Người Viking

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một chiếc thuyền của người Viking tại bảo tàng Oslo, Na Uy
Thuỷ thủ Đan Mạch, tranh vẽ giữa thế kỷ XII

Người Viking dùng để chỉ những nhà thám hiểm, thương nhân, chiến binh, hải tặc ở Bắc Âu vào thời đại đồ đá muộn, trên bán đảo Scandinavia, vùng Đan Mạch, Na Uy, Thuỵ ĐiểnPhần Lan ngày nay. Người ta thường nói tới những người Viking như các chiến binh lưu động trên các chiến thuyền hoặc những kẻ cướp biển, nhưng họ cũng là các nông dân và các nhà buôn giỏi. Đặc biệt họ đi biển rất giỏi, những tay cướp biển người Viking giương buồm đi khắp châu Âu và Bắc Đại Tây Dương trên những chiếc thuyền dài, đánh phá cướp bóc, xâm chiếm phần lớn các vùng đất trù phú tại châu Âu, rồi định cư tại những vùng đất chiếm được. Thời đại Viking bắt đầu khoảng cuối thế kỷ 8 và kéo dài đến giữa thế kỷ 11.[1]

Một trong những cuộc thám hiểm quân sự đầu tiền của người Viking, được ghi lại trong sử sách của người Anglo-Saxon, là cuộc đánh chiếm đảo Portland, gần quận Dorset của Anh, vào năm 787. Sau đó tháng 6 năm 793 họ lại tấn công tu viện trên đảo Lindisfarne (còn gọi là Holy Island) phía đông nước Anh. Trong 200 năm tiếp theo, lịch sử châu Âu đã tràn ngập những ghi chép về hải tặc Viking và những cuộc cướp phá của họ.

Người Viking đã xâm chiếm và thiết lập thuộc đia tại nhiều vùng đất. Họ đã từng xâm lăng vương quốc của người Anglo-Saxon và chiếm đóng phần lớn miền tây và bắc của Anh và toàn bộ Ireland, để lại nhiều ảnh hưởng tại các vùng duyên hải của IrelandScotland. Họ cũng đã xâm chiếm các quốc gia trên bán đảo Iberia, Pháp, vùng BalticNga. Họ cũng đã thiết lập được thuộc địa các quần đảo bắc như Greenland, Iceland, Quần đảo Faroe.

Các công trình nghiên cứu khảo cổ còn cho thấy người Viking tới châu Mỹ trước nhà thám hiểm Christopher Columbus những 500 năm và đã lập những làng nhỏ dọc theo bờ biển Bắc Đại Tây Dương – một di tích của họ còn được bảo tồn tại L'Anse aux Meadows, thuộc tỉnh bang Newfoundland và Labrador của Canada.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Từ viking xuất hiện lâu đời nhất, là ở trong bài thơ tiếng Anglo-Saxon cổ Widsith khoảng thế kỷ thứ 6 hoặc thứ 7[cần dẫn nguồn]. Ngoài ra, từ này cũng thấy trên tấm bia đá khắc bằng chữ rune, trên đó có khắc tên một người và hành vi của người đó khi còn sống. Nguồn gốc của từ này khá mù mờ, xuất xứ từ chữ vikingr trong tiếng Bắc Âu cổ (tiếng Anh cổ là wicing, tiếng Frisk cổ là wiking). Có thể từ này cùng ngữ tộc với từ vik hoặc vig, với nghĩa là "người cùng với thuyền tới vũng biển nhỏ" hoặc "người từ Viken" (vùng vịnh Oslo, Na Uy (theo từ điển tiếng Đan Mạch hiện đại, ấn bản lần 9, năm 1977). Từ viking cũng chỉ một hành động, ví dụ lå i viking là chiến binh đi viễn chinh bằng tàu. Trong Egil Skallagrimssons saga (truyện truyền kỳ về Egil Skallagrimsson 910-94) do tác giả vô danh viết khoảng năm 1230, có đoạn: "... og Harald, som lå i viking og sjælden var hjem" (... và Harald đi viễn chinh bằng tàu và ít khi ở nhà). Theo nhà văn kiêm sử gia Đan Mạch gốc Na Uy Ludvig Holberg thì từ Viking đồng nghĩa với kẻ cướp biển, còn theo nữ giáo sư kiêm sử gia Đan Mạch Else Roesdahl thì từ Viking trong ngôn ngữ Bắc Âu cổ nhánh phía tây, có nghĩa đại loại như "chiến binh trên biển, kẻ cướp biển, người đi biển v.v."

