Luis Alberto Suárez

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Luis Suárez
Luis Suárez vs. Netherlands.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Luis Alberto Suárez Díaz
Ngày sinh 24 tháng 1, 1987 (27 tuổi)
Nơi sinh Salto, Uruguay
Chiều cao 1,81 m (5 ft 11 12 in) [1]
Vị trí Tiền đạo
Thông tin về CLB
CLB hiện nay FC Barcelona
Số áo 9
CLB trẻ
2003–2006 Nacional
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
2005–2006 Nacional 34 (12)
2006–2007 Groningen 37 (15)
2007–2011 Ajax 159 (111)
2011–2014 Liverpool 133 (82)
2014 - Barcelona
Đội tuyển quốc gia
2007– Uruguay 71 (39)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 11 tháng 11, 2012 (UTC).

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 15 tháng 11, 2012 (UTC)

Luis Alberto Suárez Díaz (sinh ngày 24 tháng 1 năm 1987 ở Salto) là một cầu thủ bóng đá người Uruguay hiện đang là tiền đạo của FC BarcelonaĐội tuyển bóng đá quốc gia Uruguay. Khi còn ở Ajax, chủ yếu anh chơi trong vai trò của một tiền đạo hỗ trợ phía dưới Klaas-Jan Huntelaar và sau này là Marko Pantelić. Với sự xuất hiện của Martin Jol ở Ajax, Suarez được chọn là đội trưởng, thay thế cho sự ra đi của Thomas Vermaelen. Vào năm 2010, Suarez được bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất năm của bóng đá Hà Lan, kết thúc mùa giải cùng danh hiệu vua phá lưới với 35 bàn thắng (49 bàn trên mọi mặt trận). Cũng trong năm này, Suárez cũng có tên trong danh sách các cầu thủ ghi hơn 100 bàn thắng cho Ajax, bao gồm nhiều danh thủ huyền thoại như Johan Cruyff, Marco van BastenDennis Bergkamp.[2]

Ngày 28 tháng 1 năm 2011, Ajax đã đồng ý giá chuyển nhượng 22,8 triệu £ (26,5 triệu €) của Liverpool đưa ra.[3][4] Suárez chính thức trở thành cầu thủ của Liverpool từ ngày 31 tháng 1.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Uruguay, Suárez chơi cho Club Nacional de Football. Trong quãng thời gian chơi cho đội bóng Uruguay, anh giành danh hiệu vô địch quốc gia vào năm 2006, ghi 12 bàn trong 29 lần ra sân.[5]

Groningen[sửa | sửa mã nguồn]

Suárez khi còn ở Groningen.

Sau thành công ở mùa giải đó, FC Groningen mua anh với mức giá 800.000 euro. Trong mùa giải đầu tiên ở châu Âu, Suárez thể hiện tốt ở Groningen, ghi 10 bàn trong 29 trận. Màn trình diễn ấn tượng này đã thu hút sự chú ý của một loạt các đội bóng châu Âu và ở mùa giải sau đó anh gia nhập Ajax Amsterdam với mức giá 7,5 triệu euro vào ngày 9 tháng 8 năm 2007.[6]

Ajax[sửa | sửa mã nguồn]

Vụ chuyển nhượng ban đầu tưởng như không thành công khi Suárez mất trường hợp đặc biệt trước Uỷ ban trọng tài Hà Lan.[7] Tuy nhiên, cùng ngày hôm đó, Ajax thông báo với Groningen rằng họ có thể sẽ trả giá cao hơn để mua cầu thủ này.[7] Không có Suarez trong đội hình, Ajax vẫn vô địch cúp Johan Cruijff Shield ở đầu mùa giải 2007-08.[8]

