Hasebe Makoto

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Hasebe. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tên người Nhật hiện đại khi viết bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Hasebe Makoto
Makoto Hasebe cropped 2009.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Makoto Hasebe
Chiều cao 1,79 m (5 ft 10 12 in)
Vị trí Tiền vệ cánh phải, Tiền vệ trung tâm
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Eintracht Frankfurt
Số áo 20
CLB trẻ
1999–2001 Trung học Fujieda Higashi
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
2002–2007 Urawa Red Diamonds 149 (12)
2008– VfL Wolfsburg 135 (5)
2013–2014 1. FC Nürnberg 15 (0)
2014– Eintracht Frankfurt 2 (0)
Đội tuyển quốc gia
2006– Nhật Bản 78 (2)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 4 tháng 9, 2014.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 10 tháng 6, 2014

Hasebe Makoto (長谷部 誠 Trường Cốc Bộ Thành?) sinh ngày 18 tháng 1 năm 1984 tại Fujieda, tỉnh Shizuoka, Nhật Bản, là cầu thủ bóng đá người Nhật Bản, đang thi đấu ở vị trí tiền vệ cho câu lạc bộ Eintracht Frankfurt tại BundesligaĐội tuyển bóng đá quốc gia Nhật Bản. Anh đang là đội trưởng của đội tuyển Nhật Bản.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Urawa Red Diamonds[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi tốt nghiệp trung học tại trường Fujieda năm 2002, anh đã gia nhập câu lạc bộ Urawa Red Diamonds. Anh bắt đầu có mặt ở đội hình chính thức từ mùa bóng 2003. Năm 2004, anh giành giải cầu thủ trẻ xuất sắc nhất của Cúp J. League và có tên trong đội hình tiêu biểu của giải. Anh cũng được các cổ động viên Urawa bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải.

Năm 2007, anh đã cùng Urawa Red giành chức vô địch AFC Champions League 2007.[1]

Wolfsburg[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 10 năm 2007, câu lạc bộ đang thi đấu tại Serie A là A.C. Siena đã có ý muốn kí hợp đồng với Hasebe trong kì chuyển nhượng mùa đông.[2] Tuy nhiên, Hasebe đã từ chối lời mời của Siena và phát biểu: "Tôi muốn chơi bóng ở Bundesliga vì đây là môi trường thích hợp để tôi có thể phát triển sự nghiệp.[1]" Ngày 20 tháng 1 năm 2008, Hasebe chính thức trở thành cầu thủ của VfL Wolfsburg khi kí vào bản hợp đồng với câu lạc bộ chủ sân Volkswagen Arena có thời hạn đến 30 tháng 6 năm 2010. Anh cũng là cầu thủ Nhật Bản đầu tiên thi đấu cho Wolfsburg.[3]

Tháng 5 năm 2009, anh và người đồng hương Ōkubo Yoshito trở thành những cầu thủ Nhật đầu tiên giành được danh hiệu vô địch Bundesliga sau Okudera Yasuhiko.[4]

Tính đến tháng 4 năm 2010, Hasebe đã thi đấu 63 trận tại Bundesliga và ghi được 2 bàn. Tại Cúp UEFA, anh cũng ghi được 1 bàn trong trận thua 3-1 của Wolfsburg trước Paris Saint-Germain.[5] Ngày 30 tháng 4, anh đã đồng ý gia hạn hợp đồng với câu lạc bộ Đức thêm 2 năm đến ngày 30 tháng 6, 2012.[6] Huấn luyện viên Dieter Hoeness cho biết, Hasebe là mẫu cầu thủ đội nào cũng thèm muốn, luôn đáng tin cậy, không mệt mỏi và tận tâm.[7]

Ngày 17 tháng 9 năm 2011, Hasebe trở thành thủ môn bất đắc dĩ của Wolfsburg trong 15 phút cuối trận đấu với TSG 1899 Hoffenheim, khi thủ môn chính thức Marwin Hitz bị truất quyền thi đấu và đội này đã hết quyền thay người. Chung cuộc Wolfsburg thua 1-3 và Hasebe để thủng lưới một bàn.[8] Ngày 26 tháng 12 năm 2011, anh có trận đấu thứ 100 tại Bundesliga trong trận thua 2-0 trước FC Augsburg.[9]

Nürnberg[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 2 tháng 9 năm 2013, Hasebe đã ký hợp đồng có thời hạn ba năm với 1. FC Nürnberg.[10] Anh có trận ra mắt câu lạc bộ mới trong trận đấu với Eintracht Braunschweig. Do chấn thương nên Hasebe chỉ có 15 lần ra sân trong màu áo Nürnberg.[11] Cuối mùa bóng 2013-14, đội bóng của anh đã xuống hạng với vị trí áp chót.

