Gerard Piqué

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Gerard Piqué
Gerard Piqué Euro 2012 vs France 01.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Gerard Piqué Bernabeu
Ngày sinh 2 tháng 2, 1987 (27 tuổi)
Nơi sinh Barcelona, Tây Ban Nha
Chiều cao 1,92 m (6 ft 3 12 in) [1]
Vị trí Trung vệ
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Barcelona
Số áo 3
CLB trẻ
1997–2004 Barcelona
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
2004–2008 Manchester United 12 (1)
2006–2007 Zaragoza (Cho mượn) 22 (2)
2008– Barcelona 73 (4)
Đội tuyển quốc gia
2002–2003 U-16 Tây Ban Nha 7 (2)
2004 U-17 Tây Ban Nha 8 (3)
2006 U-19 Tây Ban Nha 8 (3)
2007 U-20 Tây Ban Nha 5 (1)
2006–2008 U-21 Tây Ban Nha 12 (1)
2009– Tây Ban Nha 29 (4)
2004– Catalonia 4 (0)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 22 tháng 1 năm 2011.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 18 tháng 11 năm 2010

Gerard Piqué Bernabeu (sinh ngày 2 tháng 2 năm 1987Barcelona, Catalonia) là một cầu thủ bóng đá người Tây Ban Nha, hiện là trung vệ của FC Barcelona.

Một sản phẩm của lò đào tạo Barca, anh rời câu lạc bộ để tới Manchester United năm 2004, ở đây 4 năm trước khi về lại Barca dưới sự dẫn dắt của Josep Guardiola, và giúp Barca trở thành đội bóng đầu tiên của Tây Ban Nha dành cú ăn ba. Pique là cầu thủ thứ 4 - sau Marcel Desailly, Clarence SeedorfPaulo Sousa - giành cúp C1 trong 2 năm với 2 đội bóng khác nhau.

Pique cũng là thành viên của đội tuyển Tây Ban Nha, có trận ra mắt vào ngày 11 tháng 2 năm 2009, và tính đến tháng 9 năm 2009, anh có 13 lần ra sân và ghi 4 bàn. Anh là nhà vô địch World Cup 2010.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Pique bắt đầu sự nghiệp cùng đội trẻ Barcelona, nhưng trước khi anh kí bản hợp đồng chuyên nghiệp, anh quyết định gia nhập Manchester United. Đội bóng tới từ nước Anh không phải trả khoản phí nào cho Pique bởi anh quá trẻ để kí bản hợp đồng chuyên nghiệp.

Manchester United[sửa | sửa mã nguồn]

Pique có trận ra mắt cho MU vào tháng 10 năm 2004 sau khi vào thay John O'Shea ở trong trận thắng 3-0 ở Carling Cup trước Crewe Alexandra. Anh có trận ra sân đầy đủ đầu tiên vào ngày 26 tháng 3 năm 2006 trong trận gặp West Ham United ở giải Ngoại hạng Anh.

Với màn trình diễn thuyết phục, anh được kí hợp đồng từ tháng 2 năm 2005 và có thời hạn đến mùa hè năm 2009. Vào ngày 4 tháng 8 năm 2006, Real Zaragoza mượn Pique. Ở đây, anh đã có 22 trận ra sân trong một quãng thời gian thành công bên cạnh Gabriel Milito.

Pique trở lại Old Trafford vào mùa giải 2007-08. Anh mở tỉ số trong trận đầu tiên ở cúp C1, trận thắng 4-0 trước Dynamo Kyiv vào ngày 7 tháng 11 năm 2007. Nhờ vậy, anh trở thành cầu thủ thứ 450 ghi ít nhất 1 bàn cho đội bóng. Anh có bàn thắng thứ hai của mình cho MU cũng trong khuông khổ cúp C1 trong trận lượt đi thắng Roma vào ngày 12/12/2007

Trở lại Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 27 tháng 5 năm 2008, Pique kí bản hợp đồng 4 năm cùng Barca, mức phí không được tiết lộ, cùng điều khoản giải phóng hợp đồng lên tới 50 triệu euro. Anh cho biết niềm vui sướng khi được trở lại đội bóng cũ, đồng thời cũng cho biết anh thích quãng thời gian cùng Manchester United;

"Tôi rất hạnh phúc vì được quay lại, tôi không nghĩ tôi có thể ở đây nhưng điều này thật tuyệt với tôi. Manchester là một đội bóng lớn và tôi đã thưởng thức những chiến thắng. Được chơi cùng những cầu thủ hàng đầu đã giúp tôi và giờ đây tôi muốn điều này tiếp tục ở Barca".

