Kagawa Shinji

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Shinji Kagawa
香川真司
Kagawa Shinji, Japanese footballer 3.jpg
Thông tin cá nhân
Ngày sinh 17 tháng 3, 1989 (25 tuổi)
Nơi sinh Tarumi-ku, Kobe, Nhật Bản
Chiều cao 1,72 m (5 ft 7 12 in)
Vị trí Tiền vệ
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Manchester United
Số áo 26
CLB trẻ
2001–2005 FC Miyagi
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
2006–2010 Cerezo Osaka 125 (55)
2010–2012 Borussia Dortmund 47 (21)
2012– Manchester United 20 (6)
Đội tuyển quốc gia
2006-2008 U-19 Nhật Bản 4 (0)
2007 U-20 Nhật Bản 2 (0)
2008 U-23 Nhật Bản 3 (0)
2008– Nhật Bản 49 (16)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 24 tháng 04, 2012.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 12 tháng 09, 2013

Shinji Kagawa (Nhật: 香川真司 Hương Xuyên Chân Tư?, sinh ngày 17 tháng 3 năm 1989 tại Tarumi-ku, Kobe) là một cầu thủ bóng đá người Nhật Bản thi đấu ở vị trí tiền vệ. Hiện anh đang chơi cho câu lạc bộ Manchester United.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Kagawa đã bắt đầu chơi bóng trong thời gian học tiểu học. Anh đã gia nhập Câu lạc bộ bóng đá NK Kobe và sau đó chuyển đến Câu lạc bộ bóng đá Miyagi Barcelona ở Sendai,tỉnh Miyagi.CLB Cerezo Osaka nhanh chóng nhận thấy tài năng của anh và ký hợp đồng chuyên nghiệp với anh ở tuổi 17. Anh là cầu thủ đầu tiên tại Nhật Bản ký hợp đồng chuyên nghiệp trước khi tốt nghiệp trường trung học, ngoại trừ những cầu thủ được đưa lên từ các đội thanh niên của các câu lạc bộ J. League. Năm 2007,anh trở thành một nhân tố chủ lực của Cerezo, nhưng câu lạc bộ đã bỏ lỡ cơ hội thăng hạng lên J. League Division 1.

Borussia Dortmund[sửa | sửa mã nguồn]

2010-2011[sửa | sửa mã nguồn]

Anh chuyển đến Dortmund hồi tháng 7/2010 từ đội bóng Cerezo Osaka với phí chuyển nhượng chỉ 350.000 euro.Sở dĩ phí chuyển nhượng thấp như vậy là do trong hợp đồng với Cerezo Osaka có điều khoản cho phép anh ra đi như một cầu thủ tự do nếu được một CLB ở châu Âu mời sang thi đấu.

Ngày 23 Tháng Tám năm 2010, Kagawa có trận ra mắt đầu tiên của mình ở Bundesliga, bắt đầu cho câu lạc bộ mới Borussia Dortmund. Sau khi ghi được hai bàn thắng đầu tiên của mình cho câu lạc bộ ở vòng đấu loại tại Europa League trong trận gặp Qarabağ, anh tiếp tục ghi bàn trong trận đấu Bundesliga gặp Wolfsburg, mà Dortmund giành chiến thắng 2-0. Trong trận derby vùng Rurth gặp CLB Schalke 04, mà Dortmund thắng 3-1, Kagawa cho biết trước trận đấu rằng anh sẽ ghi hai bàn thắng, và sau đó đã làm được điều đó, điều này giúp anh dần trở thành một thần tượng mới của các fan BVB Dortmund.

Cuối mùa giải 2010-2011 anh đã cùng Borussia Dortmund giành chức vô địch Bundesliga I và được xếp vào đội hình 11 cầu thủ tiêu biểu của Bundesliga mùa giải này.Dù bị chấn thương khi phục vụ cho đội tuyển quốc gia tham dự AFC Asian Cup 2011 và phải nghỉ thi đấu phần lớn lượt về mùa giải đó nhưng Kagawa vẫn kịp ghi dấu ấn với 8 bàn thắng sau 18 trận ở Bundesliga và 4 bàn thắng sau 8 trận ở Europa League dù chỉ thi đấu ở vị trí tiền vệ công.

