract”. BBC Sport. 13 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  23. ^ Jason Burt, Redknapp happy to talk as Figo drools over wonder winger, The Daily Telegraph, 3/11/2010, p. S3.
  24. ^ Van der Vaart: "Gareth Bale đã biến Maicon thành gã hề"
  25. ^ Christenson, Marcus (11 tháng 3 năm 2010). “Gareth Bale hailed by European press for 'destroying' Maicon”. The Guardian. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2010. 
  26. ^ “Bale savours record Wales debut”. BBC Sport. 28/5/2006. Truy cập 21/1/2007. 
  27. ^ “Injured Bale out for three months”. BBC Sport. 10 /12/2007. Truy cập 21/10/2010. 
  28. ^ “The £10 million man”. Wales Online. Truy cập 21/1/2007. 
  29. ^ “Wales 1–5 Slovakia”. BBC Sport. 10 tháng 7 năm 2006. Truy cập 21/1/2007. 
  30. ^ “Bale: I could have played for England but playing for Wales is an honour”. The Daily Mail. 8 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010. 
  31. ^ BBC Sport
  32. ^ Draper, Rob (26 tháng 12 năm 2010). “Aaron Ramsey and Gareth Bale move closer to Olympic contention with Great Britain team”. London: Daily Mail. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2010. 
  33. ^ “Gareth Bale All time playing career”. Soccerbase. Truy cập 21/8/2010. 
  34. ^ “17th Football Presentation Awards Evening”. Football Association of Wales. 13/11/2007. 
  35. ^ “Bale claims public vote”. Football Association. 3 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2010. 
  36. ^ “Bale scoops Player of the Month award”. Premier League (Premier League). 30/4/2010. Truy cập 30/4/2010. 
  37. ^ “Gareth, Daws scoop awards”. Tottenham Hotspur F.C. (Tottenham Hotspur F.C.). 8 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2010. 
  38. ^ “Gareth Bale named Wales' player of the year”. BBC Sport. 10 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2010. 
  39. ^ “Gareth Bale wins BBC Wales Sports Personality award”. BBC Sport. 6 tháng 12 năm 2010. 
  40. ^ a ă â Thắng cú đúp giải thưởng của PFA: Bale đã sánh ngang Ronaldo!

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]