Robert Lewandowski

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Robert Lewandowski
Robert Lewandowski FCB.jpg
Lewandowski tại Bayern München năm 2014
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Robert Lewandowski
Ngày sinh 21 tháng 8, 1988 (26 tuổi)
Nơi sinh Warsaw, Ba Lan
Chiều cao 1,84 m (6 ft 0 in) [1]
Vị trí Tiền đạo
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Bayern München
Số áo 9
CLB trẻ
1997–2004 UKS Varsovia Warszawa
2005 KS Delta Warszawa
2005 Legia Warsaw II
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2006–2008 Znicz Pruszków 32 (21)
2008–2010 Lech Poznań 58 (32)
2010–2014 Borussia Dortmund 131 (74)
2014– Bayern München 20 (10)
Đội tuyển quốc gia
2008 U21 Ba Lan 3 (0)
2008– Ba Lan 66 (23)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải vô địch quốc gia và cập nhật lúc 21 tháng 2, 2015 (UTC).

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 18 tháng 11, 2014

Robert Lewandowski (phát âm tiếng Ba Lan: [ˈrɔbɛrt lɛvanˈdɔfskʲi] (); sinh ngày 21 tháng 8, 1988) là một cầu thủ bóng đá người Ba Lan hiện đang thi đấu cho câu lạc bộ Bayern München của Đức tại giải BundesligaĐội tuyển bóng đá quốc gia Ba Lan.

Sau khi lần lượt trở thành vua phá lưới giải hạng ba và hạng hai Ba Lan tại câu lạc bộ Znicz Pruszków, Lewandowski chuyển đến Lech Poznań và cùng câu lạc bộ này giành chức vô địch Giải vô địch bóng đá Ba Lan và cá nhân anh cũng đạt danh hiệu vua phá lưới trong mùa giải 2009-10. Năm 2010, anh sang Đức khoác áo Borussia Dortmund và cùng đội bóng này có được hai danh hiệu vô địch Bundesliga liên tiếp. Mùa hè năm 2014, anh trở thành cầu thủ của Bayern München.

Tại đội tuyển Ba Lan, Lewandowski có trận đấu đầu tiên vào tháng 9 năm 2008 và từng cùng Ba Lan tham dự giải Euro 2012. Anh hiện là một trong những cầu thủ ghi bàn hàng đầu của đội tuyển nước này.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Lewandowski bắt đầu thi đấu tại đội trẻ Partyzant Leszno và sau đó là bảy năm tại UKS Varsovia Warszawa từ năm 1997 đến năm 2004. Năm 2005, ở tuổi 16, anh chuyển đến Delta Warszawa và ký hợp đồng thi đấu chuyên nghiệp đầu tiên trong sự nghiệp tại đây.[2] Tại Delta Warszawa, anh có được bốn bàn thắng.[3]

Một năm sau, Lewandowski chuyển tới Znicz Pruszków và tại đây, mức lương của anh đã được tăng gấp ba lần so với tại Warszawa là 5.000 złoty/tháng (khoảng 1.250 euro). Ngay trong mùa giải đầu tiên, anh đã trở thành Vua phá lưới ở giải hạng ba Ba Lan và giúp đội bóng thăng hạng.[4][5] Mùa giải tiếp theo, anh lại trở thành vua phá lưới của giải hạng hai Ba Lan với thành tích 21 bàn thắng.[5]

Lech Poznań[sửa | sửa mã nguồn]

Lewandowski trong màu áo của Lech Poznań vào mùa giải 2009-10.

Tháng 6 năm 2008, Lech Poznań chiêu mộ Lewandowski từ Znicz với phí chuyển nhượng 1,5 triệu złotys.[6] Trong mùa giải 2009-10, anh đã đoạt danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất và Vua phá lưới, giúp câu lạc bộ lên ngôi vô địch Giải vô địch bóng đá Ba Lan.[4] Sau 32 bàn thắng trong 58 trận cho Poznań, Lewandowski chuyển đến Borussia Dortmund.[7]

Borussia Dortmund[sửa | sửa mã nguồn]

