Andriy Mykolayovych Shevchenko
| Andriy Mykolayovych Shevchenko | ||
| Thông tin cá nhân | ||
|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Andriy Mykolayovych Shevchenko | |
| Ngày sinh | 29 tháng 9, 1976 | |
| Nơi sinh | Dvirkivschyna, Ukrainian SSR, Liên Xô |
|
| Chiều cao | 6 ft 0 in (1,83 m) | |
| Vị trí | Tiền đạo | |
| Thông tin về CLB | ||
| CLB hiện nay | FC Dynamo Kyiv | |
| Số áo | 7 | |
| CLB trẻ | ||
| 1986–1994 | Dynamo Kyiv | |
| CLB chuyên nghiệp1 | ||
| Năm | CLB | Số trận (bàn thắng)* |
| 1994–1999 1999–2006 2006–2008 2008–2009 2009- |
Dynamo Kyiv A.C. Milan Chelsea F.C. A.C. Milan Dynamo Kyiv |
117 (60) 208 (127) 47 (9) 12 (0) |
| Đội tuyển quốc gia2 | ||
| 1994–1995 1994–1995 1995– |
Ukraine U-18 Ukraine U-21 Ukraine |
8 (5) 7 (6) 82 (37) |
|
1 Chỉ tính số trận và số bàn thắng |
||
Andriy Mykolayovych Shevchenko (tiếng Ukraina: Андрій Миколайович Шевченко, Andrij Mykolajovyč Ševčenko; sinh ngày 29 tháng 9 năm 1976 tại Dvirkivschyna, Kiev Oblast) là một cầu thủ bóng đá người Ukraina. Hiện anh đang chơi cho câu lạc bộ FC Dynamo Kyiv và tuyển Ukraina ở vị trí tiền đạo. Anh là người ghi bàn nhiều thứ 3 trong lịch sử Giải vô địch bóng đá châu Âu với 62 bàn thắng[1], chỉ sau huyền thoại Gerd Müller (62), Raúl González (68) và đồng đội Filippo Inzaghi (68).[2]
Mục lục |
[sửa] Thiếu niên
Năm Shevchenko 9 tuổi thì xảy ra thảm họa Chernobyl vào tháng 4, 1986. Làng anh bị ảnh hưởng bởi thảm họa đó, do đó gia đình đã phải bỏ nhà, di cư đi nơi khác.[3] Vào tuổi thiếu niên, anh từng là 1 tay đấm bốc tại giải thiếu niên LLWI Ukraina, nhưng sau này cảm thấy thể hình mình không phù hợp, anh quyết định chuyển sang chơi bóng đá.[cần dẫn nguồn]
[sửa] Sự nghiệp
[sửa] Dynamo Kyiv
Năm 1986, Shevchenko bị rớt trong phần lừa bóng khi thi vào trung tâm huấn luyện thể thao của thành phố Kiev, nhưng anh đã lọt vào mắt xanh của ban lãnh đạo Dynamo Kyiv trong thời gian chơi ở giải thiếu niên, và họ đã mời anh gia nhập câu lạc bộ trẻ. 4 năm sau, Shevchenko cùng đội U-14 Dynamo Kiev đoạt cúp Ian Rush (nay là Welsh Super Cup) tại Wales; anh là vua phá lưới của giải.[3]
Mùa bóng 1992-93, Shevchenko là cầu thủ ghi bàn nhiều nhất tại đội hình 2 của Dynamo với 12 bàn thắng, sự thể hiện đó khiến anh được đưa lên đội hình 1. Anh giành danh hiệu vô địch quốc gia lần thứ 2 vào mùa bóng tiếp theo, sau khi ghi 6 bàn trong 20 trận đấu, và 1 hat-trick trong trận thắng 4-0 trước FC Barcelona tại 1997-98 Champions League. Mùa bóng 1998-1999, anh ghi được 19 bàn thắng sau 23 trận tại giải quốc nội và 6 bàn sau 10 trận tại giải châu lục. Anh kết thúc 5 mùa giải chơi cho Dynamo bằng 1 chức vô địch quốc gia.