Từ viking không nói về mọi dân tộc Bắc Âu, nhưng chỉ nói về những người đi buôn, đi cướp biển, làm lính đánh thuê v.v. Thời đó, từ viking cũng không có nghĩa như chúng ta dùng ngày nay.

Những người Frank gọi họ là Normands (những người miền bắc), người Slav gọi họ là Rus hay Varyag, người Ả Rập gọi họ là Madjus, người Ireland gọi họ là "các người theo tà giáo" hay đơn giản là "người ngoại quốc" (gaills).

Nguồn gốc xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Những người Viking chỉ là một thành phần trong dân số các nước Bắc Âu thời đó. Theo tục lệ thì chỉ người con trưởng được thừa kế gia tài, và dường như các người con thứ phải đi nơi khác kiếm ăn. Hơn nữa việc gia tăng dân số khiến cho ruộng đất và việc làm càng ngày càng không đủ cho mọi người, nên cũng góp phần thúc đẩy những người khác phải đi ra nước ngoài. Sự thành công của các chuyến đi cướp bóc ban đầu đã khiến cho các tù trưởng ham lợi và họ đã tổ chức các chuyến hải hành cướp phá lớn hơn. Sau đó là việc thu phục nô lệ và chiếm thuộc địa.

Lý do chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng có thể là các cuộc cướp phá, xâm lược của người Viking Đan Mạch phát xuất từ nguyên nhân chính trị. Một số sử gia quả quyết rằng các chuyến đi cướp phá ban đầu này trùng hợp với các cuộc nội chiến. Các chuyến đi cướp bóc ở châu Âu là để lấy của cải cung cấp cho các cuộc nội chiến giữa các bộ tộc. Điều đó cũng cho thấy là những người Viking Na Uy và Thụy Điển nói chung nghiêng về việc buôn bán và chiếm thuộc địa hơn là cướp phá như người Viking Đan Mạch.

Tôn giáo và phong tục[sửa | sửa mã nguồn]

Thời đó, người Viking chưa biết đến Ki-tô giáo. Niềm tin vào các vị thần trong thần thoại Bắc Âu khiến các chiến binh Viking luôn hăng say chiến đấu một mất một còn. Thần thoại Bắc Âu nhấn mạnh rằng một chiến binh đích thực thì phải chết tại trận tiền và sẽ trở thành người được cư ngụ tại Asgård (nơi các thần cư ngụ) sau khi chết, cùng với các thần khác. Một chiến binh Viking nếu chết vì tuổi già hoặc chết vì bệnh trên giường thì sẽ phải vào Hel (âm phủ tối tăm lạnh lẽo). Một chiến binh đích thực rất sợ cái chết thứ hai này, do vậy họ không sợ chiến đấu.

Các chiến binh đi biển thiện chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Những người Viking nổi tiếng là các chiến binh giỏi. Điều đó do nhiều yếu tố: tàu của họ nhanh và có thể chạy xa. Với 200 chiến thuyền, họ có thể chở 5.000 quân đi một ngày được 150 hải lý (khoảng 280 km), do đó đối phương thường không kịp tập trung lực lượng để phòng thủ, đối phó. Ngoài ra họ có khả năng đổ bộ nhanh lên các bãi biển hoặc dọc theo các sông nhỏ mà không cần cảng. Các chiến thuyền snekker của họ lại nhẹ, dễ đem lên đất liền.

Người Viking giong buồm đi hầu hết Bắc Đại Tây Dương, đến tận phía nam của Bắc Phi, phía đông của Nga, ConstantinopolisTrung Đông.[2]

Võ trang[sửa | sửa mã nguồn]

Võ trang thông thường của người Viking là rìu, lá chắn, mũ sắt bảo vệ đầu có tấm che mũi (jernhat), áo trận với quần dài màu xám hoặc xanh dương. Chỉ những người chỉ huy mới dùng kiếm và áo giáp sắt. Mũ sắt của vua Erik Vejrhat có cắm một lá cờ nhỏ, vua Guldharald có mũ bảo vệ đầu bằng vàng. Phương tiện vận chuyển của người Viking là các chiến thuyền thon dài được trang bị buồm và có ít nhất 24 mái chèo.

Thời đại Viking[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thời đại Viking

Thời đại Viking từ khoảng năm 793 tới năm 1066. Thời này được biết đến do vô số chuyến viễn chinh cướp bóc của người Viking, theo sau là các cuộc chiếm đóng với quy mô lớn. Người Viking Đan mạch đã tàn phá, cướp bóc nước Anh, Ireland và "vương quốc Francia"; trong khi người Viking Na Uy viễn hành tới Scotland, quần đảo Orkney, quần đảo Faroe, Iceland và đảo Greenland; người Viking Thụy Điển đi về phía đông, tới Nga và tới tận đế quốc Byzantin.