2010-2012[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm 2010, anh đã ký hợp đồng có thời hạn bốn năm với đội bóng Đức Borussia Dortmund với phí chuyển nhượng khoảng 4,5 triệu €.[8] Ngày 19 tháng 9, Lewandowski có được bàn thắng đầu tiên tại Bundesliga trong chiến thắng 3-1 trước Schalke 04 sau khi vào sân từ ghế dự bị thay cho Kagawa Shinji.[9] Trong mùa giải 2010-11, anh có 9 bàn thắng sau 43 trận.[4]

Ngày 1 tháng 10 năm 2011, Lewandowski có được một pha kiến tạo và một hat-trick trong chiến thắng 4–0 trước FC Augsburg.[10] Cú đúp của anh đem về chiến thắng 5-0 trước 1. FC Köln vào ngày 22 tháng 10[11] và 4-1 trước SC Freiburg vào ngày 17 tháng 12.[12] Cuối năm 2011, anh giành được danh hiệu Cầu thủ Ba Lan xuất sắc nhất năm.[13]

Anh ghi bàn thắng duy nhất trong trận đấu với Bayern München vào ngày 11 tháng 4 giúp cho Dortmund duy trì khoảng cách 6 điểm với Bayern khi mà Bundesliga 2011-12 chỉ còn bốn vòng đấu.[14] Ngày 21 tháng 4, Lewandowski kiến tạo cho Kagawa đem về chiến thắng 2–0 trước Borussia Mönchengladbach giúp Dortmund bảo vệ thành công chức vô địch.[15] Trận đấu cuối cùng của Bundesliga mùa giải 2011-12, anh lập cú đúp trong chiến thắng 4-0 trước Freiburg.[16] Lewandowski đem về cho Dortmund cú đúp danh hiệu vô địch mùa giải 2011-12 với hat-trick trong trận chung kết Cúp bóng đá Đức thắng München 5-2.[17]

Trong mùa giải 2012-13, anh phá kỷ lục ghi bàn liên tiếp của câu lạc bộ tại Bundesliga với thành tích 12 trận, vượt qua kỷ lục cũ của Friedhelm Konietzka ở mùa giải 1964-65.[18] Trong trận đấu đầu tiên của Dortmund tại UEFA Champions League 2012–13 với Ajax, Lewandowski đã ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu ở phút thứ 87.[19]

2013-2014[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 năm 2013, giám đốc điều hành của Borussia Dortmund Michael Zorc xác nhận Lewandowski sẽ không gia hạn hợp đồng và sẽ rời câu lạc bộ vào mùa hè 2013 hoặc sau mùa giải 2013-14.[20]

Ngày 24 tháng 4 năm 2013, Lewandowski trở thành cầu thủ đầu tiên trong lịch sử UEFA Champions League ghi được bốn bàn thắng trong một trận bán kết của giải đấu này trong chiến thắng 4-1 trước Real Madrid tại sân Westfalenstadion.[21] Anh đồng thời cũng là cầu thủ đầu tiên ghi được hat-trick vào lưới Real Madrid tại UEFA Champions League.[22] Ngày 25 tháng 5, anh và các đồng đội đã để thua Bayern München trong trận Chung kết UEFA Champions League 2013 với tỉ số 1-2.[23]

Ngày 27 tháng 7 năm 2013, Lewandowski giành chức vô địch Siêu cúp bóng đá Đức 2013 sau chiến thắng 4-2 trước Bayern München.[24] Anh có bàn thắng đầu tiên trong mùa giải 2013-14 trong chiến thắng 4–0 trước Augsburg tại Bundesliga vào ngày 10 tháng 8.[25] Ngày 1 tháng 11, anh lập hat-trick giúp Dortmund đại thắng VfB Stuttgart 6-1.[26]

Ngày 25 tháng 2 năm 2014, Lewandowski lập cú đúp trong trận đấu vòng 1/16 Champions League với Zenit Saint Petersburg, chính thức trở thành cầu thủ của Dortmund có thành tích ghi bàn tốt nhất tại các giải đấu Châu Âu với 16 bàn (kỷ lục cũ thuộc về Stéphane Chapuisat).[27] Anh có bàn thắng thứ 100 cho Dortmund trong trận tứ kết Cúp bóng đá Đức với VfL Wolfsburg vào ngày 16 tháng 4 năm 2014.[28]