Suarez có trận ra mắt chính thức ở UEFA Champions League gặp Slavia Praha.[9] Trong trận đó anh kiếm được một quả đá phạt đền cho Ajax, tuy nhiên Klaas-Jan Huntelaar đã đá hỏng nó. Ở trận ra mắt của anh ở Eredivise, anh ghi 1 bàn, có 3 đường kiến tạo và kiếm được một quả phạt đền, giúp Ajax thắng đội mới lên hạng De Graafschap 8-1.[10] Trong trận đầu tiên anh chơi trên sân nhà Amsterdam ArenA, anh ghi 2 bàn nữa vào lưới SC Heerenveen để tiếp tục màn khởi đầu tuyệt vời trong màu áo Ajax.[11] Anh sau đó lập cú hattrick cho đội bóng trong trận gặp Willem II, để đưa số bàn tổng cộng của anh cho Ajax lên con số 14 sau 27 trận.[12][13] Anh kết thúc mùa giải đầu tiên cho Ajax với 20 bàn thắng trong 40 lần ra sân.[14]

Suárez nhận được vô số sự chú ý tiêu cực ở mùa giải 2008-09, do số thẻ vàng quá lớn mà anh phải nhận.[15] Anh phải nhận thẻ vàng thứ 7 trong trận gặp FC Utrecht trong chiến thắng 2-0 của Ajax, điều này khiến anh bị treo giò trong trận gặp ADO Den Haag.[16] Anh kết thúc mùa giải 2008-09 với 22 bàn trong 31 trận ở giải nội địa,[5] về đích thứ 2 trong danh sách các vua phá lưới, thua 1 bàn so với Mounir El Hamdaoui của AZ Alkmaar.[17]

Ở mùa giải 2009-10 anh ghi bàn thắng đầu tiên ở giải nội địa trong trận đấu thứ 2 gặp RKC Waalwijk vào ngày 8 tháng 8 năm 2009, ghi một hattrick trong chiến thắng 4-1, với bàn thắng thứ hai được ghi từ khoảng cách 25m.[18] Anh ghi thêm bàn sau khi lập cú đúp vào lưới đối thủ kình địch PSV Eindhoven, mặc dù trận đó Ajax đã thua 4-3.[19] Trong trận play-off lượt đi của Europa League, Suárez ghi 4 bàn trong chiến thắng 5-0 trước Slovan Bratislava vào ngày 20 tháng 8 năm 2009.[20] Một tháng sau, vào ngày 20 tháng 9 năm 2009, Suárez bỏ lỡ 2 quả phạt đền khi Ajax đánh bại FC Timişoara 2-1 để vào tới vòng knockout của Europa League. Vào ngày 23 tháng 12 năm 2009, anh ghi 6 bàn trong trận đấu gặp đội nghiệp dư WHC ở cúp quốc gia Hà Lan để giúp Ajax thắng 14-1.[21] Vào ngày 11 tháng 4 năm 2010, Suarez ghi 3 bàn trong hiệp 1 trận gặp VVV Venlo, lần này họ thắng 7-0. Suárez kết thúc mùa giải 2009-10 với danh hiệu vua phá lưới cùng 35 bàn (49 bàn trên mọi mặt trận) và là Cầu thủ xuất sắc nhất năm của bóng đá Hà Lan.[22]

Liverpool[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 28 tháng 1 năm 2011, Ajax đã đồng ý giá chuyển nhượng 22,8 triệu £ (26,5 triệu €) của Liverpool đưa ra.[3][4] Ngày 29 tháng 1, Liverpool thông báo Suárez đã vượt qua được cuộc kiểm tra y tế tại câu lạc bộ.[23] Ngày 31 tháng 1, hợp đồng giữa Suárez và Liverpool đã được chính thức kí kết, kéo dài 5 năm rưỡi. Tại Liverpool, anh sẽ khoác áo số 7.[24]