2011-2012[sửa | sửa mã nguồn]

Kagawa trở lại sau chấn thương từ cuối mùa giải trước và được xem là một trong những nhân tố chủ lực của Dortmund trong hành trình bảo vệ Đĩa bạc Bundesliga và cuộc chơi tại Champions League sau nhiều năm vắng mặt tại đấu trường này.Kagawa ghi bàn thắng đầu tiên tại Bundesliga mùa giải mới vào ngày 18 tháng chín, trong trận thua 2-1 trước Hannover 96, khi đội bóng của anh đã để thua hai bàn thắng trong ba phút cuối cùng. Ngày 22 tháng Mười, Kagawa mở tỉ số ở phút thứ bảy mở màn cho Dortmund nghiền nát 1. FC Köln 5-0 trước 80.200 người hâm mộ ngay tại Iduna Signal Park. Kagawa ghi bàn một lần nữa vào ngày 05 tháng 11 trong trận Dortmund thắng Wolfsburg 5-1. Anh đã ghi bàn danh dự muộn màng trong trận đấu với Arsenal, cuối cùng thua 2-1, kết thúc vòng đấu bảng Champions League ở vị trí cuối cùng và bị loại.

Manchester United[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa hè năm 2012, Shinji Kagawa đã gia nhập Manchester United với giá trị chuyển nhượng 12 triệu bảng kèm thêm 5 triệu nếu Kagawa thi đấu tốt. Trong những trận đấu giao hữu chuẩn bị cho mùa đầu tiên cùng MU, Kagawa đã thể hiện được giá trị với lối chơi thông minh và kỹ thuật. Shinji Kagawa có trận đấu đầu tiên cho Manchester United tại Premie league trong trận thua 0-1 trước Everton sau đó anh có trận tiếp theo cho MU tại vòng 2 khi đó MU thắng 3-2 trong đó Kagawa đóng góp bàn thắng đầu tiên cho Manchester United tại giải ngoại hạng anh. Anh gặp chấn thương trong khuôn khổ vòng bảng UEFA Champions league và phải nghỉ thi đấu khoảng 2 tháng anh có trận trở lại đội hình của MU trong trận gặp Tottenham(hoa 1-1).

Vào ngày 02 Tháng Ba 2013 trong trận đấu với Norwich city, Kagawa ghi bàn tháng đầu tiên và lập 1 cú hat-trick cho united và cũng trở thành cầu thủ châu Á đầu tiên lập hat-trick tại Premier League, trong chiến thắng 4-0 của MU. Vào ngày 22 tháng Tư, Kagawa ra sân trong trận đấu quyết định danh hiệu vô đich của mùa giải Aston Villa, anh có màn trình diễn xuất sắc và giúp quỷ đỏ giành chiến thắng 3-0, vá trở thành cầu thủ Nhật Bản đầu tiên giành danh hiệu vô địch Premier League. Vào ngày 12 tháng Năm, Kagawa đã được đưa vào đội hình xuất phát của MU để đối đầu với Swansea City trong trận đấu cuói cùng trên sân nhà của sir Alex Ferguson trước khi nghỉ hưu, và United thắng 2-1. Và anh nhận danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu. Vào ngày 19 tháng Năm, Kagawa chơi trong trận đấu cuối cùng của MU dưới thời sir Alex với West Bromwich Albion, ghi bàn thắng đầu tiên của United với một cú đánh đầu, mở đầu cho một trận cầu điên rồ kết thúc với tỉ số hòa 5-5 (cũng là trận đấu thứ 1500 của sir Alex).