[sửa] A.C. Milan
Năm 1999, Shevchenko chuyển đến A.C. Milan với hợp đồng chuyển nhượng kỷ lục trị giá 25 triệu đô. Anh ra mắt Serie A vào ngày 28 tháng 8 năm 1999 trong trận hòa 2-2 với U.S. Lecce. Anh trở thành cầu thủ ngoại quốc đầu tiên tại Serie A giành được chức vô địch và danh hiệu vua phá lưới ngay trong mùa bóng đầu, với 24 bàn thắng sau 32 trận.
Với chức vô địch châu Âu mùa bóng 2002-2003 cùng Milan, Shevchenko cũng là cầu thủ người Ukraina đầu tiên vô địch giải này. Anh ghi tổng cộng 5 bàn thắng sau 24 trận của giải, và là người sút thành công quả Penalty vào lưới Juventus F.C. trong trận chung kết. Anh đoạt danh hiệu vua phá lưới lần thứ 2 trong sự nghiệp khi ghi nhiều bàn nhất tại Serie A mùa bóng 2003-04, với 24 bàn sau 32 trận đấu, giúp Milan đoạt Scudetto lần đầu tiên sau 4 năm. Shevchenko kết thúc 1 mùa giải thành công với phần thưởng Quả bóng vàng châu Âu 2004, trở thành cầu thủ người Ukraina thứ 3 trong lịch sử đoạt giải này (trước đó là Oleg Blokhin và Igor Belanov).
Mùa bóng 2004–05, Shevchenko bị 1 chấn thương xương mặt và phải nghỉ nhiều trận đấu, nhưng anh cũng ghi được 17 bàn.
Shevchenko đi vào lịch sử Champions League vào ngày 23 tháng 11 năm 2005, khi ghi tất cả 4 bàn thắng trong chiến thắng 4-0 của Milan trong trận đấu với Fenerbahçe SK, 1 việc mà từ trước chỉ có 4 người làm được (4 người đó là Marco van Basten, Simone Inzaghi, Dado Pršo và Ruud van Nistelrooy). Anh ghi bàn thắng cuối cùng cho Milan mùa giải ấy ở trận tứ kết với Olympique Lyonnais trong những phút cuối cùng, thế nhưng đội bóng đã phải dừng bướckhi để thua Barcelona F.C. tại trận bán kết.
Vào ngày 8 tháng 2, 2006, với bàn thắng vào lưới Treviso, anh trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thứ 2 trong lịch sử đội bóng sọc đỏ đen, chỉ sau Gunnar Nordahl, [4]
[sửa] Chelsea F.C.
Mùa hè năm 2005, chủ tịch Roman Abramovich của Chelsea tuyên bố muốn mua Shevchenko với giá 85 triệu USD (56.7 triệu Euro) và đưa Hernán Crespo sang A.C. Milan như một khoản tiền bù.[5] Milan từ chối lời đề nghị mua tiền đạo của Chelsea, nhưng đưa Crespo về đội bóng theo 1 hợp đồng cho mượn.