Suárez có trận đấu đầu tiên cho Liverpool vào ngày 2 tháng 2 gặp Stoke City tại Anfield. Anh vào sân thay Fábio Aurélio và ghi bàn đầu tiên cho Liverpool 15 phút sau đó, ấn định chiến thắng 2-0.Với phong độ ấn tượng trong màu áo LIV,có thể tin Suarez sẽ là 1 trong những sát thủ hàng đầu thế giới sau vài năm nữa.[25] Và cho đến thời điểm này,sau 28 vòng đấu của giải NHA mùa giải 2011-2012,anh đã 6 lần nổ súng ở giải ngoại hạng và có dc 10 bàn thắng ở tất cả các mặt trận, luôn lọt vào trong đội hình tiêu biểu nhờ phong độ ổn định, sự năng nổ nhiệt tình và đấy tinh quái.Anh cũng đã để lại dấu ấn cho người hâm mộ với một tuyệt phẩm câu bóng qua đầu thủ môn của CLB Norwich city và là cầu thủ quan trọng nhất của Liverpool vào mùa giải 2012-2013. Cũng trong mùa giải này, Suarez đã bị cấm thi đấu 10 trận vì lỗi cắn vào tay của hậu vệ Branislav Ivanović của Chelsea.[26]

Thi đấu quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Suárez (trái) cùng Diego Forlán ở World Cup 2010.

Suárez có trận ra mắt cho đội tuyển bóng đá quốc gia Uruguay vào ngày 8 tháng 2 năm 2007 trong chiến thắng 3-1 trước đội tuyển bóng đá quốc gia Colombia. Anh bị đuổi khỏi sân trong trận này.[27] Suárez kể từ đó luôn tham dự cùng đội tuyển Uruguay ở mọi giải đấu và ra sân từ đầu trong 4 trận đầu tiên ở vòng loại World Cup 2010. Anh ghi 2 bàn trong 4 trận, vào lưới các đối thủ BoliviaChile, cùng Diego Forlán trở thành cặp tiền đạo lợi hại.

World Cup 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 1 tháng 6 năm 2010, huấn luyện viên Óscar Tabárez cho biết Suárez sẽ được cùng đội tuyển tham dự World Cup 2010.[28] Suárez ra sân từ đầu trong cả ba trận đấu của Uruguay ở vòng bảng. Vào ngày 22 tháng 6, anh ghi bàn đầu tiên trong trận gặp Mexico giúp Uruguay đứng đầu bảng A.[29] Vào ngày 26 tháng 6, anh lập cú đúp vào lưới Hàn Quốc trong chiến thắng 2-1 giúp đội tuyển lọt tới vòng tứ kết lần đầu tiên kể từ World Cup 1970.[30]

Vào ngày 2 tháng 7, trong trận tứ kết gặp Ghana, Suárez cố tình cản bóng bằng tay ở phút cuối cùng của hiệp phụ thứ 2, từ chối bàn thắng của Ghana. Ngay lập tức anh phải nhận thẻ đỏ cho hành động này và một quả penalty được đưa ra nhưng tiền đạo Asamoah Gyan của Ghana lại đá hỏng và sau đó Uruguay thắng 4-2 trên chấm phạt đền để vào bán kết.[31] Phát biểu sau trận đấu, Suárez đã gọi pha cản phá bằng tay của mình là "bàn tay của Chúa".[32] FIFA quyết định cấm thi đấu 1 trận đối với Suaréz do đó anh đã không thể tham dự trận bán kết với Hà Lan.[33] Trong trận tranh huy chương đồng với Đức, Suárez không ghi bàn nhưng đã có pha kiến thiết thành bàn cho Edinson Cavani gỡ hoà 1-1.[34]

Copa América 2011[sửa | sửa mã nguồn]

Suárez tiếp tục có tên trong danh sách 23 cầu thủ đội tuyển Uruguay tham dự Copa América 2011 tổ chức tại Argentina.[35] Ngày 4 tháng 7 năm 2011, trong trận đầu tiên tại giải với Peru, anh ghi bàn gỡ hòa 1-1 ở cuối hiệp 1 và đây cũng là tỉ số chung cuộc của trận đấu.[36] Ngày 19 tháng 7, trong trận bán kết với chính Peru, Suárez tỏa sáng với một cú đúp mang về chiến thắng 2-0 và đưa Uruguay lọt vào trận chung kết.[37] Trong trận chung kết với Paraguay, anh ghi bàn thắng mở tỉ số ở phút 13, Uruguay giành chiến thắng chung cuộc 3-0 và có chức vô địch Copa América lần thứ 15 trong lịch sử.[38] Suárez sau đó cũng nhận giải Cầu thủ xuất sắc nhất Copa América 2011.[39]

