Wales

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cymru
Flag of Wales 2.svg Royal Badge of Wales (2008).svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Wales
Khẩu hiệu
Cymru am byth  (tiếng Wales)
"Wales muôn năm"
Quốc ca
Hen Wlad Fy Nhadau  (tiếng Wales)
Mảnh đất tổ tiên
Hành chính
Chính phủ Quân chủ lập hiến
Ngôn ngữ chính thức tiếng Anh, tiếng Wales
Thủ đô Cardiff
51°29′B, 3°11′T
Thành phố lớn nhất thủ đô
Địa lý
Diện tích 20.779 km²
Diện tích nước 0,5% %
Múi giờ GMT (UTC0); mùa hè: BST (UTC+1)
Lịch sử
Dân cư
Dân số ước lượng (2003) 2.958.6001 người
Dân số (1998) 2.703.085 người
Mật độ 140 người/km²
Kinh tế
GDP (PPP) (2002) Tổng số: 48 tỷ đô la Mỹ
HDI (2007) 0.913 (hạng 37 Cấp HDI = cao)
Đơn vị tiền tệ Bảng Anh (GBP)
Thông tin khác
Tên miền Internet .uk2

Wales (tiếng Wales: Cymru;[1] được phát âm /ˈkəmrɨ/) (tiếng Hán Việt: Uy Nhĩ Sĩ// tên phiên âm từ tiếng Pháp: Xứ Gan) là một trong bốn quốc gia cấu thành Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Wales tọa lạc ở Tây-Nam Đảo Anh và giáp Anh về phía Đông, Eo biển Bristol (Môr Hafren) về phía Nam và Biển Ireland (Môr Iwerddon) về phía Tây và phía Bắc, và cũng nằm bên cửa sông Dee (Afon Dyfrdwy) về phía Đông-Bắc. Wales là công quốc lớn nhất thế giới.

Bản sắc văn hóa của Wales được đại diện bằng các yếu tố như thổ ngữ tiếng Wales, sự khổ hạnh tu hành, một hệ thống hệ thống pháp luật thế tục phát triển cao, và một nền truyền thống văn học riêng biệt đã nổi trội lên sau khi quân La Mã rút khỏi Anh vào thế kỷ thứ 5. Trong số các tổ chức nhà nước bên trong Wales, chỉ có Gwynedd vẫn giữ được độc lập cho đến cuối thế kỷ 13 khi bị Anh xâm chiếm. Tuy nhiên, cuộc thôn tính chính thức và việc hủy bỏ luật của Wales mẫi đến thế kỷ 16 mới hoàn thành. Wales (với tất cả các vùng được thống nhất dưới một chính phủ) đã chưa bao giờ là một nhà nước có chủ quyền, dù một số công quốc cát cứ vẫn giữ độc lập cho đến thời điểm bị sự xâm chiếm của Anglo-Norman.

Từ thế kỷ 19 trở đi, nhiều nơi của Wales đã được công nghiệp hóa cao độ, xuất khẩu số lượng lớn than đáthép và thiết lập một cơ sở chế tạo lớn. Đến thời gian gần đây mới bị lĩnh vực dịch vụ vượt qua.

Hai phần ba dân số của Wales sống ở các thung lũng và đồng bằng ven biển phía Nam, một số lượng đáng kể tập trung ở phía Đông Bắc. Các phần dân số còn lại ở Trung Wales, vùng Tây và Tây Nam chủ yếu là nông thôn và có đặc trưng là các vùng đồi núi.

Kể từ thế kỷ 20 trở đi, đã diễn ra một sự hồi sinh về ý thức và tình cảm dân tộc Wales. Thành phố lớn nhất của Wales, Cardiff (Caerdydd) đã được chọn làm thủ đô của Wales năm 1955. Quốc hội Wales (Cynulliad Cenedlaethol Cymru) đã được thành lập năm 1999, có quyền sửa đổi pháp chế căn bản từ Quốc hội Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Các quyền hạn này đã được mở rộng bằng Sắc luật chính quyền Wales năm 2006, và Quốc hội Wales ngày nay có thể đề xuất và thông qua luật nhưng chỉ sau khi có được phép của Quốc hội Anh.