Mãi đến ngày 28 tháng 5, 2006, sau World Cup 2006, Shevchenko mới chuyển đến Chelsea với 1 hợp đồng trị giá £30.000.000, đó là số tiền chuyển nhượng cao nhất trong lịch sử Chelsea[6]. Anh đã nhận chiếc áo số 7. như huấn luyện viên José Mourinho nói rằng anh có thể tiếp tục mặc .[7]
Shevchenko đá trận đầu cho Chelsea vào 13 tháng 8, 2006 tại giải FA Community Shield, ghi bàn thắng đầu tiên cho đội này trong trận thua Liverpool 2-1. Anh ghi các bàn thắng vào lưới FC Porto và Valencia CF tại UEFA Champions League và 1 bàn quan trọng vào lưới Tottenham Hotspur để đưa đội bóng vào trận bán kết FA Cup. Anh kết thúc mùa bóng với tổng cộng 14 bàn sau 51 trận đấu. Trong thời gian này có lúc anh đã trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thứ 2 tại đấu trường châu Âu, với 57 bàn, Gerd Muller, nhưng vị trí này đã phải nhường lại Filippo Inzaghi trong mùa giải 2007-08.[8] Mùa giải 2006-2007 của Shevchenko kết thúc khi anh mắc phải 1 chấn thương vào gần cuối mùa bóng. Anh không được đấu trận bán kết Champions League với Liverpool và trận chung kết FA Cup với Manchester United trên sân Wembley mới vào ngày 19 tháng 5 năm 2007.[9]
Shevchenko ghi bàn thắng cuối cùng cho Chelsea trong trận hoà 1-1 với Bolton Wanderers F.C. vào cuối mùa bóng 2007-08.
[sửa] Trở lại AC Milan
Vào ngày 23 tháng 8, 2008, sau nhiều phen thoả thuận, Chelsea đồng ý cho Shevchenko trở lại chơi bóng ở Serie A với AC Milan.[10] Sau khi rời Chelsea, anh phát biểu với báo giới rằng mình "vui như vừa đoạt chức vô địch châu Âu vậy"[11].
[sửa] Trở về Dinamo Kiev
Trở lại với AC Milan trong hợp đồng cho mượn, anh cũng không đạt được thành công mong muốn và đến cuối mùa giải, anh lại quay về với Chelsea. Tại đây, do tiếp tục không được ra sân nhiều nên ngày 31 tháng 8 năm 2009, Sheva chọn phương án ra đi và trở lại Dynamo Kiev[12].
[sửa] Chơi bóng quốc tế
Shevchenko đã chơi 82 trận và ghi 36 bàn thắng cho Tuyển quốc gia Ukraina, trong đó có kỳ World Cup 2006. Anh ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên cho mình vào tháng 5 năm 1996, trong 1 trận giao hữu với Thổ Nhĩ Kỳ.
Vào tháng 3 năm 2000, Người quản lý của câu lạc bộ Dynamo là Valeri Lobanovsky trở thành huấn luyện viên trưởng của tuyển Ukraine, trong nhiệm vụ đưa đội này tham dự vòng chung kết World Cup 2002. Shevchenko ghi 10 bàn trong vòng loại, nhưng Ukraine sau đó đã bị loại tại trận đấu quyết định với Tuyển Đức. Anh ghi 1 trong 5 bàn của tuyển Ukraina tại vòng loại Euro 2008.
[sửa] Cá nhân
Shevchenko có vợ là Kristen Pazik, 1 người mẫu Mỹ. Họ gặp gỡ và hẹn hò tại Giorgio Armani hồi 2002, và cưới nhau vào 14 tháng 3 năm 2004, lễ cưới được tổ chức bí mật trên 1 sân gôn ở thủ đô Washington.[13][14] They communicate with each other in Italian,[15] though Shevchenko has made public his desire to learn English.[16] Giới truyền thông cho rằng Pazik là tác nhân rất lớn thúc đẩy Shevchenko đồng ý chuyển sang Chelsea, thành phố mà cô ta có nhiều bạn bè, và là môi trường thuận lợi để con cái họ nói tốt tiếng Anh. Shevchenko từng phát biểu rằng việc anh chuyển đến Chelsea là "do chuyện gia đình".[13]
Anh có 2 đứa con trai, Jordan (tên lấy từ huyền thoại bóng rổ nhà nghề Mỹ Michael Jordan),[15] sinh ngày 29 tháng 10 năm 2004, và Christian, sinh ngày 10 tháng 11 năm 2006. Andriy mừng sinh nhật Jordan bằng bàn thắng trong trận đấu gặp Sampdoria (AC Milan thắng 1-0).[17] AC Milan supremo Silvio Berlusconi is the Godfather of Andriy's first son, Jordan.[18] The day after Christian's birth, Shevchenko scored in a 4–0 Chelsea victory over Watford, and he and several of his teammates gathered and performed the popular "rock-the-baby" goal celebration as a tribute.[19]
Shevchenko là bạn thân của nhà thiết kế thời trang Giorgio Armani, anh từng làm người mẫu của Armani trong nhiều chương trình thời trang ở Kyiv.[13] Vào tháng 7 năm 2005, anh trở thành đại sứ của FIFA trong chuyến thăm từ thiện Làng trẻ em SOS.[20] Anh và gia đình hiện đang sống ở Virginia Water, Surrey.
