Gianluca Vialli

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Gianluca Vialli
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Gianluca Vialli
Chiều cao 1,80 m (5 ft 11 in)
Vị trí Striker
CLB trẻ
1973–1978 Pizzighettone
1978–1980 Cremonese
CLB Chuyên nghiệp*
Năm CLB Trận (Bàn)
1980–1984 Cremonese 105 (23)
1984–1992 U.C. Sampdoria 223 (85)
1992–1996 Juventus F.C. 102 (38)
1996–1999 Chelsea 58 (21)
Tổng 488 (167)
Đội tuyển quốc gia
1983–1986 Italy U21 20 (11)
1985–1992 ĐTQG Ý 59 (16)
Đội quản lý
1998–2000 Chelsea
2001–2002 Watford
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng
được ghi ở giải Vô địch quốc gia
.
† Số trận khoác áo (Số bàn thắng).

Gianluca Vialli (sinh 9 tháng 7 năm 1964 tại Cremona) là một tiền đạo, huấn luyện viên bóng đá người Ý đã giải nghệ.

Sự nghiệp cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Vialli bắt đầu sự nghiệp bóng đá ở câu lạc bộ U.S. Cremonese năm 1980. Sau khi ghi 10 bàn cho câu lạc bộ này trong mùa bóng 1983-84 anh đã chuyển sang chơi cho câu lạc bộ U.C. Sampdoria. Tại Sampdoria anh chơi cặp tiền đạo cùng với người bạn từ thời thơ ấu của mình là Roberto Mancini. Ở thời đỉnh cao phong đô của anh, Sampdoria đạt được thành công nhất trong lịch sử câu lạc bộ khi đạt được cúp vô địch Serie A lần đầu tiên năm 1990-1991, cũng trong mùa bóng đó Vialli là vua phá lưới với 19 bàn. Họ còn đạt được một cup C2 khi thắng Anderlecht trong trận chung kết năm 1990, và 3 cup quốc gia Ý. Năm 1992 họ cũng lọt vào trận chung kết cup C1 nhưng bị thua trước câu lạc bộ FC Barcelona của Tây Ban Nha.

Sau trận thua đó anh chuyển sang Juventus với kỉ lục chuyển nhượng lúc đó là 12.5 triệu bảng Anh. Anh giành được cúp C3 trong mùa đầu tiên chơi cho Juve. Năm 1995 anh đoạt được cú đúp khi giành được Scudetto và cup Ý, mùa bóng đó anh cũng ghi được 16 bàn thắng. Năm 96 đội bóng của anh đã giành được cup C1 khi đánh bại Ajax trong trận chung kết.

Cuối năm 1996 anh chuyển sang chơi cho câu lạc bộ Chelsea F.C. của Anh với mức lương 1 triệu bảng/năm. Anh đoạt được cup FA cùng Chelsea trong mùa giải đầu tiên. Năm 1998 anh giành được cúp C2 trong trận chung kết đó anh đã ghi được 1 hat-trick.

Anh xuất hiện lần đầu trong màu áo đội tuyển quốc gia ở trận giao hữu với Ba Lan năm 1985. Anh ghi bàn thắng đầu tiên của mình cho đội tuyển ở trận gặp Malta trong khuôn khổ vòng loại Euro 1988 năm 1986. Anh tham dự World Cup 1986, Euro 1988World Cup 1990, giải mà đội tuyển Ý đoạt hạng 3. Trận cuối mà anh thi đấu cho đội tuyển quốc gia là trận gặp Malta ở vòng loại World Cup 1994 vào năm 1992. Trong trận đấu đó anh cũng ghi bàn, nhưng anh không tham dự vòng chung kết World Cup 1994 do bất đồng với huấn luyện viên Arrigo Sacchi. Sau đó anh công khai ủng hộ cho Brasil.

Sự nghiệp huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sampdoria
    • Serie A: 90-91
    • Cup Ý: 84-85, 87-88, 88-89
    • Cup C2: 89-90; Hạng 2:88-89
    • Cup C1: hạng 2: 91-92
  • Juventus
    • Serie A: 94-95
    • Cup Ý: 94-95
    • UEFA Cup: 92-93; Hạng 2: 94-95
    • C1: 95-96
  • Chelsea
    • FA Cup: 96-97, 1999-2000 (cầu thủ)
    • League Cup: 97-98
    • UEFA Cup: 97-98
    • Siêu Cup châu Âu: 98
    • Siêu Cúp Anh: 99-00

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Đội Nước Từ Đến Thành tích
Tổng T Thua H Tỉ lệ T %
Chelsea Anh 12 tháng 2 1998 12 tháng 9 2000 143 76 29 38 53.15
Watford Anh 1 tháng 6 2001 14 tháng 6 2002 52 20 21 11 38.46

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]