Các dân tộc German

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sự mở rộng lãnh thổ của các bộ lạc German trong giai đoạn 750 TCN – 1 CN (theo Penguin Atlas of World History 1988):

    Các vùng định cư trước 750 TCN

    Lãnh thổ mới vào khoảng 500 TCN

    Lãnh thổ mới vào khoảng 250 TCN

    Lãnh thổ mới vào khoảng năm 1

Lịch sử Đức
Coat of arms featuring a large black eagle with wings spread and beak open. The eagle is black, with red talons and beak, and is over a gold background.
Bài này là một phần của loạt bài
Buổi đầu lịch sử
Người German
Giai đoạn di cư
Đế chế Frankish
Đức trung cổ
Đông Francia
Vương quốc Đức
Đế chế La Mã thần thánh
Định cư ở phía đông
Chủ nghĩa địa phương
Xây dựng một nhà nước
Liên bang sông Rhine
Liên bang Đức & Zollverein
Các cuộc cách mạng German năm 1848
Liên bang Bắc Đức
Thống nhất Đức
Đế chế Đức
Đế chế Đức
Thế chiến I
Cộng hòa Weimar
Saar, Danzig, Memel, Áo, Sudeten
Phát xít Đức
Thế chiến II
Hậu chiến Nước Đức từ năm 1945
Chiếm đóng + Ostgebiete
Trục xuất người Đức
FRG, Saar & GDR
Thống nhất nước Đức
Hiện nay
Cộng hoà Liên bang Đức
Các chủ đề
Lịch sử quân sự Đức
Thay đổi lãnh thổ Đức
Biểu thời gian lịch sử Đức
Lịch sử ngôn ngữ Đức

Chủ đề Đức
 v • d • e 

Các dân tộc German (phiên âm từ Germain trong tiếng Pháp thành Giéc-manh; có gốc từ Germanus/Germani tiếng La-tinh, từ nguyên không chắc chắn, có lẽ gốc Celt) là các nhóm dân tộc Ấn-Âu có nguồn gốc từ Bắc Âu: phía đông sông Rheinsông Danube, ở bên ngoài biên giới Limes Romanus của Đế chế La Mã cổ đại.

Thời tiền sử, họ sống ở các vùng lãnh thổ được gọi là Germania (tiếng La-tinh), Thule (Θούλη - Thoulē trong tiếng Hy Lạp, với nghĩa có lẽ là Scandinavia hoặc miền Bắc nước Đức), hay ven bờ Biển Đen (xem bài người Goth).

Bắt đầu vào khoảng năm 1800 trước Công nguyên từ Văn hóa Corded Waređồng bằng Bắc Đức, các dân tộc German bành trướng vào phía nam Scandinavia và hướng tới sông Vistula trong thời kì đồ đồng Bắc Âu, tới hạ lưu Danube vào khoảng năm 200 TCN [1] Trong thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, Người Teutonngười Cimbri đã giao chiến với La Mã. Vào thời Julius Caesar, một nhóm người German dưới sự lãnh đạo của vị tù trưởng người Suebi Ariovistus đã bành trướng vào Gaul, cho đến khi họ bị chặn lại bởi Caesar ở trận Vosges. Những nỗ lực tiếp theo của Hoàng đế Augustus để sáp nhập vùng lãnh thổ phía đông của sông Rhine đã bị từ bỏ, sau khi Arminius tiêu diệt ba quân đoàn La Mãtrận chiến rừng Teutoburg trong năm 9 CN. Vào lúc đó, những người lính German đã được tuyển mộ một cách ồ ạt vào quân đội La Mã, đặc biệt là trở thành các cận vệ cá nhân của Hoàng đế La Mã. Ở phía đông, các bộ lạc Đông German đã di cư từ Scandinavia đến hạ lưu Vistula [cần dẫn nguồn] thúc đẩy người Marcomanni xâm lược Ý vào năm 166 CN. Trong khi đó, người German, thông qua ảnh hưởng từ bảng chữ cái của Ý, đã phát minh ra bảng chữ cái Runes của họ. Vào thế kỷ thứ 3, Người Goth đã cai trị một khu vực rộng lớn ở phía bắc của Biển Đen, từ nơi đó họ hoặc có thể vượt qua hạ lưu sông Danube hoặc di chuyển bằng đường biển, cướp bóc bán đảo BalkanAnatolia xa tới tận Cyprus. Trong khi đó, sự lớn mạnh của liên minh giữa người Frankngười Alemanni đã phá vỡ các công sự biên giới và họ định cư dọc theo biên giới Rhine, xâm lược Gaul, Hispania và Ý xa tới tận Bắc Phi, trong khi cướp biển Saxon tàn phá vùng bờ biển Tây Âu. Sau khi người Hung trong thế kỷ thứ 4 xâm chiếm lãnh thổ của vua Goth Ermanaric, mà ở giai đoạn đỉnh cao của nó kéo dài từ sông Danube tới sông Volga, [cần dẫn nguồn] và từ đen đến biển Baltic, [cần dẫn nguồn] hàng ngàn người Goth bỏ chạy vào khu vực Balkan, đánh bại những người La Mã ở trận Adrianople và cướp phá thành Rome sau đó vào năm 410, trong khi hàng ngàn người German khác lại đang vượt qua sông Rhine.