[sửa] Về cái tên
Tên của Shevchenko (Viết: Андрій theo tiếng Ukraina) gặp nhiều vấn đề khi chuyển ngữ từ chữ cái kirin sang chữ cái Latin. Andriy là cách viết được sử dụng tại trang web chính của cầu thủ này ([2]). Nó cũng được sử dụng bởi UEFA, FIFA và là kiểu viết vần thông dụng nhất trên các phương tiện truyền thông nói tiếng Anh (dù tạp chí World Soccer ghi là Andrii và Sky Sports ghi Andrei). Cách phát âm chính xác là [an.ˈdrij].
Người hâm mộ của CLB Dynamo Kyiv đặt biệt danh cho anh là Sheva, từ chữ Shevchenko mà ra.
[sửa] Thống kê
[sửa] Tại câu lạc bộ
- (Tính tới 11 tháng 5, 2008)
| Thành tích cấp CLB | Giải vô địch | Cúp quốc gia | Cúp châu lục | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Mùa giải | CLB | Giải vô địch | Ra sân | Bàn thắng | Ra sân | Bàn thắng | Ra sân | Bàn thắng | Ra sân | Bàn thắng |
| Ukraine | Giải vô địch | Ukrainian Cup | Châu Âu | Tổng cộng | ||||||
| 1994-95 | Dynamo Kyiv | Premier League | 17 | 1 | 4 | 1 | 2 | 1 | 23 | 3 |
| 1995-96 | 31 | 16 | 5 | 1 | 2 | 2 | 38 | 19 | ||
| 1996-97 | 20 | 6 | 0 | 0 | 0 | 0 | 20 | 6 | ||
| 1997-98 | 23 | 19 | 8 | 8 | 10 | 6 | 41 | 33 | ||
| 1998-99 | 26 | 18 | 4 | 5 | 14 | 10 | 44 | 33 | ||
| Ý | Giải vô địch | Coppa Italia | Châu Âu | Tổng cộng | ||||||
| 1999-00 | Milan | Serie A | 32 | 24 | 5 | 4 | 6 | 1 | 43 | 29 |
| 2000-01 | 34 | 24 | 3 | 1 | 14 | 9 | 51 | 34 | ||
| 2001-02 | 29 | 14 | 3 | 0 | 6 | 3 | 38 | 17 | ||
| 2002-03 | 24 | 5 | 4 | 1 | 11 | 4 | 39 | 10 | ||
| 2003-04 | 32 | 24 | 2 | 0 | 11 | 5 | 45 | 29 | ||
| 2004-05 | 29 | 17 | 1 | 3 | 10 | 6 | 40 | 26 | ||
| 2005-06 | 28 | 19 | 0 | 0 | 12 | 9 | 40 | 28 | ||
| Anh | Giải vô địch | Cúp FA | Châu Âu | Tổng cộng | ||||||
| 2006-07 | Chelsea | Premier League | 30 | 4 | 11 | 7 | 10 | 3 | 51 | 14 |
| 2007-08 | 17 | 5 | 3 | 2 | 4 | 1 | 24 | 8 | ||
| Tổng cộng | Ukraine | 117 | 60 | 21 | 15 | 28 | 19 | 166 | 94 | |
| Ý | 208 | 127 | 18 | 9 | 70 | 37 | 296 | 173 | ||
| Anh | 47 | 9 | 14 | 9 | 14 | 4 | 75 | 22 | ||
| Tổng cộng sự nghiệp | 371 | 195 | 53 | 33 | 112 | 60 | 536 | 289 | ||
[sửa] Tại tuyển quốc gia
- (Tính tới 20 tháng 8, 2008)
| National team | Season | Apps | Goals |
|---|---|---|---|
| Ukraine | 1994–95 | 2 | - |
| 1995–96 | 2 | 1 | |
| 1996–97 | 6 | 2 | |
| 1997–98 | 4 | 3 | |
| 1998–99 | 8 | - | |
| 1999–00 | 7 | 3 | |
| 2000–01 | 7 | 5 | |
| 2001–02 | 6 | 5 | |
