Andrés Iniesta
| Thông tin cá nhân | |||
|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Andrés Iniesta Luján | ||
| Ngày sinh | 11 tháng 5, 1984 | ||
| Nơi sinh | Fuentealbilla, Tây Ban Nha | ||
| Chiều cao | 1,70 m (5 ft 7 in) | ||
| Vị trí | Tiền vệ / Tiền vệ cánh | ||
| Thông tin về CLB | |||
| CLB hiện nay | Barcelona | ||
| Số áo | 8 | ||
| CLB trẻ | |||
| 1994–1996 | Albacete | ||
| 1996–2001 | Barcelona | ||
| CLB chuyên nghiệp* | |||
| Năm | CLB | Số trận† | (bàn thắng)† |
| 2001–2003 | Barcelona B | 54 | (5) |
| 2002– | Barcelona | 229 | (23) |
| Đội tuyển quốc gia‡ | |||
| 2000–2001 | U-15 Tây Ban Nha | 2 | (0) |
| 2000–2001 | U-16 Tây Ban Nha | 7 | (1) |
| 2001–2002 | U-17 Tây Ban Nha | 4 | (0) |
| 2001–2002 | U-18 Tây Ban Nha | 1 | (0) |
| 2001–2002 | U-19 Tây Ban Nha | 7 | (1) |
| 2003–2004 | U-20 Tây Ban Nha | 7 | (3) |
| 2003–2006 | U-21 Tây Ban Nha | 18 | (6) |
| 2006– | Tây Ban Nha | 54 | (9) |
| * Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia và cập nhật ngày 16 tháng 1 năm 2011. † Số trận khoác áo (số bàn thắng). |
|||
Andrés Iniesta Luján (sinh ngày 11 tháng 5 năm 1984 tại Fuentealbilla, Albacete) là cầu thủ bóng đá Tây Ban Nha, hiện chơi cho CLB Barcelona. Anh thường thi đấu ở vị trí tiền vệ cánh, đôi lúc là tiền đạo cánh (sơ đồ 4-3-3), và nằm trong số những tiền vệ hay nhất thế giới. Iniesta có khả năng cầm bóng cực tốt, đi bóng lắt léo và thi đấu thông minh; từ đó anh là trụ cột ở đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha và Barcelona.
Mục lục |
Sự nghiệp câu lạc bộ [sửa]
Barcelona F.C [sửa]
Tài năng trẻ Iniesta được các tuyển trạch viên CLB FC Barcelona phát hiện năm 12 tuổi khi đang chơi cho đội trẻ Albacete Balompié. Ngày 29 tháng 10 năm 2002 anh được ra sân lần đầu trong màu áo Barca tại đấu trường châu Âu UEFA Champions League gặp FC Brügge[1]. Anh ra sân 10 lần trong mùa giải 2003–04, trong đó có 5 trận được xếp đã chính và ghi 1 bàn cho Barcelona trong trận gặp Valencia[2]. Trong mùa bóng 2004-05, Iniesta được chính thức xếp đá chính trong 37/38 trận tại La Liga,nhiều hơn bất cứ cầu thủ nào khác mặc dù 25 trận trong số đấy là vào thay người, ghi tổng cộng 2 bàn và cùng Barcelona vô địch mùa giải năm đó[2].
mùa bóng 2005-06 đánh dấu sự thăng tiến liên tục của anh và thường được xếp đá chính. Sau chấn thương nặng của đồng đội Xavi anh đã chiếm được vị trí chính thức trong đội hình và không ngừng khẳng định tài năng xuất sắc của mình[1].
2006-2010 là giai đoạn thăng hoa rực rỡ nhất của Andrés Iniesta.Năm 2008,sau khi Ronaldinho ra đi để đến AC Milan,Iniesta được chọn làm đội trưởng mới của Barca.Theo tin tức trên báo El Mundo Deportivo,Iniesta là lựa chọn số 4 của ông Guardiola cho vị trí đội trưởng(sau Carles Puyol,Xavi và Victor Valdés)Từ đó Iniesta đã cho thấy sự quan trọng của mình trong đội hình của Barcelona.Đồng đội Samuel Eto'o khen ngợi Iniesta như sau :"Cậu ta là 1 cầu thủ xuất sắc nhất thế giới.Bất cứ lúc nào ở trong sân,Iniesta đều có thể tạo ra 1 màn phô diễn."
