Iker Casillas

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Iker Casillas
Iker Casillas Euro 2012 vs France.jpg
Casillas năm 2012
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Iker Casillas Fernández[1]
Chiều cao 1,85 m (6 ft 1 in)[2]
Vị trí Thủ môn
Thông tin câu lạc bộ
CLB hiện tại Real Madrid
Số áo 1
CLB trẻ
1990–1998 Real Madrid
CLB Chuyên nghiệp*
Năm CLB Trận (Bàn)
1998–1999 Real Madrid C 26 (0)
1999 Real Madrid B 4 (0)
1999– Real Madrid 476 (0)
Đội tuyển quốc gia
1996 Spain U15 1 (0)
1996–1998 Spain U16 19 (0)
1997–1999 Spain U17 10 (0)
1999 Spain U18 4 (0)
1999 Spain U20 2 (0)
1999–2000 Spain U21 5 (0)
2000– Tây Ban Nha 153 (0)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng
được ghi ở giải Vô địch quốc gia
cập nhật ngày 20:24, 20 January 2013 (UTC).

† Số trận khoác áo (Số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG và
số bàn thắng được cập nhật
ngày 22:04, 15 October 2013 (UTC)

Iker Casillas Fernández sinh ngày 20 tháng 5 năm 1981 tại Madrid, là thủ môn đội trưởng của Tây Ban Nha. Anh được biết đến như một trong những thủ môn xuất sắc nhất thế giới hiện nay. Anh là thủ môn chính của câu lạc bộ Real Madrid, cũng như đội tuyển quốc gia.

Anh đã cùng câu lạc bộ Real Madrid đánh bại Bayer 04 Leverkusen khi vào thay cho thủ môn César Sánchez ở phút 65, để bước lên ngôi vô địch UEFA Champions League mùa bóng 2002.

Bên cạnh đó, anh cũng chính là nhân tố rất quan trọng giúp Tây Ban Nha mang về 3 chức vô địch Euro 2008, World Cup 2010Euro 2012 cho quê hương và hiện đang được đề cử để trở thành cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu cũng như thế giới 2008.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Casillas đã bắt đầu trong đội hình trẻ của Real Madrid trong mùa 1990-91. Ngày 27 tháng 11 năm 1997 ở tuổi 16 anh lần đầu tiên được gọi lên đội hình chính trong trận đối mặt với Rosenborg tại Champions League, nhưng đã không được ra sân cho đến mùa giải 1998-1999,mùa giải anh ra mắt ở đội một, và làm thủ môn dự bị cho Bodo Illgner. Đến mùa tiếp theo, anh đẩy Illgner lên băng ghế dự bị và trở thành sự lựa chọn số một. Năm 2000, anh trở thành thủ môn trẻ nhất từng chơi ở Champions League khi Real Madrid đánh bại Valencia ở chung kết 3-0 và lên ngôi vô địch, chỉ bốn ngày sau khi sinh nhật thứ mười chín.

Casillas bị mất vị trí của mình cho César Sánchez sau sự thể hiện kém trong thời gian chuẩn bị mùa giải 2001-02, nhưng tìm lại chính mình khi Sánchez bị một chấn thương ở những phút cuối cùng trong trận chung kết Champions League năm 2002. Casillas vào sân thay người và đã thi đấu suất sắc qua đó đánh bại Bayer Leverkusen giúp Real Madrid giành vương miện Champions League. Real Madrid thắng 2-1 và Casillas đã duy trì vị trí số 1 trong khung thành Real Madrid từ đó đến giờ.

Mùa giải 2007-08 là một mùa giải thành công của Casillas khi anh đã giúp Real Madrid giành lại danh hiệu La Liga lần 31 của họ và chỉ bị thủng lưới 32 bàn thắng trong 36 trận đấu để giành giải thưởng cá nhân Zamora Trophy. Ngày 14 Tháng Hai 2008,Casilalas và đội trưởng Raúl González đã được trao hợp đồng mới. Casillas đã ký gia hạn hợp đồng với câu lạc bộ cho đến năm 2017, với một điều khoản mở rộng, nếu anh chơi 30 trận đấu trong mùa giải cuối cùng của hợp đồng và điều khoản mua lại 113 triệu bảng. Phong độ xuất sắc mang về cho anh một vị trí trong đội hình tiêu biểu mùa giải của UEFA của lần thứ hai.