| 2002–03 | 6 | 2 | |
| 2003–04 | 4 | 1 | |
| 2004–05 | 8 | 5 | |
| 2005–06 | 9 | 4 | |
| 2006–07 | 4 | 2 | |
| 2007–08 | 8 | 4 | |
| 2008–09 | 1 | 0 | |
| Career Totals | 82 | 37 | |
[sửa] Bàn thắng quốc tế
- (Tính tới 27 tháng 3, 2008)
| # | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Tỉ số | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1. | 1 tháng 5 năm 1996 | Samsun, Thổ Nhĩ Kỳ | 3–2 | Thua | Giao hữu | |
| 2. | 2 tháng 4 năm 1997 | Kyiv, Ukraina | 2–1 | Thắng | Vòng loại Cúp Thế giới 1998 | |
| 3. | 7 tháng 5 năm 1997 | Kyiv, Ukraina | 1–1 | Hòa | Vòng loại Cúp Thế giới 1998 | |
| 4. | 11 tháng 10 năm 1997 | Yerevan, Armenia | 0–2 | Thắng | Vòng loại Cúp Thế giới 1998 | |
| 5. | 15 tháng 11 năm 1997 | Kyiv, Ukraina | 1–1 | Hòa | Trận Play-off của Vòng loại Cúp Thế giới 1998 | |
| 6. | 15 tháng 7 năm 1998 | Kyiv, Ukraina | 1–2 | Hòa | Giao hữu | |
| 7. | 9 tháng 10 năm 1999 | Moskva, Nga | 1–1 | Hòa | Vòng loại Cúp Châu Âu 2000 | |
| 8. | 13 tháng 11 năm 1999 | Ljubljana, Slovenia | 2–1 | Thua | Trận Play-off của Vòng loại Cúp Châu Ấu 2000 | |
| 9. | 26 tháng 4 năm 2000 | Sofia, Bulgaria | 0–1 | Thắng | Giao hữu | |
| 10. | 2 tháng 9 năm 2000 | Kyiv, Ukraina | 1–3 | Thua | Vòng loại Cúp Thế giới 2002 | |
| 11. | 7 tháng 10 năm 2000 | Yerevan, Armenia | 2–3 | Thắng | Vòng loại Cúp Thế giới 2002 | |
| 12. | ||||||
| 13. | 11 tháng 10 năm 2000 | Oslo, Na Uy | 0–1 | Thắng | Vòng loại Cúp Thế giới 2002 | |
| 14. | 28 tháng 3 năm 2001 | Cardiff, Wales | 1–1 | Hòa | Vòng loại Cúp Thế giới 2002al | |
| 15. | 1 tháng 9 năm 2001 | Minsk, Belarus | 0–2 | Thắng | Vòng loại Cúp Thế giới 2002 | |
| 16. | ||||||
| 17. | 5 tháng 9 năm 2001 | Lviv, Ukraina | 3–0 | Thắng | Vòng loại Cúp Thế giới 2002 | |
| 18. | 6 tháng 10 năm 2001 | Chorzów, Ba Lan | 1–1 | Hòa | Vòng loại Cúp Thế giới 2002 | |
| 19. | 14 tháng 11 năm 2001 | Dortmund, Đức | 4–1 | Thua | Trận Play-off vòng loại Cúp Thế giới 2002 | |
| 20. | 7 tháng 6 năm 2003 | Lviv, Ukraina | 4–3 | Thắng | Trận Play-off Vòng loại Cúp Châu Âu 2004 | |
| 21. | ||||||
| 22. | 10 tháng 9 năm 2003 | Elche, Tây Ban Nha | 2–1 | Thua | Vòng loại Cúp Châu Âu 2004 | |
| 23. | 9 tháng 10 năm 2004 | Kyiv, Ukraina | 1–1 | Hòa | Vòng loại Cúp Châu Âu 2004 | |
| 24. | 13 tháng 10 năm 2004 | Lviv, Ukraine | 2–0 | Thắng | Vòng loại Cúp Châu Âu 2004 | |