Đêm 27-5-2009,Iniesta đã thực hiện 1 đường kiến tạo thành bàn cho Eto'o ở phút thứ 10 trong trận chung kết Champions League 2009 với đương kim vô địch Manchester United.Chính đường kiến tạo đó đã làm thay đổi cục diện trận đấu,Barca đã thắng 1 cách tâm phục khẩu phục 2-0 trước M.U[3].Sau trận đấu Wayne Rooney đã nhận xét Iniesta là 1 trong những cầu thủ xuất sắc nhất thế giới[4].
Sự nghiệp quốc tế [sửa]
Năm 2010, anh cùng các đồng đội của mình lần đâu tiên có mặt tại chung kết World Cup 2010 tại Nam Phi. Bàn thắng của Iniesta ở phút bù giờ 117 đã giúp Tây Ban Nha lần đầu tiên vô địch World Cup 2010 và đồng thời lần đầu tiên một nước ở Châu Âu vô địch World Cup nằm ngoài Châu lục Châu Âu[5].
Cuộc sống cá nhân [sửa]
Từ năm 2008, Iniesta đã hẹn hò với Anna Ortiz,[6] và vào tháng 9 năm 2010 Anh xác nhận rằng cô ấy đã có thai với anh.[7]. Hiện tại Iniesta và Anna đã có một cô con gái tên Valeria.
Thống kê sự nghiệp [sửa]
tính đến ngày 27 tháng 1 năm 2011[2][8]
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải | Cúp | châu Âu | Khác[9] | Tổng cộng | |||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | ||
| Barcelona B | 2000–01 | 10 | 0 | – | – | – | 10 | 0 | |||
| 2001–02 | 30 | 2 | – | – | – | 30 | 2 | ||||
| 2002–03 | 14 | 3 | – | – | – | 14 | 3 | ||||
| Tổng cộng | 54 | 5 | – | – | – | 54 | 5 | ||||
| Barcelona | 2002–03 | 6 | 0 | 0 | 0 | 3 | 0 | – | 9 | 0 | |
| 2003–04 | 11 | 1 | 3 | 1 | 3 | 0 | – | 17 | 2 | ||
| 2004–05 | 37 | 2 | 1 | 0 | 8 | 0 | – | 46 | 2 | ||
| 2005–06 | 33 | 0 | 4 | 0 | 11 | 1 | 1 | 0 | 49 | 1 | |
| 2006–07 | 37 | 6 | 6 | 1 | 8 | 2 | 5 | 0 | 56 | 9 | |
| 2007–08 | 31 | 3 | 7 | 0 | 11 | 1 | – | 49 | 4 | ||
| 2008–09 | 26 | 4 | 6 | 0 | 11 | 1 | – | 43 | 5 | ||
| 2009–10 | 29 | 1 | 3 | 0 | 9 | 0 | 1 | 0 | 42 | 1 | |
| 2010–11 | 20 | 7 | 4 | 0 | 5 | 0 | 1 | 0 | 30 | 7 | |
| Tổng cộng | 230 | 24 | 34 | 2 | 69 | 5 | 8 | 0 | 341 | 31 | |
| Tổng sự nghiệp | 284 | 29 | 34 | 2 | 69 | 5 | 8 | 0 | 395 | 36 | |
Bàn thắng quốc tế [sửa]
| # | Thời gian | Địa điểm | Đối thủ | Bàn thắng | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1. | 7 tháng 2, 2007 | Old Trafford, Manchester, Anh | 1 – 0 | 1–0 | Giao hữu quốc tế | |
| 2. | 28 tháng 3, 2007 | ONO Estadi, Palma de Mallorca, Tây Ban Nha | 1 – 0 | 1–0 | Vòng loại Euro 2008 | |
| 3. | 2 tháng 6, 2007 | Sân vận động Skonto, Riga, Latvia | 2 – 0 | 2–0 | Vòng loại Euro 2008 | |
| 4. | 8 tháng 9, 2007 | Sân vận động Laugardals, Reykjavík, Iceland | 1 – 0 | 1–0 | Vòng loại Euro 2008 | |