Thế vận hội Mùa hè 2012[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 9/7/2012,anh cùng đồng đội ở LiverpoolSebastián Coates được chọn vào đội tuyển Olympic Uruguay tham gia Thế vận hội Mùa hè 2012.Ở trận đấu mở màn với Chile,Suarez lập một cú hat-trick giúp đội lội ngược dòng khi thua 0-2 rồi lại thắng 6-4 đầy kịch tính.[40] Là một trong 3 cầu thủ lớn tuổi nhất của Uruguay,Suarez sẽ là đội trưởng cho những trận đấu ở Thế vận hội.Sau trận thắng United Arab Emirates,Uruguay bị đánh bại bởi ĐT SenegalĐế Quốc Anh,Uruguay bị loại ngay từ vòng 1,Suarez không thể ghi thêm bàn thắng.

Cúp Liên đoàn các Châu lục 2013[sửa | sửa mã nguồn]

Anh được chọn vào đội hình của ĐT Uruguay để tham dự giải ở Brasil.Anh ghi một bàn thắng tuyệt đẹp trên cú đá phạt trực tiếp từ khoảng cách hơn 25m nhưng vẫn không thể giúp Uruguay chiến thắng trước ĐT Tây Ban Nha[41].Anh cũng lập cú đúp trong chiến thắng 8-0 trước Tahiti.[42]

Tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

2014 FIFA World Cup[sửa | sửa mã nguồn]

Trong trận thứ 3 nhóm D giữa Uruguay và Ý vào phút thứ 79, Suárez bị cho là đã cắn vào vai của cầu thủ hậu vệ Ý Giorgio Chiellini, đây là lần thứ 3 Suárez bị buộc tội này.[43][44][45] Từ trước tới giờ trong cuộc thi đấu World Cup án phạt nặng nhất mà cầu thủ Ý Mauro Tassotti nhận lãnh là bị cấm 8 trận vì đã làm gãy mũi của cầu thủ Tây Ban Nha Luis Enrique vào giải FIFA World Cup 1994 ở Hoa Kỳ.[46][47]

Hai ngày sau đó, hội đồng kỷ luật FIFA đã cấm Suárez đá 9 trận quốc tế kế tiếp, có nghĩa là Suarez không được tiếp tục đá trong giải này.[48][49] Anh cũng bị cấm không được tham dự các hoạt động đá banh (kể cả vào cửa một sân vận động đá banh) trong vòng 4 tháng và bị phạt 100.000 Franc Thụy Sĩ.[48][49]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Cập nhật: 6 tháng 5, 2010[50][51][52]

Câu lạc bộ Mùa giải Giải ngoại hạng Cúp quốc gia Cúp Châu Âu Cúp Liên Lục Địa Khác Tổng cộng
Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Nacional 2005–06 27 10 0 0 0 0 3 0 4 2 34 12
Tổng cộng 27 10 0 0 0 0 3 0 4 2 34 12
Groningen 2006–07 29 10 2 1 0 0 2 1 4 3 37 15
Tổng cộng 29 10 2 1 0 0 2 1 4 3 37 15
Ajax 2007–08 33 17 3 2 0 0 4 1 4 2 42 22
2008–09 31 22 2 1 0 0 10 5 0 0 43 28
2009–10 33 35 6 8 0 0 9 6 0 0 48 49
2010–11 13 7 1 1 0 0 9 4 1 0 24 12
Tổng cộng 100 81 12 12 0 0 32 16 5 2 159 111
Liverpool 2010–11 13 4 0 0 0 0 0 0 0 0 13 4
2011–12 31 11 4 3 4 3 0 0 0 0 39 17
2012–13 33 23 2 2 1 1 8 4 0 0 44 30
2013–14 13 19 0 0 1 0 0 0 0 0 16 22
Tổng cộng 90 57 6 5 6 4 8 4 0 0 110 70
Tổng sự nghiệp 256 158 20 18 6 4 45 21 13 7 340 208