| 25. | 17 tháng 11 năm 2004 | Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ | 0–3 | Thắng | Vòng loại Cúp Thế giới 2006 | |
| 26. | ||||||
| 27. | 4 tháng 6 năm 2005 | Kyiv, Ukraine | 2–0 | Won | Vòng loại Cúp Thế giới 2006 | |
| 28. | 8 tháng 10 năm 2005 | Dnipropetrovsk, Ukraina | 2–2 | Hòa | Vòng loại Cúp Thế giới 2006 | |
| 29. | 8 tháng 6 năm 2006 | Luxembourg, Luxembourg | 0–3 | Thắng | Giao hữu | |
| 30. | 19 tháng 6 năm 2006 | Hamburg, Đức | 0–4 | Thắng | Cúp Thế giới 2006 bảng H | |
| 31. | 23 tháng 6 năm 2006 | Berlin, Đức | 1-0 | Thắng | Cúp Thế giới 2006 bảng H | |
| 32. | 6 tháng 9 năm 2006 | Kyiv, Ukraina | 3–2 | Thắng | Vòng loại Cúp Châu Âu 2008 | |
| 33. | 11 tháng 10 năm 2006 | Kyiv, Ukraina | 2–0 | Thắng | Vòng loại Cúp Châu Âu 2008 | |
| 34. | 12 tháng 9 năm 2007 | Kyiv, Ukraina | 1–2 | Thua | Vòng loại Cúp Châu Âu 2008 | |
| 35. | 13 tháng 10 năm 2007 | Glasgow, Scotland | 3–1 | Thua | Vòng loại Cúp Châu Âu 2008 | |
| 36. | 21 tháng 11 năm 2007 | Kyiv, Ukraina | 2–2 | Hòa | Vòng loại Cúp Châu Âu 2008 | |
| 37. | 26 March 2008 | Kyiv, Ukraina | 2–0 | Thắng | Giao hữu |
[sửa] Thành tựu
[sửa] Với đội bóng
- Dynamo Kyiv
- Ukrainian Premier League: 1994–95, 1995–96, 1996–97, 1997–98, 1998–99
- Ukrainian Cup: 1996, 1998, 1999
- Commonwealth of Independent States Cup: 1996, 1997, 1998
- AC Milan
- Serie A: 2003–04
- Coppa Italia: 2002–03
- Supercoppa Italiana: 2004
- UEFA Champions League: 2003
- UEFA Super Cup: 2003
- Chelsea
- FA Cup: 2007
- Football League Cup: 2007
[sửa] Danh hiệu cá nhân
- Vua phá lưới Ukrainian Premier League: 1998–99
- Commonwealth of Independent States Cup Top Scorer: 1997
- Vua phá lưới Serie A: 1999–2000, 2003–04
- Cầu thủ châu Âu của năm: về nhất năm 2004, về thứ 3 năm 1999 và 2000, thứ 4 năm 2003, thứ 5 năm 2005, thứ 8 năm 2001, có tên trong danh sách đề cử năm 1998 và 2006
- Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA: thứ 3 năm 2004, thứ 5 năm 2000, thứ 6 năm 2005, thứ 7 năm 1999, thứ 9 năm 2001, thứ 10 năm 2003, thứ 21 năm 2006
- Vua phá lưới UEFA Champions League: 1998-99, 2000–01, 2005–06
- Cầu thủ Ukraina trong năm: 1997, 1999, 2000, 2001, 2004, 2005
- Tiền đạo giỏi nhất UEFA Champions League: 1998–99
- Cầu thủ giỏi nhất trong năm của Serie A: 2000
- Là thành viên trong nhóm FIFA 100, danh sách huyền thoại sống do vua bóng đá Pelé bầu chọn.