Bắt đầu từ thế kỷ thứ nhất, thế giới La-tinh bắt đầu biết đến các dân tộc này được biết đến nhiều hơn, chủ yếu qua tác phẩm của nhà sử học Tacitus. Theo Tacitus, người German là các dân tộc thiện chiến.[2] Vào thời Hậu Cổ đại (năm 300-600) và đầu thời Trung cổ. Các ngôn ngữ German trở nên phổ biến dọc theo biên giới La Mã (Áo, Đức, Hà Lan, Bỉ, và Anh), nhưng ở phần còn lại của các tỉnh La Mã (phía tây), người German di cư tiếp nhận các phương ngữ La-tinh (nhóm ngôn ngữ Rôman). Sự khác biệt ngày càng lớn về ngôn ngữ đã tách các cộng đồng dân cư thành 3 nhóm chính: nhóm German Đông, nhóm German Tây, và nhóm German Bắc.

Con cháu của các dân tộc này trở thành các nhóm dân tộc vùng Bắc Tây Âu như người Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Iceland, Đức, Hà Lan, Anh, và người Frisia.

Tất cả các dân tộc German cuối cùng đã được Ki-tô giáo hóa ở nhiều mức độ khác nhau. Các dân tộc này đã đóng một vai trò lớn trong sự biến đổi Đế chế La Mã thành châu Âu thời Trung cổ, và họ đóng góp vào sự phát triển một nền văn hóa, lịch sử, và bản sắc chung vượt qua các biên giới về ngôn ngữ. Người German cũng góp phần thành lập nước Đức cường thịnh.[2]

Tên gọi [sửa]

Thủy tổ người Germanen sống ở Nam Thụy Điển, Đan Mạch, vùng Schlewig-Holstein, ở vùng đồng bằng thuộc phương Bắc nước Đức giữa lưu vực sông Weser và cửa sông Ode.

    Trong thời kỳ đồ đồng (Bronzezeit) khỏang 1500  tới  500  trước công nguyên hình  thành một cộng đồng  các tộc người Germanen có những tập tục và vóc dáng khác hẳn người  Illyrer, người Kelten, người Slawen.   Trong số các tộc người Germanen có người Franken, người Alamanen, người Sachsen, người Thũringen, người Goten, người  Wandalen, người Langobarden  v.v. Người Germanen được chia thành ba nhóm  theo địa hình cư trú : người Germanen phương Bắc ở bán đảo  Skandinavien và Đan Mạch,  người Germanen phương Tây ở  lưu vực giữa các sông Rhein, Elbe, Donau, người  Germanen phương Đông ở lưu vực sông  Elbe và sông Weichsel.
    Từ năm 500  trước công nguyên, các tộc người Germanen  tràn dần xuống phương Nam và đi sang phía tây.  Người La Mã gọi vùng đất các tộc người  Germanen sống ở lưu vực giữa các sông  Rhein, sông Elbe, và sông Donau  là Germania .   Vùng đất Ostfrankisch dưới triều đại vua  Otto I   đại đế (936-973) chính là diện tích của nước Cộng hòa liên bang Đức ngày nay.

CHLB Đức ngày nay có 16 bang, diện tích 357.000 ki lô mét vuông, có 43.900 ki lô mét đường sắt, 10.854 ki lô mét đường xa lộ. Dân số là 79 triệu người, trong đó có 7 triệu người nước ngòai như người Thổ Nhĩ Kỳ, người Ý, người Áo, người Ba Lan, người Hy Lạp, người Tây Ban Nha, người Việt Nam v.v. Đại văn hào Đức Johann Wolfgang Goethe có nhận xét về người Đức như sau:

   “  Người Đức đòi hỏi một mức nghiêm khắc nhất định, một mức vĩ  đại nhất định trong tính tình và một sự phong phú về nội cảm.”

Chú thích [sửa]

  1. ^ Encyclopedia Britannica. “Barbarian migrations and invasions”. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2011. 
  2. ^ a b Giles MacDonogh, Frederick the Great: A Life in Deed and Letters, trang 5