| 5. | 17 tháng 11, 2007 | Sân vận động Santiago Bernabeu, Madrid, Tây Ban Nha | 2 – 0 | 3–0 | Vòng loại Euro 2008 | |
| 6. | 15 tháng 10, 2008 | Sân vận động Vua Baudouin, Brussels, Bỉ | 1 – 1 | 2–1 | Vòng loại World Cup 2010 | |
| 7. | 25 tháng 6, 2010 | Sân vận động Loftus Versfeld, Pretoria, Nam Phi | 2 – 0 | 2–1 | World Cup 2010 | |
| 8. | 11 tháng 7, 2010 | Soccer City, Johannesburg, Nam Phi | 1 – 0 | 1–0 | Chung kết World Cup 2010 | |
| 9. | 12 tháng 10, 2010 | Hampden Park, Glasgow, Scotland | 2 – 0 | 3–2 | Vòng loại Euro 2012 |
Danh Hiệu [sửa]
Barcelona [sửa]
- La Liga (5): 2004–05, 2005–06, 2008–09, 2009–10,2010-11
- Cúp Nhà vua Tây Ban Nha (2): 2008–09, 2011–12
- Siêu cúp Tây Ban Nha (5): 2005, 2006, 2009, 2010, 2011
- UEFA Champions League (3): 2005–06, 2008–09, 2010–11
- Siêu cúp bóng đá châu Âu (2): 2009, 2011
- Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ (2): 2009, 2011
Tây Ban Nha [sửa]
- Giải vô địch bóng đá U-16 châu Âu (1): 2001
- Giải vô địch bóng đá U-19 châu Âu (1): 2002
- Euro (2): 2008, 2012
- World Cup (1): 2010
Cá Nhân [sửa]
- Đội hình tiêu biểu của Euro 2008
- Giải thưởng Don Balón cho cầu thủ Tây Ban Nha xuất sắc nhất trong năm: 2009
- FIFPro World XI: 2009, 2010, 2011
- Tiền vệ tấn công xuất sắc nhất La Liga: 2009
- Đội hình UEFA trong năm: 2009, 2010
- Ballon d'Or: Xếp hạng 4 năm 2009
- Đội hình toàn sao World Cup 2010
- Prince of Asturias Awards: 2010
- Quả bóng vàng FIFA: Xếp hạng 2 năm 2010
- Đội hình tiêu biểu của Euro 2012
- Cầu thủ xuất sắc nhất Euro 2012
Chú thích [sửa]
- ^ a b "Iniesta, Barcelona's quiet man"
- ^ a b c "Andrés Iniesta",ESPN
- ^ McCarra, Kevin (27 May 2009). "Manchester United fold without a fight as Barcelona claim Champions League", The Guardian.
- ^ Mole, Giles (28/5/2009). "Manchester United v Barcelona: Wayne Rooney backs Andres Iniesta for Ballon d'Or", The Daily Telegraph.
- ^ “Iniesta sinks Dutch with late strike”. ESPN Soccernet.
- ^ Satherly, Jessica (21/7/2010), Spain's World Cup hero Andres Iniesta works on his tan with bronzed WAG but can't shift his nickname 'The Pale Knight', Daily Mail, truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2010
- ^ Rogers, Iain (20/9/2010), Soccer-Spain World Cup hero Iniesta to become a father, Reuters, truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2010
- ^ “Official site statistics”. Fcbarcelona.cat. Truy cập 17/6/2010.
- ^ Bao gồm các giải đấu Siêu cúp bóng đá Tây Ban Nha, Siêu cúp bóng đá châu Âu, FIFA Club World Cup
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Andrés Iniesta. |
|
|||||