- 100 cầu thủ vĩ đại nhất thế kỷ 20 do World Soccer bầu chọn
- Ukraine National Team Top all-time scorer
- Fourth all-time scorer in the history of European club competitions
- Cầu thủ ghi bàn nhiều thứ 2 trong lịch sử A.C. Milan
[sửa] Chú thích, tham khảo
- ^ Sheva khai hỏa trong trận AC Milan 1-0 Zürich, cập nhật 3/10/2008
- ^ Chelsea 2-0 Levski Sofia
- ^ a b Andriy Shevchenko, the lethal weapon, FIFA, 29 tháng 11 năm 2004
- ^ SHEVA 56 GOALS OFF NORDAHL, ACMilan.com, 9 tháng 2 năm 2006
- ^ AFP, “Milan reject Chelsea's world record bid for Shevchenko”, ABC, 2005-06-23. Truy cập 10 tháng 1 năm 2008.
- ^ Shevchenko transfer completed, ChelseaFC.com, 31 tháng 5 năm 2006
- ^ It's No. 7 for Sheva, ChelseaFC.com, 2 tháng 6 năm 2006
- ^ “Chelsea 2-0 Levski Sofia”, BBC Sport, 2006-12-05. Truy cập 2 tháng 6 năm 2007.
- ^ “Shevchenko will miss FA Cup final”, CNN/Reuters. Truy cập 21 tháng 5 năm 2007.
- ^ http://www.chelseafc.com/page/LatestNews/0,,10268~1373689,00.html
- ^ [1]
- ^ Shevchenko chia tay Chelsea để tìm vận hội mới
- ^ a b c Eve, James. “The hired assassin”, The Guardian, 3 tháng 9 năm 2006. Truy cập 13 tháng 5 năm 2007.
- ^ “American model wins most desirable Ukrainian football player”, Pravda, 23 tháng 7 năm 2004. Truy cập 13 tháng 5 năm 2007.
- ^ a b “The £30 million man”, The Daily Mail, 12 tháng 9 năm 2006. Truy cập 13 tháng 5 năm 2007.
- ^ “Sheva swaps Ferraris for family”, China Daily, 16 tháng 8 năm 2006. Truy cập 13 tháng 5 năm 2007.
- ^ “Shevchenko gives AC Milan victory”, CNN, 30 tháng 10 năm 2004. Truy cập 13 tháng 5 năm 2007.
- ^ Berlusconi : "I consider Sheva as my son"
- ^ Lovejoy, Joe. “Chelsea 4 Watford 0: Drogba treble floors Watford”, The Sunday Times, 12 tháng 11 năm 2006. Truy cập 13 tháng 5 năm 2007.
- ^ FIFA.com (16 tháng 6 năm 2005). Andriy Shevchenko pledges support for SOS Children's Villages. Thông cáo báo chí. Truy cập 20 tháng 5 năm 2007
[sửa] Liên kết ngoài
| Wikimedia Commons có thêm thể loại về: Andriy Mykolayovych Shevchenko |
- S7.com official web site
- Official Chelsea FC profile
- UEFA profile
- Thống kê thành tích thi đấu của Andriy Shevchenko tại Soccerbase
- Andriy Shevchenko trên Internet Movie Database
| Tiền nhiệm: Pavel Nedved |
Quả bóng vàng châu Âu 2004 |
Kế nhiệm: Ronaldinho |
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||