Nguồn gốc tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi bằng tiếng Anh của Wales xuất phát từ một từ tiếng Đức Walha, có nghĩa "người lạ" hay "người nước ngoài", có lẽ lấy từ thuật ngữ Volcae. Thuật ngữ này cũng xuất hiện ở trong "-wall" của Cornwall. Người Wales gọi họ là Cymry trong tiếng Wales, chắc chắn nhất có nghĩa là "những người đồng bào" trong tiếng Wales Cổ[2]. Tên gọi này đã tranh đua trong một thời gian dài trong văn học Wales với tên gọi cũ hơn là Brythoniaid (Brythons). Chỉ sau năm 1100 thì tên gọi sau cũ hơn đó mới trở nên thông dụng như tên Cymry[3]; cả hai thuật ngữ ban đầu áp dụng không chỉ cho các cư dân của nơi mà nay là Wales, nhưng nói chung cũng cho những người nói tiếng Brython và các hậu duệ của họ, nhiều người trong số đó sống ở "Xứ Bắc Cổ": các tên gọi Cymru (trong tiếng Wales có nghĩa là Wales) và Cumbria có cùng nguồn gốc.[3] Các từ Angles, SaxonsJutes được gọi không phân biệt thành Saeson trong tiếng Wales (các thuật ngữ tương tụư với "Saxon"; so với tiếng Gaelic Sassenach); Sais, số nhiều Saeson, là từ tiếng Wales hiện đại có nghĩa là "người Anh".

Có một truyền thuyết thời Trung cổ được tìm thấy trong Historia Regum Britanniae của Sieffre o Fynwy (Geoffrey của Monmouth) cho rằng tên gọi lấy từ tên Camber, con trai của Brutus và, theo truyền thuyết này, vị vua của Cymru được lấy tên (Cambria trong tiếng Latin); tuy nhiên điều này được mọi người cho là sản phẩm của trí tưởng tượng sinh động của Geoffrey. CumberlandCumbria ở Bắc nước Anh lấy tên từ một từ tiếng Wales Cổ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử Wales

Thời kỳ thuộc địa[sửa | sửa mã nguồn]

Bryn Celli Ddu, a late Neolithic chambered tomb on Anglesey

Lịch sử được ghi nhận bằng tài liệu đầu tiên là những gì được ghi chép lại từ thời La Mã chiếm đóng Anh. Vào thời đó, xứ Wales ngày nay đã được chia ra nhiều bộ lạc, trong số đó những người Silure ở Đông Nam và Ordovice ở các khu vực Trung và Tây Bắc là đông nhất và mạnh nhất. Người La Mã đã thiết lập một dãy các pháo đài dọc theo khu vực ngày nay là Southern Wales, đến tận phía Tây như Carmarthen (Caerfyrddin; Latin: Maridunum), và khai thác vàng tại Dolaucothi ở Carmarthenshire.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Wales nằm trên bán đảo phía trung tâm phía tây Vương quốc Anh, có diện tích khoảng 20.779 km (khoảng 8.023 dặm vuông, gần bằng vùng Massachusetts, tương đương Slovakia, hay xấp xỉ El Salvador), chiều dài khoảng 274 km (170 km), và chiều rộng khoảng 97 km (60 dặm). Wales có phần đất liền giáp Anh ở phía Đông; phần lãnh hải giáp Môr Hafren ( kênh Bristol) ở phía Nam, kênh St. George ở phía Tây và phía Bắc giáp biển Ai Len. Ngoài ra, xung quanh Wales còn có rất nhiều hòn đảo nằm rải rác, trải rộng trên đường bờ biển dài 1.200 km (750 dặm) của công quốc rộng lớn nhất thế giới này.