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Cập nhật: 8 tháng 10, 2010[53]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 13 tháng 10, 2007 Estadio Centenario, Montevideo, Uruguay  Bolivia 1–0 5–0 Vòng loại World Cup 2010
2. 18 tháng 11, 2007 Estadio Centenario, Montevideo, Uruguay  Chile 1–0 2–2 Vòng loại World Cup 2010
3. 6 tháng 2, 2008 Estadio Centenario, Montevideo, Uruguay  Colombia 2–2 2–2 Giao hữu
4. 25 tháng 5, 2008 Ruhrstadion, Bochum, Đức  Thổ Nhĩ Kỳ 1–0 3–2 Giao hữu
5. 25 tháng 5, 2008 Ruhrstadion, Bochum, Đức  Thổ Nhĩ Kỳ 2–2 3–2 Giao hữu
6. 28 tháng 5, 2008 Ullevaal Stadion, Oslo, Na Uy  Na Uy 1–1 2–2 Giao hữu
7. 10 tháng 6, 2009 Polideportivo Cachamay, Puerto Ordaz, Venezuela  Venezuela 1–1 2–2 Vòng loại World Cup 2010
8. 9 tháng 9, 2009 Estadio Centenario, Montevideo, Uruguay  Colombia 1–0 3–1 Vòng loại World Cup 2010
9. 10 tháng 10, 2009 Estadio Olímpico Atahualpa, Quito, Ecuador  Ecuador 1–1 2–1 Vòng loại World Cup 2010
10. 3 tháng 3, 2010 AFG Arena, St. Gallen, Thụy Sĩ  Thụy Sĩ 2–1 3–1 Giao hữu
11. 22 tháng 6, 2010 Sân vận động Royal Bafokeng, Rustenburg, Nam Phi  México 1–0 1–0 World Cup 2010
12. 26 tháng 6, 2010 Sân vận động Nelson Mandela Bay, Port Elizabeth, Nam Phi  Hàn Quốc 1–0 2–1 World Cup 2010
13. 26 tháng 6, 2010 Sân vận động Nelson Mandela Bay, Port Elizabeth, Nam Phi  Hàn Quốc 2–1 2–1 World Cup 2010
14. 8 tháng 10, 2010 Sân vận động Gelora Bung Karno, Jakarta, Indonesia  Indonesia 2–1 7–1 Giao hữu
15. 8 tháng 10, 2010 Sân vận động Gelora Bung Karno, Jakarta, Indonesia  Indonesia 3–1 7–1 Giao hữu
16. 8 tháng 10, 2010 Sân vận động Gelora Bung Karno, Jakarta, Indonesia  Indonesia 5–1 7–1 Giao hữu
17. 8 tháng 6, 2011 Estadio Centenario, Montevideo, Uruguay  Hà Lan 1–0 1–1 Giao hữu
18. 4 tháng 7, 2011 Estadio del Bicentenario, San Juan, Argentina  Peru 1–1 1–1 Copa América 2011
19. 19 tháng 7, 2011 Estadio Ciudad de La Plata, La Plata, Argentina  Peru 1–0 2–0 Copa América 2011
20. 19 tháng 7, 2011 Estadio Ciudad de La Plata, La Plata, Argentina  Peru 2–0 2-0 Copa América 2011
21. 24 tháng 7, 2011 Estadio Monumental, Buenos Aires, Argentina  Paraguay 1–0 3–0 Copa América 2011
22. 7 tháng 10, 2011 Estadio Centenario, Montevideo, Uruguay  Bolivia 1–0 4–2 Vòng loại World Cup 2014
23. 11 November 2011 Estadio Centenario, Montevideo, Uruguay  Chile 1–0 4–0 Vòng loại World Cup 2014
24. 11 tháng 11, 2011 Estadio Centenario, Montevideo, Uruguay  Chile 2–0 4–0 Vòng loại World Cup 2014
25. 11 tháng 11, 2011 Estadio Centenario, Montevideo, Uruguay  Chile 3–0 4–0 Vòng loại World Cup 2014
26. 11 tháng 11, 2011 Estadio Centenario, Montevideo, Uruguay  Chile 4–0 4–0 Vòng loại World Cup 2014
27. 25 tháng 5, 2012 Sân vận động Lokomotiv, Moscow, Nga  Nga
1–0
1–1
Giao hữu
28. 10 tháng 6, 2012 Estadio Centenario, Montevideo, Uruguay  Peru
1–0
4–2
Vòng loại World Cup 2014
29. 16 tháng 10, 2012 Estadio Hernando Siles, La Paz, Bolivia  Bolivia
1–4
1–4
Vòng loại World Cup 2014
30. 14 tháng 11, 2012 PGE Arena Gdańsk, Gdańsk, Ba Lan  Ba Lan
3–1
3–1
Giao hữu