Mùa đầu tiên của Kagawa ở M.U không thể nói là thành công, mà cũng chẳng thể khẳng định là thất bại. Kagawa không thất bại, vì trong năm đầu ở giải bóng đá khắc nghiệt như Premier League, giành được suất đá chính trong 17 trận quả là thành tích đáng khen. Nhưng nói anh chưa thành công, vì số 26 của M.U vẫn chưa phát huy 100% tài nghệ. Anh ghi có 6 bàn mùa qua, quá ít, và mùa giải bị gián đoạn hơn 2 tháng vì chấn thương.

Phong cách chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Kagawa sở hữu kĩ thuật cá nhân điêu luyện, với khả năng xử lí bóng tốt bằng cả 2 chân cùng nhãn quan, óc quan sát tuyệt vời. Vị trí ưa thích cũng như sở trường của anh là tiền vệ công, thi đấu ngay sau tiền đạo cắm. Rất ít cầu thủ tấn công trên thế giới có thể trở thành một số 10 đúng nghĩa. Kagawa nằm trong số ít đó. Anh có thể tạo ra những khoảng trống thuận lợi chỉ sau vài pha chạm bóng đầu tiên. Anh có khả năng “đánh hơi bàn thắng rất tốt” như lời của Klopp. Anh cũng có khả năng phối hợp nhóm với hai cánh, với hàng tiền vệ phía sau và tất nhiên là khả năng kiến tạo. Tất cả những ưu điểm của Kagawa trong lối chơi bóng ngắn đã được chứng minh ở Dortmund.

Tại Manchester United Kagawa thường đá lệch về biên trái nhưng anh vẫn phát huy tốt khả năng của mình. Trong trận đấu anh thường di chuyển rất rộng trên sân để nhận bóng cũng như điều tiết nhịp độ trận đấu, và tuy đá lệch trái nhưng khi tấn công anh thường áp sát khu vực cầu môn như một hộ công thu hút sự chú ý của hậu vệ đối phương và tìm cơ hội ghi bàn,đó gần như bản năng của anh

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Thống kê đến trước ngày 28 tháng 10 năm 2013
Câu lạc bộ Mùa giải Giải Cup Cup Liên Đoàn Châu lục Khác Tống số
Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng
Cerezo Osaka 2006 0 0 0 0 0 0 0 0
2007 35 5 1 2 36 7
2008 35 16 0 0 35 16
2009 44 27 0 0 44 27
2010 11 7 1 0 12 7
Tổng số 125 55 1 2 1 0 127 57
Borussia Dortmund 2010–11 18 8 2 0 8 4 28 12
2011–12 31 13 5 3 6 1 1 0 43 17
Tổng số 49 21 7 3 14 5 1 0 71 29
Manchester United 2012–13 20 6 3 0 0 0 3 0 26 6
2013–14 2 0 0 0 0 0 1 0 1 0 2 0
Tổng số 22 6 3 0 0 0 3 0 28 6
Tổng sự nghiệp 196 82 11 5 1 0 17 5 1 0 223 92

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 9 tháng 10, 2008 Sân vận động Niigata, Niigata, Nhật Bản  UAE
1–0
1–1
Cúp Kirin 2009
2. 4 tháng 2, 2009 Sân vận động Olympic Quốc gia, Tokyo, Nhật Bản  Phần Lan
3–0
5–1
Cúp Kirin 2009
3. 4 tháng 9, 2010 Sân vận động Nissan, Yokohama, Nhật Bản  Paraguay
1–0
1–0
Cúp Kirin 2010
4. 21 tháng 1, 2011 Sân vận động Al-Gharafa, Doha, Qatar  Qatar
1–1
3–2
Cúp bóng đá châu Á 2011
5. 21 tháng 1, 2011 Sân vận động Al-Gharafa, Doha, Qatar  Qatar
2–2
3–2
Cúp bóng đá châu Á 2011
6. 10 tháng 8, 2011 Sapporo Dome, Sapporo, Nhật Bản  Hàn Quốc
1–0
3–0
Giao hữu quốc tế
7. 10 tháng 8, 2011 Sapporo Dome, Sapporo, Nhật Bản  Hàn Quốc
3–0
3–0
Giao hữu quốc tế

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Borussia Dortmund

Manchester United

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Individual[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]