Thi đấu quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Casillas ra mắt đội trẻ U-17 Quốc gia.Ở tuổi 16,anh là cầu thủ trẻ nhất trong đội hình Tây Ban Nha tham dự Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới Sau đó anh làm đội trưởng cho U-17.Hai năm sau,Casillas tiếp tục giành chức vô địch Giải vô địch bóng đá trẻ thế giớiCúp UEFA Meridian.

Casillas ăn mừng chức vô địch Euro 2012

Casillas không được sử dụng tại Euro 2000.Anh được chọn vào danh sách Đội tuyển Tây Ban Nha tham dự World Cup 2002.Ban đầu là để dự bị cho Santiago Cañizares.Thật trùng hợp khi Santiago Cañizares dính chấn thương và rút lui khỏi giải đấu,Casillas trở thành thủ môn số 1 của Tây Ban Nha.Anh đóng một vai trò quan trọng trong quá tình tiến bước của Tây Ban NhaWorld Cup 2002 khi có hai pha cứu thua hai quả penalty ở vòng 1/16 với Ireland.Mọi người phong cho anh biệt danh là "Thánh Iker"

Ở vòng sơ loại Euro 2004, Casillas chỉ để thủng lưới 4 bàn. Giữ sạch lưới trong cả chặng thứ hai, và là thủ môn số 1 của Tây Ban NhaEuro 2004

Ngày 29-8-2008, Casillas cùng Tây Ban Nha vô địch Euro 2008 sau khi đánh bại Đức 1-0 ở trận chung kết. Anh xếp thứ 4 trong cuộc bầu chọn Quả bóng vàng Châu Âu 2008 sau Cristiano Ronaldo, Lionel Messi và người đồng hương Fernando Torres. Cũng trong năm 2008, Casillas được chọn là thủ môn xuất sắc nhất thế giới theo IFFHS.

Ngày 5-12-2009, sau trận thắng 5-0 trước Bỉ ở vòng loại World Cup 2010, Casillas san bằng kỉ lục quốc gia của Andoni Zubizarreta với 56 trận giữ sạch lưới.

Ngày 11-6-2010, đội trưởng Casillas cùng với Tây Ban Nha lần đầu tiên vô địch World Cup với chiến thắng 1-0 trước Hà Lan. Anh nhận được phần thưởng Găng tay vàng với thành tích giữ đền xuất sắc ở World Cup 2010. Casillas chỉ để lọt lưới có 2 lần trên hành trình tiến vào trận chung kết và đăng quang ngôi vô địch cùng Tây Ban Nha.

Ngày 2-7-2012, anh cùng Tây Ban Nha bảo vệ thành công chức vô địch Euro và đi vào lịch sử với tư cách là đội bóng đầu tiên giành 3 chức vô địch ở 3 giải đấu lớn liên tiếp.

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển trẻ quốc gia Tây Ban Nha[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giải vô địch bóng đá châu Âu (2): 2008,2012
  • Giải vô địch bóng đá thế giới (1): 2010
  • Năm 2012, tại Euro 2012 đồng tổ chức tại Ba LanUkraina, Iker Casillas đã cùng đồng đội ở đội tuyển Tây Ban Nha bảo vệ thành công ngôi vô địch Euro với tỉ số 4-0 trước đội tuyển Ý, đồng thời phá bỏ lời nguyền Euro (chưa có đội bóng nào trong lịch sử bóng đá bảo vệ thành công chức vô địch Euro) và đó cũng là chiến thắng đậm nhất ở một trận chung kết euro trong lịch sử. Chiến thắng này đã giúp Iker Casillas được ghi tên vào ngôi đền huyền thoại cùng đồng đội ở đội tuyển quốc gia Fernando Torres (người đầu tiên trong lịch sử ghi bàn trong hai trận chung kết Euro liên tiếp).

