Luiz Felipe Scolari

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Luiz Felipe Scolari
Luiz Felipe Scolari.jpeg
Scolari in August 2003.
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Luiz Felipe Scolari
Chiều cao 1,82 m (5 ft 11 12 in) [1]
Vị trí Hậu vệ (bóng đá)
Thông tin câu lạc bộ
CLB hiện tại Brasil (Huấn luyện viên (bóng đá))
CLB trẻ
1966–1973 Aimoré de São Leopoldo-Rio Grande do Sul
CLB Chuyên nghiệp*
Năm CLB Trận (Bàn)
1973–1979 Caxias
1980 Juventude
1980–1981 Novo Hamburgo
1981 CSA
Đội quản lý
1982 CSA
1982–1983 Juventude
1983 Brasil de Pelotas
1984–1985 Al-Shabab
1986 Brasil de Pelotas
1986–1987 Juventude
1987 Grêmio
1988 Goiás
1988–1990 Al Qadisiya
1990 Đội tuyển bóng đá quốc gia Kuwait
1991 Criciúma
1991 Al-Ahli
1992 Al Qadisiya
1993–1996 Grêmio
1996–1997 Júbilo Iwata
1997–2000 Palmeiras
2000–2001 Cruzeiro
2001–2002 Brasil
2003–2008 Bồ Đào Nha
2008–2009 Chelsea
2009–2010 Bunyodkor
2010–2012 Palmeiras
2012– Brasil
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng
được ghi ở giải Vô địch quốc gia
.
† Số trận khoác áo (Số bàn thắng).

Luiz Felipe Scolari (sinh ngày 9 tháng 11 năm 1948 tại Passo Fundo, Rio Grande do Sul, Brasil), thường gọi là Felipão (Phil lớn) là huấn luyện viên bóng đá người Brasil. Ông từng đưa đội tuyển Brasil đến chức vô địch World Cup 2002. Hiện nay, ông đang là huấn luyện viên cho SE Palmeiras tại Brasil.

Sự nghiệp cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Scolari sinh ra trong một gia đình có cha là cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp, ông Benjamin và có biệt danh là "perna-de-pau" (tạm dịch là "chân gỗ", biệt danh Tiếng Bồ Đào Nha dành cho các cầu thủ dở).[2] Ông thi đấu ở vị trí hậu vệ và từng thi đấu cho các câu lạc bộ Caxias, Juventude, Novo HamburgoCSA. Danh hiệu cao nhất trong sự nghiệp cầu thủ của ông là chức vô địch bang Alagoano cùng CSA.

Sự nghiệp huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Buổi đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1982, ông giã từ sự nghiệp cầu thủ bóng đá và chuyển sang làm huấn luyện viên. Câu lạc bộ đầu tiên ông dẫn dắt là CSA và ngay mùa giải đầu tiên, ông đã giúp câu lạc bộ này giành danh hiệu vô địch bang Alagoano. Sau đó ông chuyển sang dẫn dắt 1 loạt các câu lạc bộ khác như Juventude (2 lần), Brasil de PelotasAl-Shabab của Ả Rập Saudi từ 1983 đến 1987. 1987, ông trở thành huấn luyện viên của Grêmio, và giành danh hiệu vô địch bang Gaúcho cùng năm đó.

Kuwait[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1988, ông đến Kuwait dẫn dắt câu lạc bộ Al Qadisiya Kuwait và giành danh hiệu vô địch Kuwait Emir Cup năm 1989. Năm 1990, ông chuyển sang dẫn dắt đội tuyển bóng đá quốc gia Kuwait và giành Gulf Cup. Ông trở về Brasil sau khi Saddam Hussein ra lệnh tấn công Kuwait và dẫn dắt Criciúma giành Copa do Brasil.

Grêmio[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1993, ông trở về Grêmio. Trong 3 năm dẫn dội bóng này, ông giành 6 danh hiệu trong đó có Copa Libertadores năm 1995Brazilian Championship năm 1996.[3] Grêmio còn lọt vào đến trận chung kết Intercontinental Cup và để thua câu lạc bộ Hà Lan Ajax Amsterdam trong loạt sút luân lưu.[4]

Palmeiras[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1997, Scolari đến Nhật Bản để dẫn dắt câu lạc bộ đang thi đấu ở J. League, Júbilo Iwata. Tuy nhiên chỉ sau 11 trận tại đây, ông đã trở về Brasil và câu lạc bộ tiếp theo của ông là Palmeiras. Trong 3 năm, ông đem về cho Palmeiras danh hiệu Copa do Brasil, Mercosur CupCopa Libertadores sau chiến thắng trước Deportivo Cali của Colombia. Tại Intercontinental Cup 1999, họ cũng trở thành á quân sau khi thua câu lạc bộ Anh Manchester United. Nhờ những thành tích trên, ông được bầu chọn là huấn luyện viên bóng đá xuắt sắc nhất Nam Mỹ 1999.

