Oleg Blokhin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Oleh Blokhin
Pressekonferenz nach dem Fußballländerspiel Österreich-Ukraine (01.06.2012) Oleh Blochin1.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Oleh Volodymyrovych Blokhin
Ngày sinh 5 tháng 11, 1952 (61 tuổi)
Nơi sinh    Kiev, Ukraina
Chiều cao 180 cm
Vị trí Tiền đạo
Thông tin về CLB
CLB hiện nay đã giải nghệ
CLB trẻ
1962-1969 Dynamo Kyiv
CLB chuyên nghiệp1
Năm CLB Số trận
(bàn thắng)*
1969-1988
1988-1989
1989-1990
Dynamo Kyiv
Vorwärts Steyr
Aris Limassol
Career
433 (211)
41 (9)
22 (5)
496 (225)   
Đội tuyển quốc gia
1972-1988 Liên Xô 112 (42)
Sự nghiệp HLV
1990-1993
1993-1994
1994-1997
1997-1998
1998-1999
1999-2002
2003-
Olympiakos Piraeus
PAOK Saloniki
Ionikos
PAOK Saloniki
AEK Athens
Ionikos
Ukraina

1 Chỉ tính số trận và số bàn thắng
được ghi ở giải Vô địch quốc gia.
* Số trận khoác áo (Số bàn thắng)

Oleh Volodymyrovych Blokhin (tiếng Ukraina: Олег Володимирович Блохін), (sinh ngày 5 tháng 11 năm 1952 tại Kiev, Ukraina) là huấn luyện viên bóng đá và cựu cầu thủ người Ukraina, chơi ở vị trí tiền đạo, giành danh hiệu Quả bóng vàng châu Âu năm 1975. Ông là huấn luyện viên trưởng đội tuyển bóng đá quốc gia Ukraina thời kỳ 2003-2007 và thời kỳ 2011-2012. Ông còn là nghị sĩ Quốc hội Ukraina.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trong màu áo Dynamo Kiev, Blokhin là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất và thi đấu nhiều trận nhất ở giải vô địch Liên Xô với 211 bàn thắng trong 432 trận đấu. Ông có được danh hiệu vô địch quốc gia 8 lần cùng Dynamo. Trên đấu trường châu Âu, ông cùng Dynamo 2 lần giành được Cúp C2 châu Âu vào các năm 1975 và 1986. Blokhin là cầu thủ khoác áo đội tuyển Liên Xô nhiều lần nhất, cũng là cầu thủ ghi nhiều bàn nhất với 42 bàn trong 112 trận đấu. Ông là cầu thủ ghi nhiều bàn thứ 2 của Ukraina sau Shevchenko (46 bàn thắng). Ông từng tham dự 2 World Cup 19821986. Trong mỗi giải Blokhin ghi được 1 bàn. Ông là cầu thủ Liên Xô đầu tiên ra nước ngoài thi đấu, khoác áo câu lạc bộ Áo Vorwärts Steyr năm 1988 và câu lạc bộ Aris của Síp.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Tiền nhiệm:
Johan Cruijff
Quả bóng vàng châu Âu
1975
Kế nhiệm:
Franz Beckenbauer