Đội tuyển bóng đá quốc gia Peru

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
 Peru

Huy hiệu

Tên khác La blanquirroja
La Rojiblanca
(Trắng và đỏ)
Hiệp hội Liên đoàn bóng đá Peru
Liên đoàn châu lục CONMEBOL (Nam Mỹ)
Huấn luyện viên Cờ của Uruguay Sergio Markarián (từ 7.2010)
Đội trưởng Claudio Pizarro
Thi đấu nhiều nhất Roberto Palacios (122)
Ghi bàn nhiều nhất Teófilo Cubillas (26)[1]
Sân nhà Quốc gia
Mã FIFA PER
Xếp hạng FIFA 41 (2.2014)
Cao nhất 19 (7.2013)
Thấp nhất 91 (9.2009)
Hạng Elo 34 (12.12.2013)
Elo cao nhất 12 (6.1978)
Elo thấp nhất 75 (5.1994)
Trang phục chính
Trang phục phụ
Trận quốc tế đầu tiên
Peru  0 - 4  Uruguay
(Lima, Peru; 1.11.1927)
Trận thắng đậm nhất
Peru  9 - 0  Bolivia
(Lima, Peru; 6.11.1927)
Trận thua đậm nhất
Brasil  7 - 0  Peru
(Santa Cruz, Bolivia; 26.6.1997)

Giải Thế giới
Số lần tham dự 4 (lần đầu vào năm 1930)
Kết quả tốt nhất Tứ kết (1970, 1978)
Cúp bóng đá Nam Mỹ
Số lần tham dự 34 (lần đầu vào năm 1927)
Kết quả tốt nhất Vô địch (1939, 1975)


Đội tuyển bóng đá quốc gia Peru là đội tuyển cấp quốc gia của Peru do Liên đoàn bóng đá Peru quản lý.

Thành tích quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến nay, đội tuyển Peru đã 4 lần tham dự các vòng chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới, trong đó có mặt ở giải lần đầu tiên tại Uruguay. Thành tích tốt nhất của họ là vào đến tứ kết.

Năm Thành tích Thứ hạng Số trận Thắng Hòa Thua Bàn
thắng
Bàn
thua
Cờ của Uruguay 1930 Vòng bảng 10 2 0 0 2 1 4
1934 Bỏ cuộc
1938 Không tham dự
1950 đến 1954 Bỏ cuộc
1958 đến 1966 Không vượt qua vòng loại
Cờ của México 1970 Tứ kết 6 4 2 0 2 9 9
1974 Không vượt qua vòng loại
Cờ của Argentina 1978 Tứ kết [2] 8 6 2 1 3 7 12
Cờ của Tây Ban Nha 1982 Vòng bảng 20 3 0 2 1 2 6
1986 đến 2014 Không vượt qua vòng loại
Tổng cộng 4/18 2 lần
tứ kết
15 4 3 8 19 31

Cúp bóng đá Nam Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

   

Cầu thủ nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Goalscoring for Peru National Team”. José Luis Pierrend. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2009. 
  2. ^ Thực chất là vòng bảng thứ hai, gồm 8 đội chia 2 bảng, tương đương với tứ kết

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]