Eintracht Frankfurt[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 2 tháng 6 năm 2014, Hasebe trở thành cầu thủ của Eintracht Frankfurt theo hợp đồng có thời hạn đến 30 tháng 6 năm 2016.[12]

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 27 tháng 12 năm 2005, Hasebe được triệu tập vào đội tuyển Nhật Bản lần đầu tiên cho trận giao hữu với đội tuyển Mỹ.[13] Sau đó, anh đã có tên trong danh sách đội tuyển Nhật Bản tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2006 tại Đức.[14]

Tại Vòng loại giải vô địch bóng đá thế giới 2010, Hasebe đã thi đấu 9 trận cho đội tuyển Nhật Bản[15] nhưng vào ngày 14 tháng 6 năm 2009, anh bị truất quyền thi đấu trong trận đấu với Uzbekistan.[16] Ngày 19 tháng 11, anh có bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển trong trận thắng 4-0 trước Hồng Kông tại Vòng loại Cúp bóng đá châu Á 2011.[17]

Ngày 10 tháng 5 năm 2010, huấn luyện viên Okada Takeshi đã công bố danh sách 23 cầu thủ Nhật Bản dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2010 tại Nam Phi trong đó có tên Hasebe.[18] Trước thềm World Cup 2010 vài ngày, Hasebe bị chấn thương trong lúc tập luyện phải nhập viện và tưởng chừng như phải vắng mặt trong trận mở màn với Cameroon.[19]

Tuy nhiên, vào ngày 14 tháng 6, Hasebe đã kịp bình phục để có ra sân từ đầu trong trận thắng Cameroon 1-0 và anh cũng chính là đội trưởng của đội tuyển Nhật trong trận đấu này.[20] Ngày 24 tháng 6, trong trận đấu cuối cùng vòng bảng với Đan Mạch, ở phút 80, khi Nhật Bản đang dẫn trước 2-0, Hasebe đã phạm lỗi với Daniel Agger trong vòng cấm và Đan Mạch được hưởng quả phạt đền giúp họ rút ngắn tỉ số xuống còn 2-1. Tuy nhiên, sau cùng Nhật Bản đã thắng 3-1 và giành quyền vào vòng 1/16.[21] Tuy nhiên, sau đó tại vòng 1/16, đội tuyển Nhật Bản đã bị loại sau khi để thua Paraguay 5-3 ở loạt sút luân lưu.

Hasebe tiếp tục có tên trong đội hình đội tuyển Nhật Bản tham dự Cúp bóng đá châu Á 2011 tại Quatar.[22] Anh ghi bàn mở tỉ số trong chiến thắng 2-1 trước Syria ở lượt trận thứ hai vòng bảng ngày 13 tháng 1.[23] Đội tuyển Nhật Bản đã giành chức vô địch giải đấu này sau khi đánh bại đội tuyển Úc 1-0 ở trận chung kết. Hasebe được ESPN Soccernet bình chọn vào danh sách 11 cầu thủ đã thi đấu xuất sắc nhất giải.[24]