Kết thúc mùa giải, Lewandowski trở thành vua phá lưới Bundesliga 2013–14 với 20 bàn thắng.[29] Anh có trận đấu cuối cùng cho Dortmund trong trận chung kết Cúp bóng đá Đức 2014 với Bayern München vào ngày 17 tháng 5. Chung cuộc đội bóng của anh thất thủ 2-0 sau 120 phút thi đấu.[30]

Bayern München[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 3 tháng 1 năm 2014, Lewandowski chính thức gia nhập Bayern München theo dạng chuyển nhượng tự do với bản hợp đồng có thời hạn 5 năm (kéo dài tới tháng 6 năm 2019).[31] anh trở thành cầu thủ thứ 2 trong hai năm liên tiếp nói lời chia tay Borussia Dortmund để chuyển sang khoác áo Bayern München (trước đó là tiền vệ Mario Götze). Anh chính thức ra mắt đội bóng mới vào ngày 9 tháng 7 năm 2014.[32] Tuy nhiên ngay trong trận đấu đầu tiên cho Bayern, anh đã phải chịu thất bại 2-0 trước đội bóng cũ Dortmund tại trận tranh Siêu cúp bóng đá Đức 2014 ngày 13 tháng 8 năm 2014.[33]

Anh có bàn thắng đầu tiên trong màu áo Bayern trong trận hòa 1–1 với Schalke 04 vào ngày 30 tháng 8 tại Bundesliga.[34] Ngày 1 tháng 11, trong lần đầu tiên tái ngộ đội bóng cũ Dortmund tại Bundesliga, Lewandowski đã ghi bàn giúp Bayern giành chiến thắng 2-1 trong khi Dortmund tiếp tục chìm sâu ở cuối bảng xếp hạng.[35] Lewandowski ghi được tổng cộng ba bàn thắng trong hai chiến thắng hủy diệt liên tiếp với các tỉ số 8-0 và 6-0 của Bayern trước Hamburger SVSC Paderborn 07 vào cuối tháng 2 năm 2015, nâng tổng số bàn thắng của anh cho Bayern lên con số 12.[36][37]

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Lewandowski (phải) trong trận đấu giữa Ba LanHungary vào năm 2011

Lewandowski đã có ba lần ra sân cho đội tuyển U-21 Ba Lan, trong các trận đấu giao hữu với các đội U-21 Anh, BelarusPhần Lan.

Ngày 10 tháng 9 năm 2008, anh có trận đấu đầu tiên cho Đội tuyển bóng đá quốc gia Ba Lan, ba tuần sau sinh nhật lần thứ 20 của mình trong trận đấu với San Marino tại vòng loại World Cup 2010. Mười hai phút sau khi vào sân từ ghế dự bị, anh đã có được bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển.[38]

Trong trận khai mạc vòng chung kết Euro 2012 tổ chức ngay tại quê nhà với tuyển Hy Lạp, anh đã ghi bàn thắng đầu tiên của giải đấu này bằng một pha đánh đầu. Chung cuộc Ba Lan và Hy Lạp hòa nhau với tỉ số 1-1.[39] Anh tiếp tục ra sân trong hai trận còn lại của vòng bảng với NgaCộng hòa Séc, tuy nhiên, đội tuyển Ba Lan đã phải dừng chân sau vòng bảng với chỉ 2 điểm, xếp cuối bảng A.[40][41]

Ngày 26 tháng 3 năm 2013, trong khuôn khổ lượt trận thứ 7 của vòng loại World Cup 2014 khu vực châu Âu, Lewandowski ghi được hai bàn thắng trên chấm phạt đền trong chiến thắng 5-0 trước San Marino và lượt trận thứ 9, anh chỉ có được một bàn thắng trong trận hòa 1-1 trước Montenegro.[42] Ba Lan không thể góp mặt ở World Cup 2014 do chỉ xếp thứ 4 chung cuộc với 13 điểm, 3 trận thắng, 4 trận hòa và 3 trận thua và cá nhân Lewandowski chỉ có hai bàn thắng sau vòng loại.