Dân số của Wales phần lớn sinh sống ở phía Nam, và nơi đây cũng chính là khu vực tập trung các vùng công nghiệp phát triển với những thành phố lớn như Cardiff (Caerdydd), Swansea (Abertawe) và Newport (Casnewydd).

Phần lớn các danh lam thắng cảnh của Wales tập trung ở đồi núi đặc trưng cho phía Bắc. Hình dáng đắc sắc của các dãy núi ngày nay có được là nhờ quá trình "gọt đẽo" vào cuối kỷ băng hà. Dãy núi đồ sộ nhất của Wales ngày nay là Snowdonia (Eryri) với đỉnh cao nhất Snowdon (Yr Wyddfa) cao 1.085 m; sẽ có khoảng 14 (hoặc cũng có thể là 15) dãy núi ở Wales đạt đến độ cao 3.000 feet (khoảng 914 m) vào những năm 3000.

Wales có 3 công viên Quốc gia: Snowdonia, Brecon BeaconsPembrokehire Coast; 4 thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng: Anglesey, dãy Clwydian, bán đảo Gowerthung lũng Wye. Trong số đó, bán đảo Gower là nơi đầu tiên được Vương quốc Liên hiệp Anh công nhận là Thắng cảnh thiên nhiên vào năm 1956.

Cùng với người anh em Celtic, xứ Wales có đường bờ biển phía Tây và phía Bắc trải dài hàng dặm, đẹp tuyệt mỹ với các địa danh: thung lũng Gower, Pembrokeshire, Carmarthenshire, và Ceredigion đầy hoang sơ. Ngoài ra, vùng đất này còn có vô số các bãi biển quyến rũ du khách với những bãi cát trắng, nước xanh vắt và một hệ sinh thái biển phong phú như Gower, Carmarthenshire, Pembrokeshirevịnh Cardigan. Tuy nhiên, đằng sau những vẻ đẹp đó, xứ Wales có nhiều nơi đang bị chỉ trích nặng nề. Cùng với vùng biển Ai Len, Cornish, vùng biển phía Tây và Nam Wales mỗi năm có rất nhiều con tàu bị phá hoại, làm bẩn bởi những cơn gió của Đại Tây Dương thổi từ phía Tây. Vào đêm 25 tháng 10, 1859, 114 con tàu bị cuốn văng bởi một cơn bão Đại Tây Dương. Theo con số thống kê gần đây cho thấy, xứ Wales là nơi đứng đầu châu Âu về số tàu bị đắm mỗi năm.

GIống như Cornwall, BrittanyIreland, vùng biển đẹp phía Tây - Nam Wales ( Gower, Carmarthenshire, Pembrokeshirevịnh Cardigan ) có một hệ sinh thái biển rất phong phú với các loi động vật như: hải cẩu xám, rùa da, cá heo, cua, tôm hùm, cá heo mũi chai...

Các khu vực hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tháp đồng hồ Cardiff City Hall

Để thuận tiện cho việc quản lý, năm 1996, Wales được chia thành 22 hội đồng khu vực. Có rất nhiều cơ quan phụ trách các lĩnh vực khác nhau bao gồm giáo dục, giải quyết việc làm, môi trường và hạ tầng giao thông.

Nữ hoàng bổ nhiệm Quan Khâm sai đại diện cho Hoàng gia Anh ở tám tỉnh của Wales.

Có năm thành phố ở Wales:

Bản mẫu:Wales subdivisions

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhiệt độ cao nhất đo được: 35.2 °C (95.4 °F) tại Hawarden Bridge, Flintshire vào ngày 2 tháng 8, 1990.
  • Nhiệt độ thấp đo được: -23.3 °C (-10 °F) tại Rhayader, Radnorshire vào ngày 21 tháng 1, 1940. [1]
  • Thời gian Mặt trời chiếu lâu nhất trong một tháng: 354.3 giờ tại Dale Fort, Pembrokeshire vào tháng 7, 1955.
  • Thời gian Mặt trời chiếu ngắn nhất trong một tháng: 2.7 giờ tại Llwynon, Brecknockshire vào tháng 1, 1962. [2]
  • Lượng mưa cao nhất đo được (0900 UTC - 0900 UTC): 211 mm ( khoảng 8.30 inches) tại Rhondda, Glamorgan, vào ngày 11 tháng 11, 1929. [3]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Kinh tế Wales