Đội tuyển Brazil[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 2001, Scolari trở thành huấn luyện viên trưởng Brasil. Mặc dù ngay trận đầu tiên dưới thời Scolari, Brasil để thua Uruguay 1-0 nhưng chung cuộc Brasil vẫn giành quyền tham dự World Cup 2002 tại Hàn QuốcNhật Bản.

Ngay trước khi World Cup 2002 bắt đầu, Scolari đã gây chấn động dư luận khi loại bỏ tiền đạo kì cựu Romário khỏi danh sách các cầu thủ Brasil tham dự World Cup.[5] Brasil dễ dàng đứng đầu vòng bảng khi toàn thắng 3 trận trước Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, Costa Rica. Tại vòng 1/16, họ đánh bại Bỉ và tiếp theo là Anh ở tứ kết. Đến vòng bán kết, Brasil gặp lại Thổ Nhĩ Kỳ và tiếp tục đánh bại họ để vào chung kết gặp Đức. 2 bàn thắng của tiền đạo Ronaldo trong trận chung kết đã mang về chức vô địch World Cup lần thứ 5 cho đội tuyển Brasil và đầu tiên của Scolari. Cuối năm 2002, Scolari đã từ chức huấn luyện viên tuyển Brazil.[6]

Scolari trở lại làm HLV đội tuyển Brazil dự FIFA World Cup 2014 trên sân nhà. Sau khi vượt qua vòng bàng, Brazil đã loại hai đội bóng Nam Mỹ khác là Chile và Columbia ở vòng 16 đội và vòng tứ kết, nhưng đã bị đội tuyển Đức đánh bại với tỷ số kỷ lục 7-1 ở trận bán kết. Sau trận thua Hà Lan 0-3, ông đã bị sa thải.

Trước thất bại kỷ lục này, Scolari đã cho biết kết quả này là "trận thua tồi tệ nhất của đội tuyển quốc gia Brazil" và chấp nhận hoàn toàn trách nhiệm cho thất bại.[7][8]

Đội tuyển Bồ Đào Nha[sửa | sửa mã nguồn]

Scolari chuyển sang làm huấn luyện viên Bồ Đào Nha từ năm 2003 và nhiệm vụ của ông là đưa đội tuyển nước này đến chức vô địch Euro 2004, giải đấu mà họ là chủ nhà.

Tại Euro 2004, Bồ Đào Nha vượt qua vòng bảng với vị trí đầu bảng. Tại vòng tứ kết, họ đánh bại đội tuyển Anh sau loạt sút luân lưu và thắng Hà Lan 2-1 ở trận bán kết để lọt vào chung kết Euro 2004 gặp lại Hy Lạp, đội bóng đã đánh bại họ trong trận khai mạc. Tuy nhiên cuối cùng bàn thắng duy nhất trong trận đấu của Charistes đã đem về danh hiệu vô địch Euro 2004 cho Hi Lạp.

Tại World Cup 2006 tại Đức, Scolari đưa Bồ Đào Nha vào bán kết sau khi lần lượt loại được Hà Lan, Anh và họ đã để thua Pháp 1-0. Trong trận tranh hạng 3, họ tiếp tục để thua chủ nhà Đức 3-1 để giành vị trí hạng 4 thế giới chung cuộc. Sau giải đấu này, nhiều thông tin cho biết ông sẽ chuyển sang dẫn dắt đội tuyển Anh thay thế Sven Goran Eriksson nhưng cuối cùng ông đã đống ý gia hạn hợp đồng với đội tuyển Bồ Đào Nha đến năm 2008.[9]

Tại Euro 2008 tại ÁoThụy Sĩ, Bồ Đào Nha tiếp tục đứng đầu vòng đấu bảng để vào vòng tứ kết gặp Đức. Và họ đành chịu dừng bước ở tứ kết khi bị Đức đánh bại 3-2. Trận đấu đó cũng là trận đấu cuối cùng của Scolari trong cương vị huấn luyên viên trưởng đội tuyển Bồ Đào Nha trước khi ông chuyển sang dẫn dắt câu lạc bộ Chelsea từ ngày 1 tháng 7 năm 2008.

Chelsea FC[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày 1 tháng 7 năm 2008, Scolari chính thức trở thành huấn luyện viên mới của Chelsea FC, thay thế huấn luyện viên người Israel Avram Grant vừa bị sa thải. Nhiệm vụ hàng đầu của ông là đem về cho Chelsea thêm nhiều danh hiệu vô địch, nhất là danh hiệu UEFA Champions League. Scolari đã được chủ tịch Chelsea Roman Abramovich tuyên bố sẽ chi 500 triệu USD để ông tăng cường cầu thủ.[10] Bản hợp đồng đầu tiên của ông kể từ khi đặt chân đến Chelsea là tiền vệ Deco, học trò cưng của ông ở đội tuyển Bồ Đào Nha.