Vào ngày 7 tháng 9 năm 2014, trong trận đấu mở màn vòng loại Euro 2016, Lewandowski đã ghi đến bốn bàn thắng, giúp Ba Lan đè bẹp đội bóng yếu nhất bảng D - Gibraltar với tỉ số 7-0.[43]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 14 tháng 2, 2015.[44]
CLB Mùa bóng Giải đấu Giải vô địch QG Cúp QG Châu Âu Khác1 Tổng cộng
Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Znicz Pruszków 2007–08 Giải hạng I Ba Lan 32 21 2 0 34 21
Lech Poznań 2008–09 Ekstraklasa 30 14 6 2 12 4 48 20
2009–10 28 18 1 0 4 2 1 1 34 21
Tổng cộng 58 32 7 2 16 6 1 1 82 41
Borussia Dortmund 2010–11 Bundesliga 33 8 2 0 8 1 43 9
2011–12 34 22 6 7 6 1 1 0 47 30
2012–13 31 24 4 1 13 10 1 1 49 36
2013–14 33 20 4 2 8 6 1 0 46 28
Tổng cộng 131 74 16 10 35 18 3 1 185 103
Bayern München 2014–15 Bundesliga 19 8 2 1 6 2 1 0 28 11
Tổng cộng sự nghiệp 240 135 27 13 57 26 5 2 329 176

1 Siêu cúp Ba Lan, Siêu cúp Đức.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Znicz Pruszków
Lech Poznań
Borussia Dortmund

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vua phá lưới Giải hạng II Ba Lan (1): 2006-07 (15 bàn)
  • Vua phá lưới Giải hạng I Ba Lan (1): 2007-08 (21 bàn)
  • Vua phá lưới Giải vô địch bóng đá Ba Lan (Ekstraklasa) (1): 2009-10 (18 bàn)
  • Vua phá lưới Giải vô địch bóng đá Đức (Bundesliga) (1): 2013-14 (20 bàn)
  • Cầu thủ Ba Lan xuất sắc nhất năm (3): 2011, 2012, 2013