Pique ghi bàn đầu tiên cho Barca trong chiến thắng 5-2 trước Sporting CP vào ngày 26 tháng 11 năm 2008. Bàn đầu tien của anh ở giải quốc nội đến 2 tháng sau, vào ngày 29 tháng 1 năm 2009, trong trận đấu ở Copa del Rey gặp Espanyol. Pique ghi bàn thắng đầu tiên ở La Liga cho Barca vào ngày 2 tháng 5 năm 2009 trong chiến thắng 6-2 trước Real Madrid. Vào ngày 13 tháng 5 năm 2009, anh có danh hiệu đầu tiên cùng FC Barcelona khi vượt qua Athletic Bilbao để giành cúp Copa del Rey. 3 ngày sau, Barca chính thức giành La Liga sau khi Real Madrid thua 3-2 trước Villarreal CF, trong khi mùa giải chỉ còn 2 trận nữa.

Anh chơi trận chung kết cúp C1 vào ngày 27 tháng 5, trận đấu mà Barca thắng 2-0, hoàn thành cú ăn ba của đội bóng. Anh trở thành cầu thủ thứ 3 vô địch cúp châu Âu cùng 2 đội bóng khác nhau trong 2 mùa giải, sau Marcel DesaillyPaulo Sousa.

Thi đấu quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Pique từng là thành viên đội U19 Tây Ban Nha vô địch giải U19 châu Âu ở Ba Lan. Sau đó, anh cùng đội U20 tham dự giải Vô địch U20 thế giới vào năm 2007. Pique ra sân trong cả 6 trận và ghi 1 bàn trong trận gặp Brazil. Tuy nhiên, cú đá hỏng penalty của Pique trong trận gặp Cộng hoà Séc đã khiến Tây Ban Nha bị loại ở tứ kết. Vào ngày 6 tháng 2 năm 2009, Pique được triệu tập vào đội tuyển Tây Ban Nha để chuẩn bị cho trận giao hữu gặp đội tuyển Anh, và đó cũng chính là trận ra mắt của anh.

Các bàn thắng trong các trận đấu quốc tế
# Thời gian Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1[2] 28 tháng 3, 2009 Sân vận động Santiago Bernabéu, Madrid, Tây Ban Nha  Thổ Nhĩ Kỳ 1 – 0 1 – 0 Vòng loại World Cup 2010
2[3] 12 tháng 8, 2009 Philip II Arena, Skopje, Macedonia  Cộng hòa Macedonia 2 – 2 2 – 3 Giao hữu quốc tế
3[4] 5 tháng 9, 2009 Sân vận động Riazor, A Coruña, Tây Ban Nha  Bỉ 3 – 0 5 – 0 Vòng loại World Cup 2010
4[5] 14 tháng 10, 2009 Sân vận động Bilino Polje, Zenica, Bosnia và Herzegovina  Bosna và Hercegovina 0 – 1 2 – 5 Vòng loại World Cup 2010

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 27 tháng 1 năm 2011[6]

Câu lạc bộ Mùa giải Giải Cúp League Cup châu Âu Khác[7] Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Manchester United 2004–05 0 0 1 0 1 0 1 0 0 0 3 0
2005–06 3 0 2 0 2 0 0 0 0 0 7 0
Real Zaragoza (Cho mượn) 2006–07 22 2 6 1 0 0 0 0 28 3
Tổng cộng 22 2 6 1 0 0 0 0 28 3
Manchester United 2007–08 9 0 0 0 1 0 3 2 0 0 13 2
Tổng cộng 12 0 3 0 4 0 4 2 0 0 23 2
Barcelona 2008–09 25 1 6 1 14 1 0 0 45 3
2009–10 32 2 1 0 11 2 5 0 49 4
2010–11 16 1 4 0 6 0 1 0 27 1
Tổng cộng 73 4 11 1 31 3 6 0 121 8
Tổng sự nghiệp 107 6 20 2 4 0 35 5 6 0 172 13

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Manchester United
Barcelona

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Ban Nha
U-19 Tây Ban Nha

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Gerard Piqué Bernabeu”. fcbarcelona.com. Truy cập 18/5/2010. 
  2. ^ “Spain 1-0 Turkey: Pique debut, scored his first international goal at the Bernabeu (video)”. rtve.es. 28/3/2009. Truy cập 29/9/2010. 
  3. ^ “Macedonia 2-3 Spain: Pique scored the tying goal (video)”. rtve.es. 8 tháng 12 năm 2009. Truy cập 29/9/2010. 
  4. ^ “Spain 5-0 Belgium: Pique scored the third goal (video)”. rtve.es. 9 tháng 5 năm 2009. Truy cập 29/9/2010. 
  5. ^ “Bosnia 2-5 Spain: Pique opened the scoring with a great header (video)”. rtve.es. 14/10/2009. Truy cập 29/9/2010. 
  6. ^ “Statistics 2008–09 — Gerard Piqué Bernabeu”. FCBarcelona.cat. FC Barcelona. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2009. 
  7. ^ bao gồm các giải đấu Siêu cúp Anh, Siêu cúp bóng đá Tây Ban Nha, Siêu cúp bóng đá châu Âu, Cúp bóng đá liên lục địa, Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ
  8. ^ “Bumper Go Figure: Season In Numbers”. Football365.com. 12 tháng 5 năm 2008. Truy cập 25 tháng 5 năm 2008. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]