Trong thời đại này, các nhóm người Viking đã đi buôn bán, cướp phá phần lớn châu Âu, tây nam châu Á và khám phá vùng Bắc Đại Tây Dương, đông bắc châu Mỹ. Ngoài việc buôn bán và cướp phá, họ cũng đánh thuê, thu phục nô lệ và cũng góp phần vào việc phát triển chế độ phong kiếnchâu Âu.

Xã hội Viking trong thời đại này chưa hình thành quốc gia, mà chỉ là các đơn vị nhỏ dưới dạng thôn làng độc lập. Việc hình thành quốc gia ở Bắc Âu thuộc thời trung cổ.

Chiến thuyền Viking[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tàu Viking

Người Viking sử dụng hai loại thuyền: drakar (có nghĩa là con rồng theo tiếng Na Uy) và knarr. Drakar là chiến thuyền lớn và dài, được dùng cho mục đích chiến tranh và những cuộc thám hiểm xa, có tốc độ nhanh được thiết kế có nhiều mái chèo để hỗ trợ cho việc di chuyển trên biển và giúp tàu có thể tự vận hành mà không cần tới gió. Các chiến thuyền loại này có thân dài và hẹp, có mạn tàu phía trên thấp nhằm hỗ trợ cho việc đổ bộ lên đất liền.

Trong khi đó, loại tàu knarr có thân ngắn hơn có vận tốc thấp hơn nhưng có khả năng chuyên chở nhiều hơn so với drakar. Nó được thiết kế với thân tàu ngắn và rộng, với lòng tàu sâu. Nó không có mái chèo như loại tàu drakar.

Người ta thường coi tàu drakar là "tàu Viking", như tàu mang tính đặc trưng của người Viking. Năm 1997 các nhà khảo cổ đã tìm thấy một tàu Viking lớn với chiều dài khoảng 36 mét, chứa được khoảng 100 người. Hiện nay tại Nhà bảo tàng tàu Viking (Vikingeskibsmuseet) tại Roskilde, Đan Mạch còn lưu giữ 5 xác tàu Viking - 3 tàu drakar và 2 tàu knarr, được khai quật từ Vịnh Roskilde từ năm 1962. Năm tàu này được đặt tên là Skuldelev 1, 2, 3, 5, 6 (vì tìm thấy tại Vịnh Roskilde, bên ngoài Skuldelev). Riêng tàu Skuldelev 2 có chiều dài là 29,6 mét, được đóng tại Dublin, Ireland. Nghiên cứu về sự phát triển của thớ gỗ, người ta được biết nó được đóng bằng gỗ sồi rừng, chặt năm 1042 dường như tại khu rừng Glendalough phía nam Dublin.

Từ khoảng 2000-2004, người ta đã đóng một tàu mới đúng theo phiên bản của tàu Skuldelev 2 tại Xưởng đóng tàu Viking (bên Viện bảo tàng tàu Viking nói trên). Tàu được hạ thủy ngày 4 tháng 9 năm 2004 và được Nữ hoàng Margrethe II của Đan Mạch đặt tên là Havhingsten fra Glendaglough (con ngựa đực của biển từ Glendalough). Mùa hè năm 2006, tàu này đã làm chuyến hải hành tới đảo Læso (Đan Mạch), Lysekil (Thụy Điển) Oslo, Tønsberg, Risør và Lyngør (Na Uy).

Ngày 1 tháng 7 năm 2007, tàu Havhingsten[3] này cùng với thủy thủ đoàn 61 người đã giương buồm đi Dublin (Ireland), làm một chuyến trở về cội nguồn, từ cảng Roskilde (Đan Mạch) lúc 16 giờ. Tàu đã tới Dublin ngày 14 tháng 8 năm 2007, sau 6 tuần lễ lênh đênh trên biển cả, đúng theo dự kiến mặc dù gặp thời tiết không thuận lợi, và đã đạt được tốc độ kỷ lục là 12 knot (khoảng 20 km/giờ). Đài BBC đã làm một phim tài liệu dài 50 phút về chuyến đi lịch sử này với tựa đề Timewatch và nhiều triệu người đã theo dõi. Hiện tàu Havhingsten nằm lại qua mùa đông ở Viện bảo tàng hàng hải quốc gia Ireland. Theo dự kiến, tàu sẽ bắt đầu lên đường trở lại Đan Mạch từ ngày 29.6.2008, với một thủy thủ đoàn gồm những người Đan Mạch và người Ireland.

