Francisco Franco

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Francisco Franco
Franco0001.PNG
Chức vụ
Tiền nhiệm Manuel Azaña (làm Tổng thống)
Kế nhiệm Juan Carlos I (làm Vua)
Chủ tịch Chính phủ Tây Ban Nha thứ 68
người thứ nhất chủ nghĩa Franco (1939-1975)
Nhiệm kỳ 5 tháng 2 năm 1939 – 9 tháng 6 năm 1973
Tiền nhiệm Juan Negrín
Kế nhiệm Luis Carrero Blanco
Thông tin chung
Đảng FET y de las Jons
Sinh 4 tháng 12, 1892(1892-12-04)
Ferrol, Galicia, Tây Ban Nha
Mất 20 tháng 11, 1975 (82 tuổi)
Madrid, Tây Ban Nha
Tôn giáo Công giáo Rôma
Binh nghiệp

Francisco Paulino Hermenegildo Teódulo Franco y Bahamonde (4 tháng 12 năm 189220 tháng 11 năm 1975), thường được gọi là Francisco Franco phát âm: [fɾanˈθisko ˈfɾaŋko], phiên âm tiếng ViệtPhơ-ran-xít-cô Phơ-ran-cô) hay Francisco Franco y Bahamonde là một nhà hoạt động chính trị, quân sự và một trùm phát xít của Tây Ban Nha.

Chế độ phát xít của ông được xem là một trong những giai đoạn đen tối nhất trong lịch sử Tây Ban Nha thời hiện đại.

Trước khi trở thành Quốc trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Thời trẻ, Franco là một chàng trai tràn đầy lý tưởng. Ông đã tình nguyện đi chiến đấu từ năm 18 tuổi. Đây là một việc làm dũng cảm, tuy nhiên, mùi tanh của máu và cái lạnh của súng đạn chính là những thứ đã biến Franco thành một con người khác. Trên con đường binh nghiệp, ông - một người ranh mãnh có vẻ ngoài vô cùng điềm đạm - thăng tiến rất nhanh.[1] Từ năm 1923 đến năm 1927, ông là người chỉ huy đạo quân lê dương tại xứ Maroc. Năm 33 tuổi, trong tay ông nắm gần như tất cả mọi quyền hành về quân sự. Năm 1933, ông trở thành Tổng tham mưu trưởng quân đội Tây Ban Nha. Sau chiến thắng của Mặt trận nhân dân, Franco rời bỏ chức này, và tiến hành đảo chính năm 1936. Ông đã thực hiện nội chiến chống những người cộng hoà.

Thủ lĩnh tối cao[sửa | sửa mã nguồn]

Đối nội[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1939 ông lên làm quốc trưởng và tổng tư lệnh quân đội, được gọi là "lãnh tụ tối cao" (Caudilo, đọc là Cao-đi-lô).

Là một nhà độc tài, Franco đã thành lập một quốc gia dựa trên những thế lực của quân đội, Giáo hội và địa chủ. Nhà nước này kết hợp chủ nghĩa nghiệp đoàndân tộc chủ nghĩa đầu thế kỷ XX và tập trung vào các giá trị truyền thống. Từ năm 1947, ông khôi phục chế độ quân chủ, trở thành nhiếp chính vương trên thực tế của Tây Ban Nha. Năm 1969, tướng Franco chọn Juan Carlos làm người nối ngôi. Sau khi ông qua đời năm 1975, Juan Carlos I lên ngôi vua Tây Ban Nha.

Theo ước tính, khoảng từ 500.000 đến 1.000.000 người đã bị sát hại dưới chế độ Franco. Chế độ ông còn hạ sát nhiều nghệ sĩ, trí thức và nhà chính trị người Tây Ban Nha, hoặc đày ải họ ra nơi xa. Phần lớn trong số họ đến từ xứ Catalonia.

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Ông ký kết hiệp ước chống lại tổ chức Đệ Tam Quốc tế vào năm 1939.

Mặc dù trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 - 1945), ông tuyên bố Tây Ban Nha là nước trung lập, nhưng lại phái một sư đoàn tham gia cùng quân đội Đức Quốc xã tấn công Liên bang Xô viết.

Năm 1956, nền thống trị của Tây Ban Nha tại Morocco (Bắc Phi) đã kết thúc. Đến năm 1968, đến lượt Guinea thuộc Tây Ban Nha tuyên bố độc lập, trở thành một quốc gia với tên gọi Guinea Xích Đạo.

Trong Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ đã thành lập liên minh với Tây Ban Nha, vì Franco đã thực hiện chính sách chống cộng rõ rệt. Tổng thống Hoa Kỳ là Richard Nixon đã ăn lát bánh mì nướng với ông,[2] và, sau khi Franco qua đời, Nixon nói: "Tướng Franco là người bạn và đồng minh trung thành của Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ."[3]

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Tây Ban Nha về mặt chính trị và kinh tế khá tách biệt so với thế giới bên ngoài cho đến tận năm 1955. Trong thập niên 1960, Tây Ban Nha đã đạt được sự tăng trưởng kinh tế chưa từng thấy và được gọi Phép màu Tây Ban Nha, giúp chuyển đổi nước này thành một quốc gia công nghiệp hóa hiện đại. Các chính sách tự do hóa chính trị và kinh tế trong những năm cuối cầm quyền của Franco được thực hiện khiến cho ngành du lịch hết sức phát triển, chỉ số phát triển con người được nâng cao.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tiếng nói lịch sử "trăm năm thù hận" Barca - Real Madrid
  2. ^ John T. Woolley and Gerhard Peters, Toasts of the President and General Francisco Franco of Spain at a State Dinner in Madrid, The American Presidency Project. Santa Barbara, California: University of California (hosted), Gerhard Peters (database). Truy cập 24 tháng 5 năm 2008.
  3. ^ New York Times. "Nixon Asserts Franco Won Respect for Spain." 21 tháng 11 năm 1975, Friday, page 16.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]