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giải Bravo của tạp chí tuần Ý "Guerin Sportivo": 2000
  • Giải Don Balón: 2000
  • Đội tuyển UEFA của năm (3): 2007, 2008 và 2009
  • Đội tuyển của năm do tờ "European Sports Magazines" bình chọn (1): 2007-08
  • Giải "Ricardo Zamora Trophy" do tờ MARCA bình chọn (1): 2007-08
  • Đội hình tiêu biểu của UEFA (1): 2008
  • Đội hình tiêu biểu của năm do Hiệp hội các cầu thủ chuyên nghiệp quốc tế (FIFPro) bình chọn (2): 2007-08, 2008-09
  • Thủ môn xuất sắc nhất thế giới do Hiệp hội các cầu thủ chuyên nghiệp quốc tế (FIFPro) bình chọn (2): 2007-08, 2008-09
  • Đội hình tiêu biểu của năm FIFA bình chọn (1): 2008-09
  • Găng tay Vàng World Cup: 2010

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

CLB[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 16 tháng 11 năm 2012
Năm La Liga League Cup Europe Khác1 Tổng
Trận Bàn thua Trận Bàn thua Trận Bàn thua Trận Bàn thua Trận Bàn thua
Real Madrid
1999–2000 27 23 5 1 12 19 3 5 47 48
2000–01 34 36 0 0 11 15 2 4 47 55
2001–02 25 27 5 5 9 7 1 0 40 39
2002–03 38 42 0 0 15 21 2 1 55 64
2003–04 37 49 2 1 9 10 2 2 50 62
2004–05 37 30 0 0 10 11 0 0 47 41
2005–06 37 38 4 6 7 7 0 0 48 51
2006–07 38 40 0 0 7 10 0 0 45 50
2007–08 36 32 0 0 8 13 2 6 46 51
2008–09 38 52 0 0 7 10 2 5 47 67
2009–10 38 35 0 0 8 9 0 0 46 44
2010–11 35 32 8 2 11 6 0 0 54 40
2011–12 37 31 4 6 10 7 2 5 53 49
2012–13 16 14 0 0 5 8 2 4 23 26
Tổng cộng 473 481 28 21 129 153 18 32 648 687

1 Includes FIFA Club World Cup, Intercontinental Cup, UEFA Super Cup and Supercopa de España.

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 14 November 2012
National
Team
Year Giao hữu World Cup Euro Cup Liên lục địa Tổng Cộng
Trận Lọt lưới Trận Lọt lưới Trận Lọt lưới Trận Lọt lưới Trận Lọt lưới
Tây Ban Nha 2000 3 3 3 2 0 0 0 0 6 5
2001 3 2 2 0 0 0 0 0 5 2
2002 4 1 5 5 2 0 0 0 11 6
2003 3 1 1 2 6 4 0 0 10 7
2004 6 3 3 1 3 2 0 0 12 6
2005 1 0 9 4 0 0 0 0 10 4
2006 4 3 3 4 3 5 0 0 10 12
2007 1 0 0 0 8 3 0 0 9 3
2008 7 1 2 0 6 2 0 0 15 3
2009 4 1 5 4 0 0 4 4 13 9
2010 5 7 7 2 3 3 0 0 15 12
2011 7 5 0 0 4 2 0 0 11 7
2012 7 1 3 1 6 1 0 0 16 3
TotalTổng cộng 55 28 43 25 41 22 4 4 143 79

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Casillas bắt đầu cặp kè với nữ phóng viên xinh đẹp người Tây Ban Nha Sara Carbonero của kênh truyền hình Telecinco.Họ quen nhau tại một buổi phỏng vấn hồi giữa năm 2009.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “FIFA World Cup South Africa 2010: List of Players” (PDF). Fédération Internationale de Football Association (FIFA). 4 tháng 6 năm 2010. tr. 29. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2013. 
  2. ^ “Player Profile: Iker Casillas”. Official Real Madrid website. 
  3. ^ “IKER CASILLAS FERNÁNDEZ - PLAYER PROFILE”. Realmadrid.com. Truy cập 27 tháng 6 năm 2008.  (See Honours section)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Iker Casillas tại Wikimedia Commons

  • Profile on Real Madrid official website