Nhiều vùng của Wales đã được công nghiệp hóa cao kể từ thế kỷ 18. Than đá, đồng, sắt, bạc, chì, vàngđá đen đã được khai thác ở Wales. Đến giữa sau thế kỷ 19, ngành khai khoángluyện kim đã chiếm lĩnh nền kinh tế của Wales, làm chuyển biến cảnh quanxã hội ở các khu vực công nghiệp của phía Nam và Đông Bắc Wales.

Kể từ đầu thập niên 1970, nền kinh tế của Wales đã phải đối mặt với công cuộc tái cơ cấu to lớn với một số lớn công việc trong ngành công nghiệp nặng truyền thống đã mất đi và được thay bằng các loại công việc mới trong ngành công nghiệp nhẹ và trong lĩnh vực dịch vụ. Trong thời gian này, Wales đã thành công trong việc thu hút một phần đầu tư trực tiếp nước ngoài cao trên mức trung bình ở Anh quốc. Tuy nhiên, phần lớn ngành công nghiệp mới thực tế thuộc một loại “nhà máy chi nhánh”, thường là các dây chuyền lắp ráp sử dụng nhân công có tay nghề thấp.

Tòa nhà chính của Đại học Cardiff

Wales đã cố gắng để phát triển hoặc thu hút công việc có giá trị gia tăng cao trong các lĩnh vực như tài chínhnghiên cứu và phát triển, một phần là do thiếu đáng kể quần chúng kinh tế (có nghĩa là dân số) và sự thiếu vắng một thành phố lớn - Cardiff thì nhỏ hơn các thành phố vùng lớn của Đảo Anh như Leeds, Manchester hay Bristol, hoặc các thành phố hàng đầu ở các nước nhỏ như Dublin, Copenhagen hay Helsinki. Sự thiếu công việc trong lĩnh vực có giá trị gia tăng cao được phản ánh qua chỉ số sản lượng kinh tế đầu người thấp hơn tương đối so với các vùng khác của Anh quốc – năm 2002, con số này là khoảng 90% mức trung bình của EU25 và khoảng 80% mức trung bình của Anh quốc. Tuy nhiên, cần phải thận trọng khi đánh giá thông qua chỉ số này do sự khác biệt chi phí sính hoạt của các khu vực. Mức chênh lệch về mức sống thực tế giữa Wales và các vùng giàu hơn của Anh quốc không rõ rệt.

Năm 2002, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Wales chỉ hơn 26 tỷ bảng Anh (48 tỷ USD), với GDP đầu người là £12.651 ($19.546). Đến năm 2006, tỷ lệ thất nghiệp của Wales là 5,7% - cao hơn mức trung bình của Anh quốc, nhưng thấp hơn phần lớn các nước EU.

Do đất cằn nên Wales không phù hợp cho nghề trồng trọt, do đó ngành chăn nuôi về truyền thống vẫn là nghề nông chính. Cảnh quan của Wales (được bảo vệ bằng 3 vườn quốc gia) cũng như nền văn hóa của Wales độc đáo đã thu hút một lượng lớn du khách và đóng góp quan trọng cho kinh tế các khu vực nông thôn.

HÌnh ảnh về Wales[sửa | sửa mã nguồn]

Những người xứ Wales nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

xem Danh sách những người xứ Wales nổi tiếng

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cũng viết là "Gymru" hay "Nghymru" hay "Chymru" trong một vài ngữ cảnh nhất định, do tiếng là một ngôn ngữ với những biến đổi nguyên âm ban đầu— xem hình thái học Wales.
  2. ^ Online Etymological Dictionary Cymric
  3. ^ a ă Davies, John (1990/2007). A History of Wales. London: Penguin Books. tr. 68–69. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]