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Nacional:

Ajax:

Liverpool FC:

Đội tuyển quốc gia:

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vua phá lưới Erendivise: 2010
  • Vua phá lưới Cúp bóng đá Hà Lan: 2009-10
  • Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải Hà Lan (1): 2009-10
  • Cầu thủ xuất sắc nhất trong năm của ajax (2): 2008-09, 2009-10
  • Cầu thủ xuất sắc nhất Copa América: 2011

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “2010 FIFA World Cup – Luis SUAREZ”. FIFA.com. 7 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2010. 
  2. ^ “Suarez veertiende Ajacied met minimaal honderd goals”. Voetbal International. 28 tháng 7 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2010. 
  3. ^ a ă “Suarez verruilt Ajax voor Liverpool”. AFC Ajax (bằng Tiếng Hà Lan). 28 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2011. 
  4. ^ a ă Liverpool agree £23m Luis Suarez deal with Ajax “Liverpool agree £23m Luis Suarez deal with Ajax”. BBC Sports. 30 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2011. 
  5. ^ a ă “SUÁREZ (Luis Alberto Suárez Díaz) - Ajax and Uruguay”. Footballdatabase.com. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010. 
  6. ^ Soccer: Ajax signs Uruguayan international Luis Suarez.
  7. ^ a ă “Ajax made to pay for Suárez”. Uefa.com. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010. 
  8. ^ “Ajax wint opnieuw Johan Cruijff Schaal (in Dutch)”. Gelderlander.nl. 18 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010. 
  9. ^ “Gunners boss finds lethal weapon”. Thestandard.com.hk. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010. 
  10. ^ “Huntelaar nets four as Ajax pound De Graafschap: 1-8”. Ajax-usa.com. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010. 
  11. ^ “Ajax cruise to convincing win over Heerenveen: 4-1”. Ajax-usa.com. 26 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010. 
  12. ^ “Eredivisie round-up”. Skysports.com. 12 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010. 
  13. ^ “Suarez hat-trick leads Ajax comeback against Willem II”. Ajax-usa.com. 16 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010. 
  14. ^ Luis Suarez (24 tháng 1 năm 1987). “Luis Suarez Profile”. Soccernet.espn.go.com. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010. 
  15. ^ Ajax Boss Van Basten Furious With Suarez
  16. ^ Ajax wint bekerduel van FC Utrecht: 2-0 (in Dutch)[[]][liên kết hỏng]
  17. ^ Netherlands (23 tháng 5 năm 2009). “Special: Eredivisie Team Of The Season 2008-09”. Goal.com. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010. 
  18. ^ Associated Press 2009-08-09 03:58 AM (9 tháng 8 năm 2009). “Ajax beats RKC Waalwijk 4-1 in Dutch league”. Etaiwannews.com. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010. 
  19. ^ “Psv Beat Ajax In Seven-Goal Thriller”. Sportinglife.com. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010. 
  20. ^ Europa League (20 tháng 8 năm 2009). “Ajax 5–0 Slovan Bratislava: Superb Suarez Scores Four To Down Brave Slovakians”. Goal.com. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010. 
  21. ^ “Match: WHC vs Ajax Amsterda”. Soccernet. 23 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010. 
  22. ^ Johannes Baas (3 tháng 5 năm 2010). “Luis Suarez beste eredivisievoetballer van het jaar”. Elsevier.nl. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010. 
  23. ^ Paul Rogers (30 tháng 1 năm 2011). “Suarez passes medical”. Liverpool FC. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2011. 