Hasebe tiếp tục là đội trưởng trong danh sách 23 cầu thủ Nhật Bản tham dự World Cup 2014 tại Brasil.[25] Tại giải đấu này, đội tuyển Nhật Bản đã thi đấu không thành công khi đã bị loại ngay vòng bảng với chỉ 1 điểm sau ba trận đấu.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ Mùa bóng Giải vô địch quốc gia Cúp quốc gia Giải liên đoàn Giải châu lục Giải đấu khác Tổng cộng
Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Urawa Red Diamonds 2002 0 0 0 0 1 0 1 0
2003 28 2 1 1 9 1 38 4
2004 27 5 4 2 8 2 2 0 41 9
2005 31 2 5 2 9 2 45 6
2006 32 2 4 1 6 0 1 0 43 3
2007 31 1 1 0 2 0 17 3 51 4
Tổng cộng 149 12 15 6 35 5 17 3 3 0 219 26
VfL Wolfsburg 2007–08 16 1 1 0 17 1
2008–09 25 0 2 0 6 1 33 1
2009–10 24 1 1 0 8 0 33 1
2010–11 23 0 1 0 24 0
2011–12 23 1 1 0 24 1
2012–13 23 2 4 0 27 2
2013–14 1 0 - 1 0
Tổng cộng 135 5 10 0 14 1 159 6
1. FC Nürnberg 2013–14 9 0 0 0 9 0
Tổng cộng 9 0 0 0 9 0
Tổng cộng sự nghiệp 293 17 25 6 35 5 31 4 3 0 387 32

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 18 tháng 11, 2009 Sân vận động Hồng Kông, Hồng Kông  Hồng Kông 4-0 Thắng Vòng loại Cúp bóng đá châu Á 2011
2. 13 tháng 1, 2011 Sân vận động Câu lạc bộ thể thao Qatar, Quatar  Syria 1-0 Thắng Cúp bóng đá châu Á 2011

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Urawa Red Diamonds
VfL Wolfsburg

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đội hình xuất sắc nhất J. League: 2004
  • Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất J.League: 2004
  • Đội hình tiêu biểu Cúp bóng đá châu Á 2011

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Hasebe Makoto chính thức thuộc về CLB VfL Wolfsburg
  2. ^ Siena wants Reds' Hasebe: report
  3. ^ Wolves sign Japanese midfielder
  4. ^ Hasebe's Wolfsburg captures league title
  5. ^ Cúp UEFA: AC Milan bị loại đau đớn trong một đêm thất vọng của các nền bóng đá hàng đầu châu Âu
  6. ^ Hasebe Makoto ở lại cho đến 2012
  7. ^ Đến lượt Bochum sa thải HLV
  8. ^ “Wolfsburg's Makoto Hasebe becomes first Japanese goalkeeper in the Bundesliga”. Goal.com. 18 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2012. 
  9. ^ “Japanese in Europe: Makoto Hasebe makes 100th Bundesliga appearance but Hajime Hosogai rules the day”. Goal.com. 28 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2012. 
  10. ^ “Hasebe makes Nürnberg switch”. Bundesliga.com. 2 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013. 
  11. ^ “Transfer news: Eintracht Frankfurt have snapped up Makoto Hasebe from Nurnburg”. Sky Sports. 2 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2014. 
  12. ^ “HASEBE SWAPS NÜRNBERG FOR FRANKFURT”. Bundesliga.com. 2 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013. 
  13. ^ Nhật Bản sẽ đá giao hữu với Mỹ
  14. ^ Danh sách cầu thủ tham dự World Cup- Bảng F
  15. ^ “Thông tin về Makoto Hasebe trên trang Sky Sports”. Sky Sports. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2011. 
  16. ^ National team info: Hasebe suspended
  17. ^ Japan pulls away late in victory over Hong Kong
  18. ^ “World Cup 2010: Nakamura in Japan World Cup squad”. Goal.com. 1 tháng 6 năm 2000. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2014. 
  19. ^ Bóng mới bị chê (08/6)
  20. ^ “Japan 1-0 Cameroon”. BBC Sport. 14 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2013. 
  21. ^ Đan Mạch - Nhật Bản 1-3: Kẻ thứ hai đến từ châu Á
  22. ^ “Zaccheroni names Asian Cup squad”. FIFA. 24 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2011. 
  23. ^ “Dismissals for both sides”. ESPN Soccernet. 13 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2011. 
  24. ^ Hoàng Tùng (31 tháng 1 năm 2011). “11 gương mặt xuất sắc nhất Asian Cup 2011”. Dân Trí. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2011. 
  25. ^ “World Cup 2014: Kagawa and Yoshida in Japan squad”. BBC Sports. 12 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]