Ngày chúa nhật lễ Phục sinh 23.3.2008 vừa qua, tại Dublin (Ireland), viên thuyền trưởng của tàu này Carsten Hvid (người Đan Mạch) đã nhân danh thủy thủ đoàn lãnh nhận giải thưởng cao quí nhất của Ireland Cork Dry Gin International Sailing Award cho chuyến đi năm ngoái với lời khen: là một thủy thủ đoàn giỏi, đã chịu đựng được các điều kiện thời tiết khắc nghiệt, giá lạnh và vô số gió mưa suốt 6 tuần lễ hải hành.

Ngoài Viện bảo tàng tàu Viking ở Roskilde nói trên, ở Na Uy cũng có Nhà bảo tàng tàu Viking (Vikingskipshuset) tại Bygdøy (tây thành phố Oslo) có trưng bày xác 4 tàu khác là tàu Tune (được đóng khoảng từ năm 900), tàu Gokstad (đóng từ khoảng cuối thế kỷ 9), tàu Oseberg (đóng từ thế kỷ 9) và tàu Borre.

Khảo cổ học[sửa | sửa mã nguồn]

Các địa điểm mai táng:

Tóm lược các sự kiện chính[sửa | sửa mã nguồn]

Các chuyến đi của người Viking
  • Năm 921: công tước Robert của Pháp định chiếm lại Nantes, nhưng thất bại
  • Năm 927: người Francs lại vây hãm Nantes trong tay Viking, nhưng vẫn thất bại
  • Năm 941: tấn công Constantinople lần 4
  • Năm 942: vua Raoul cho ám sát Vilhelm I (con của Rollo)
  • Năm 945: vua Louis IV bại trận ở sông Dives. Richard I (con của Vilhelm I) thống trị xứ Normandie. Tấn công Constantinople lần 5
  • Năm 968: tấn công vùng bờ biển Galicia (Tây ban nha)
  • Năm 971: tấn công Constantinople lần 6
  • Năm 991: người Viking Đan mạch bắt đầu đòi cái gọi là Danegæld (món nợ người Đan)
  • Năm 1000: người Na Uy Leiv Eiriksson vào vùng Bắc Mỹ
  • Năm 1013: vua Đan Mạch Svend râu ngạnh đánh chiếm và lên làm vua nước Anh. Người Na Uy Olav Haraldsson đánh phá vùng cửa sông Loire
  • Năm 1017: vua Ireland Brian Boru thắng người Viking trong trận Clontarf, chấm dứt việc người Viking chiếm đóng Ireland từ 150 năm trước. Olav Haraldsson viễn chinh sang Galicia (Tây ban nha)
  • Năm 1043: người Viking đánh bại quân Byzantin tại Puglia (nam Ý) và chiếm vùng này. Tấn công lần chót Constantinople.
  • Năm 1072: người Viking ở Normandie, dưới quyền Robert Guiscard chiếm phần lớn nước Ý byzantin
  • Năm 1081: người Viking ở Normandie xâm lấn vùng Balkans
  • Năm 1185:người Viking ở Normandie từ đảo Sicilia (Ý) lại xâm lấn Balkans và Thessalonica (nay thuộc Hy lạp)
  • Năm 1204: đội vệ binh Viking Thụy Điển bảo vệ Constantinople giải tán, sau khi quân Thập tự chinh lần 4 chiếm thành phố này.

Những người Viking nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Rollo, công tước vùng Normandie (Pháp)
  • Rurik, người Thụy Điển, thiết lập công quốc Novgorod, cái nôi của nước Nga sau này
  • Eirik Raude, người Viking đầu tiên đặt chân lên đảo Greenland năm 982
  • Leif Erikson đã tới Helluland khoảng năm 1000 (nay có lẽ là đảo Baffin) Markland (nay là Labrador) và Vinland (nay là l'Anse aux Meadows, Canada)
  • Harald Răng xanh (Harald Blåtand) thống nhất Đan mạch và hợp nhất với Na Uy
  • Gardar Svarvarsson, người Thụy Điển, đặt chân lên Iceland đầu tiên
  • Ivar Ragnarsson (Ivar Benløse), chiếm York (Bắc Anh)
  • Oleg af Novgorod, dời thủ đô từ Novgorod sang Kiev và tấn công Constantinople
  • Ragnar Lothbrok, cướp phá Paris năm 845
  • Svend Râu ngạnh (Svend Tveskæg) chiếm và làm vua Anh
  • Knude đại đế (Knude den Store) làm vua Anh, Đan mạch và Na Uy

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Roesdahl, pp. 9–22.
  2. ^ “Los vikingos en Al-Andalus (abstract available in English)”. Jesús Riosalido. 1997. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2010. 
  3. ^ Return of Dublin's Viking Warship. Retrieved 14 November 2007.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]