  24. ^ “Liverpool sign Luis Suarez”. Liverpool FC. 31 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  25. ^ Hải Đăng (3 tháng 2 năm 2011). “Tân binh Suarez "khai hỏa" trong ngày ra mắt Liverpool”. Dân Trí. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  26. ^ Suarez bị cấm thi đấu 10 trận, VnExpress
  27. ^ Luis Suarez: Liverpool v Manchester United for Ajax South American Scoring Star
  28. ^ “Tabarez trims Uruguay team to 23”. FIFA.com. Press Association. 1 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  29. ^ “Mexico 0-1 Uruguay”. BBC Sport. 22 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2010. 
  30. ^ “Uruguay 2-1 South Korea”. BBC Sport. 26 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2010. 
  31. ^ “Uruguay 1-1 Ghana (aet)”. BBC Sport (British Broadcasting Company). 2 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2010. 
  32. ^ “Suarez trải lòng về "bàn tay của Chúa"”. Thể thao và Văn hóa. 3 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2011. 
  33. ^ Suarez bị phạt 1 trận
  34. ^ Hạ Uruguay đầy kịch tính, Đức giành ngôi "đệ tam" anh hào
  35. ^ “Uruguay chốt đội hình Copa America: Cristian Rodriguez trở lại”. Bongdatoday.vn. 29 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2011. 
  36. ^ “Suarez lập công, Uruguay vẫn bị Peru cầm hòa”. Dân Trí. 5 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2011. 
  37. ^ “Hạ Peru, Uruguay vào chung kết Copa America 2011”. Dân Trí. 20 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2011. 
  38. ^ Nhật Quang (25 tháng 7 năm 2011). “Uruguay - Paraguay 3-0: Lần thứ 15 cho Uruguay”. Thể thao & Văn hóa. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2011. 
  39. ^ Thanh Tùng (25 tháng 7 năm 2011). “Suarez giành giải Cầu thủ xuất sắc nhất Copa America”. Dân Trí. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011. 
  40. ^ Suarez lập hattrick,Uruguay thắng kịch tính
  41. ^ Siêu phẩm sút phạt của Suarez
  42. ^ Uruguay 8-0 Tahiti Tin nhanh Việt Nam & Thế giới
  43. ^ De Menezes, Jack (24 tháng 6 năm 2014). “Luis Suarez bite: Uruguay striker accused of biting Giorgio Chiellini in latest controversy during World Cup clash”. The Independent. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2014. 
  44. ^ Ogden, Mark (24 tháng 6 năm 2014). “Italy 0 Uruguay 1”. BBC Sport. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2014. 
  45. ^ “Suarez at centre of new biting row as Uruguay progress”. ESPN. 24 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2014. 
  46. ^ "Luis Suárez ‘bite’ incident leaves Uruguay striker facing long ban". The Guardian. Retrieved 25 June 2014
  47. ^ http://abcnews.go.com/Sports/wireStory/fifa-rules-suarez-ban-years-24286262
  48. ^ a ă “Luis Suárez banned for four months for biting in World Cup game”. The Guardian. 26 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2014. 
  49. ^ a ă De Menezes, Jack (26 tháng 6 năm 2014). “Luis Suarez banned: Fifa hand striker record nine-game ban AND a four month football ban for biting Giorgio Chiellini in biggest ever World Cup suspension”. The Independent. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2014. 
  50. ^ “Luis Suárez Statistics”. ESPN Soccernet. Truy cập 13 tháng 4, 2010. 
  51. ^ “Luis Suárez Statistics”. Voetbal International. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010. 
  52. ^ “Luis Suárez Statistics”. Transfermark. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010. 
  53. ^ “FIFA Player Statistics: Luis SUAREZ”. FIFA.com. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]