Trận đấu đầu tiên của Scolari với Chelsea là trận giao hữu gặp đội bóng Trung Quốc Guangzhou Pharmaceutical. Trận này Chelsea thắng 4-0.[11] Còn trận đấu chính thức đầu tiên là trận đấu tại Premier League gặp Portsmouth.[12] Trận này Chelsea cũng thắng 4-0.

Dưới thời Scolari, Chelsea có được thắng lợi lớn nhất trên sân khách trong 5 năm với chiến thắng 5-0 trước Middlesbrough tại sân Riverside vào tháng 10 năm 2008. Chelsea cũng đạt được thành tích thắng 8 trận liên tiếp trên sân khách tại đầu mùa giải Premier League 2008-2009.

Thất bại đầu tiên của Chelsea dưới thời Scolari là trận thua 1-0 trước Liverpool ngày 26 tháng 10 năm 2008. Trận thua này cũng chấm dứt chuỗi 86 trận bất bại trên sân Stamford Bridge kéo dài 4 năm 8 tháng kể từ sau thất bại 2-1 trước Arsenal vào tháng 2 năm 2004 dưới thời Claudio Ranieri.[13] Đến vòng đấu thứ 21 ngày 11 tháng 1 năm 2009, Chelsea đã bị đại kình địch Manchester United đánh bại 3-0 khiến cho Chelsea mất lợi thế trong cuộc đua giành chức vô địch[14]

Sau những kết quả không được như mong đợi, Scolari bắt đầu mất dần lòng tin của các cầu thủ và ban lãnh đạo câu lạc bộ Chelsea. Ngày 1 tháng 2 năm 2009, Chelsea để thua Liverpool 2-0 và khiến cho họ rơi xuống vị trí thứ ba. Và giọt nước làm tràn li cho sự sa thải của Scolari là trận hòa Hull City 0-0. Trận hòa này đẩy Chelsea xuống vị trí thứ tư, sau cả Aston Villa và gần như mất luôn cơ hội vô địch Premier League.[15] Ngày 10 tháng 2, Scolari chính thức bị sa thải khỏi cương vị huấn luyện viên trưởng Chelsea. Trợ lí Ray Wilkins được đưa lên tạm quyền dẫn dắt câu lạc bộ. Để sa thải Scolari, Chelsea đã phải trả một số tiền bồi thường là 22 triệu USD. Trong thời gian 8 tháng làm huấn luyện viên tại Chelsea, ông Scolari đã trải qua 36 trận, trong đó thành tích của Chelsea là thắng 20, hòa 11 và thua 5.[15] Ngay sau khi sa thải Scolari, Chelsea đã ngay lập tức mời huấn luyện viên người Hà Lan đang dẫn dắt đội tuyển Nga Guus Hiddink để nắm giữ cương vị huấn luyện viên trưởng đội bóng đến hết mùa giải 2008-2009.[16]

Bunyodkor[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 8 tháng 6 năm 2009, Scolari đã đặt bút ký vào bản hợp đồng có thời hạn một năm rưỡi dẫn dắt đương kim vô địch Uzbekistan, FC Bunyodkor và đưa ông trở thành huấn luyện viên được trả lương cao nhất thế giới với 13 triệu euro/năm.[17] Ông sẽ thay thế Zico, nhà cầm quân đồng hương vừa hết hợp đồng và đã sang Nga làm việc cho CSKA Moscow.[18] Tại đây, Scolari có dịp tái ngộ với học trò cũ ở đội tuyển Brasil, tiền vệ Rivaldo.

Scolari đã giúp Bunyodkor vô địch giải vô địch quốc gia Uzbekistan nhưng bị loại ở tứ kết AFC Champions League trước Pohang Steelers của Hàn Quốc.[19] Ngày 29 tháng 5 năm 2010, ông đã từ chức huấn luyện viên Bunyodkor 6 tháng trước khi kết thúc hợp đồng vì lí do chuyện học hành của con trai.[20]

Trở lại Palmeiras[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 13 tháng 6 năm 2010, Scolari đã trở thành tân huấn luyện viên của Palmeiras theo bản hợp đồng có thời hạn hai năm rưỡi.[21]

Trở lại ĐTQG Brasil[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 28/11/2012,sau hơn 2 tháng không dẫn dắt một CLB nào,Scolari trở lại huấn luyện ĐTQG Brasil,thay thế cho Mano Menezes,ông được trao nhiệm vụ là vô địch World Cup 2014.