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Player profile”. Bayern München. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2014. 
  2. ^ “The making of Dortmund ace Lewandowski”. UEFA. 25 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  3. ^ Kuna, Tomasz. “.: liga polska” (bằng Tiếng Ba Lan). 90minut.pl. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  4. ^ a ă â “Lewandowski: Từ “cậu ấm” còi xương đến người hùng Champions League”. Dân Trí. 24 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  5. ^ a ă Lesniowski, Piotr (ngày 26 tháng 5 năm 2008). “"Kolejorz" walczy o króla”. Gazeta Wyborcza (bằng Tiếng Ba Lan). Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  6. ^ Ceglinski, Lukasz (ngày 11 tháng 9 năm 2008). “Bajka o Robercie Lewandowskim”. Gazeta Wyborcza (bằng Tiếng Ba Lan). Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  7. ^ “Robert Lewandowski brings goals and fortitude to Borussia Dortmund”. The Guardian. 24 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  8. ^ “Dortmund macht Lewandowski-Transfer perfekt”. focus.de (bằng Tiếng Đức). Ngày 11 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  9. ^ “Schalke 04 1–3 Borussia Dortmund”. Goal.com. Ngày 19 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  10. ^ “Borussia Dortmund 4–0 Augsburg: Lewandowski Hat-Trick Seals Emphatic Victory For Defending Champions”. Goal.com. Ngày 1 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  11. ^ “Borussia Dortmund 5–0 Koln: Five-star champions move second in Bundesliga table”. Goal.com. Ngày 22 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  12. ^ “Gündogan bestraft unaufmerksame Freiburger” (bằng Tiếng Đức). Kicker.de. Ngày 17 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  13. ^ “Lewandowski ist Polens Bester” (bằng Tiếng Đức). kicker. Ngày 12 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  14. ^ “Borussia Dortmund 1-0 Bayern Munich: Robben misses late penalty as Lewandowski goal puts hosts on brink of Bundesliga glory”. Goal.com. Ngày 11 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  15. ^ “Borussia Dortmund 2–0 Borussia Monchengladbach: Perisic and Kagawa trigger celebrations as Jurgen Klopp's men retain Bundesliga crown”. Goal.com. Ngày 21 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  16. ^ “Borussia Dortmund 4 – 0 SC Freiburg”. Sky Sports. Ngày 5 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  17. ^ “Dortmund complete double”. Sky Sports. Ngày 12 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  18. ^ “BVB-Torjäger Lewandowski überholt Konietzka” (bằng Tiếng Đức). ruhrnachrichten.de. Ngày 17 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  19. ^ James, Andy (ngày 18 tháng 9 năm 2012). “Dortmund leave it late to defeat Ajax”. UEFA. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015. 
  20. ^ “Borussia Dortmund say Robert Lewandowski will not sign new contract”. Sky Sports. Ngày 28 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015. 
  21. ^ James, Andy (ngày 24 tháng 4 năm 2013). “Four-goal Lewandowski leaves Madrid reeling”. UEFA. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  22. ^ “Jose Mourinho: Real Madrid made it easy for Robert Lewandowski”. BBC. 24 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  23. ^ “Borussia Dortmund 1 – 2 Bayern Munich”. BBC. Ngày 25 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015. 
  24. ^ “Dortmund prevail over Bayern in Supercup thriller”. bundesliga.com. Ngày 27 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015. 
  25. ^ “Aubameyang hat-trick has Dortmund flying”. Bundesliga. Ngày 10 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015. 
  26. ^ “Lewandowski shines as Stuttgart hit for six”. bundesliga.com. Ngày 1 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015. 
  27. ^ “Lewandowski najlepszym strzelcem BVB w Europie!” (bằng Tiếng Ba Lan). sport.wp.pl. Ngày 25 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015. 
  28. ^ “Lewandowski scores 100th goal for Borussia Dortmund”. Polskie Radio. Ngày 16 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  29. ^ “Lewandowski top of the charts as Dortmund thrash Hertha”. Bundesliga. Ngày 10 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  30. ^ “Bayern Munich and Borussia Dortmund set for German Cup final”. BBC Sport. Ngày 16 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015. 
  31. ^ “Robert Lewandowski unterschreibt bis 2019”. Süddeutsche Zeitung (bằng Tiếng Đức). Ngày 4 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015. 
  32. ^ “Robert Lewandowski expects to win many titles as Pole is unveiled at Bayern Munich”. The Daily Mail. Ngày 9 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  33. ^ “Aubameyang köpft BVB zum Supercup-Sieg”. kicker (bằng Tiếng Đức). Ngày 13 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  34. ^ “Bayern Munich denied win as Schalke claim 1–1 draw in Alonso debut”. ESPN FC. PA Sports. 23 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2014. 
  35. ^ “Bayern Mun 2–1 Bor Dortmd”. BBC Sport. Ngày 1 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2015. 
  36. ^ “Bayern Munich 8-0 Hamburg: Thomas Muller, Arjen Robben, Mario Gotze, Robert Lewandowski and Franck Ribery among the goals as Pep Guardiola's side ran riot at the Allianz Arena”. Mail Online. 14 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2015. 
  37. ^ “SC Paderborn 07 0–6 Bayern Mun”. BBC Sport. 23 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2015. 
  38. ^ “Euro 2012 Player Profiles: Robert Lewandowski”. SBNation.com. 29 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  39. ^ “Hy Lạp hòa Ba Lan trong trận mở màn kịch tính”. Vnexpress. 9 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  40. ^ Holyman, Ian (ngày 16 tháng 6 năm 2012). “Czechs through as Poland check out”. UEFA.com. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2013. 
  41. ^ O'Henley, Alex (ngày 17 tháng 6 năm 2012). “Over and out for Poland”. UEFA.com. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2013. 
  42. ^ Olkowicz, Łukasz; Żelazny, Piotr (ngày 6 tháng 9 năm 2013). “Polska – Czarnogóra 1:1. Futbol po raz kolejny okazał się okrutny” [Poland – Montenegro 1:1. Football has once again proved to be cruel] (bằng Tiếng Ba Lan). przegladsportowy.pl. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  43. ^ “Poland’s Robert Lewandowski scores four in seven-goal rout of Gibraltar”. The Guardian. Press Association. Ngày 7 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015. 
  44. ^ “Robert Lewandowski”. ESPN FC. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]