Ở trận chung kết Confed Cup,ông dẫn dắt Brasil đánh bại Tây Ban Nha 3-0 qua đó giành chức vô địch.

Rắc rối ngoài sân cỏ[sửa | sửa mã nguồn]

Bản tính nóng nảy thường gây cho huấn luyện viên Scolari nhiều rắc rối ngoài sân cỏ. Ngày 9 tháng 12 2007, ở những phút cuối trận Bồ Đào Nha bị Serbia cầm hòa 1-1 trên sân nhà, trong khuôn khổ bảng A vòng loại Euro 2008, Ivica Dragutinovic của Serbia khi đó vừa bị truất quyền thi đấu và đang lời qua tiếng lại với tiền vệ Ricardo Quaresma bên phía Bồ Đào Nha. Bất thần Scolari nhảy xổ đến và vung tay đấm vào mặt anh, nhưng trượt sang bên mang tai phải. Dragutinovic cũng không vừa. Anh này kịp định thần lại rồi định nhảy vào trả đũa. May mắn là sự việc không trở nên tồi tệ hơn khi một số cầu thủ khác kịp lao đến can ngăn. Sau đó, Scolari đã phải gửi lời xin lỗi đến người dân Bồ Đào Nha vì cho rằng hành động trên đã làm xấu hình ảnh bóng đá nước này.[22]

Sau sự việc trên, liên đoàn bóng đá Bồ Đào Nha đã quyết định phạt huấn luyện viên Scolari 49.990 USD do hành động đấm vào mặt cầu thủ Ivica Dragutinovic của Serbia. Ngoài ra, UEFA cũng phạt ông 17.080 USD.[23]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Brazil[sửa | sửa mã nguồn]

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Biography for Luiz Felipe Scolari”. 
  2. ^ Shaw, Robert (13 tháng 6 năm 2008). “Luiz Felipe Scolari, biệt danh 'chân gỗ', do ảnh hưởng từ cái bóng của người cha”. London: The Daily Telegraph. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2009. 
  3. ^ Carter, Jon. “Luiz Felipe Scolari”. ESPN. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2009. 
  4. ^ “Classic Football - Ajax Amsterdam”. FIFA. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2009. 
  5. ^ “Defiant Big Phil leaves out Romario”. rediff.com. 7 tháng 5 năm 2002. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2009. 
  6. ^ “Scolari Resigns As Brazil's Coach”. The New York Times. 10 tháng 8 năm 2002. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2009. 
  7. ^ “Brazil’s Scolari accepts blame after World Cup hammering by Germany”. the Guardian. Truy cập 16 tháng 7 năm 2014. 
  8. ^ “Brazil vs Germany World Cup 2014: 'This was the worst defeat in Brazil's history,' admits Luiz Felipe Scolari”. The Independent. Truy cập 16 tháng 7 năm 2014. 
  9. ^ Scolari gia hạn hợp đồng với Bồ Đào Nha đến 2008[liên kết hỏng]
  10. ^ Scolari có 500 triệu USD để mua sắm cầu thủ[liên kết hỏng]
  11. ^ “BBC SPORT”. Truy cập 16 tháng 7 năm 2014. 
  12. ^ http://www.rte.ie/sport/soccer/2008/0817/chelsea_portsmouth.html[liên kết hỏng]
  13. ^ Chelsea: chấm dứt chuỗi 86 trận bất bại trên sân nhà[liên kết hỏng]
  14. ^ http://www3.tuoitre.com.vn/TheThao/Index.aspx?ArticleID=297115&ChannelID=14[liên kết hỏng]
  15. ^ a ă http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=301092&ChannelID=248[liên kết hỏng]
  16. ^ http://www.laodong.com.vn/Home/Guus-Hiddink-co-the-kiem-25-trieu-bang-tu-Chelsea/20092/125795.laodong[liên kết hỏng]
  17. ^ “Scolari qua mặt Mourinho để trở thành HLV được trả lương cao nhất thế giới”. Thể thao & Văn hóa. 8 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010. 
  18. ^ Scolari tìm được việc làm mới ở Uzbekistan[liên kết hỏng]
  19. ^ “BongDa.com.vn”. Truy cập 16 tháng 7 năm 2014. 
  20. ^ “Scolari từ chức ở Bunyodkor”. Thanh niên Online. 30 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2010. 
  21. ^ “Após novela, Felipão acerta com o Palmeiras por dois anos e meio” (bằng Tiếng Bồ Đào Nha). Globoesporte.com. 13 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2008. 
  22. ^ “"Hãy vứt Scolari khỏi chiếc ghế HLV Bồ Đào Nha"”. Việt Báo. Truy cập 16 tháng 7 năm 2014. 
  23. ^ Án phạt dành cho Scolari[liên kết hỏng]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]