Rafael Márquez
| Thông tin cá nhân | |||
|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Rafael Márquez Alvarez | ||
| Ngày sinh | 13 tháng 2, 1979 | ||
| Nơi sinh | Zamora, Michoacán, Mexico | ||
| Chiều cao | 1,82 m (6 ft 0 in) | ||
| Vị trí | Trung vệ | ||
| Thông tin về CLB | |||
| CLB hiện nay | New York Red Bulls | ||
| Số áo | 4 | ||
| CLB trẻ | |||
| Atlas | |||
| CLB chuyên nghiệp* | |||
| Năm | CLB | Số trận† | (bàn thắng)† |
| 1996–1999 | Atlas | 77 | (6) |
| 1999–2003 | Monaco | 87 | (5) |
| 2003–2010 | Barcelona | 163 | (9) |
| 2010– | New York Red Bulls | 44 | (1) |
| Đội tuyển quốc gia‡ | |||
| 1999 | U-20 Mexico | 4 | (2) |
| 1997– | Mexico | 111 | (12) |
| * Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia và cập nhật ngày 28 tháng 10, 2012 (UTC). † Số trận khoác áo (số bàn thắng). |
|||
Rafael Márquez Álvarez [maɾkes rafael alβaɾes] (sinh ngày 13 tháng 2, 1979 tại Zamora de Hidalgo, Michoacán) là một cầu thủ bóng đá người Mexico hiện đang đầu quân cho New York Red Bulls tại Mỹ. Anh thi đấu ở vị trí trung vệ, từng giành nhiều danh hiệu trong thời gian khoác áo các câu lạc bộ Monaco và FC Barcelona. Năm 2006, anh vô địch UEFA Champions League cùng Barcelona và trở thành cầu thủ Mexico đầu tiên vô địch giải đấu này.
Ở đội tuyển Mexico, Márquez có hơn 100 lần khoác áo đội tuyển và từng tham dự ba kỳ World Cup liên tiếp 2002, 2006 và 2010.
Mục lục |
Sự nghiệp câu lạc bộ [sửa]
Atlas [sửa]
Márquez bắt đầu sự nghiệp bóng đá chuyên nghiệp của mình tại câu lạc bộ bóng đá Mexico Atlas Guadalajara, nơi anh có màn ra mắt vào năm 1996 khi chỉ mới 17 tuổi. Năm 1999, anh cùng đội bóng giành được ngôi vị á quân Giải Ngoại hạng Mexico sau thất bại trước Deportivo Toluca.
Monaco [sửa]
Barcelona [sửa]
Sau bốn năm tại Monaco, anh chuyển về thi đấu cho FC Barcelona ở mùa giải 2003-04 với phí chuyển nhượng 5 triệu € theo bản hợp đồng có thời hạn 4 năm, với nhiệm vụ lấp chỗ trống ở tuyến phòng ngự đội bóng này sau sự ra đi của Frank De Boer.[1]
Anh là người Mexico đầu tiên khoác áo FC Barcelona. Trong mùa giải đầu tiên, anh đã ra sân trong 21 trận và cùng Barca giành ngôi á quân La Liga. Trong mùa giải thứ hai của mình, Marquez chủ yếu chơi như một tiền vệ phòng ngự do lần lượt Thiago Motta, Edmílson và Gerard López chấn thương. Tuy nhiên, anh đã thi đấu xuất sắc trong mùa giải này và góp phần vào chức vô địch La Liga lần thứ 17 của Barcelona sau trận hòa 1-1 với Levante ngày 14 tháng 5 năm 2005.
Năm 2006, anh đã có mặt trong trận chung kết UEFA Champions League gặp Arsenal và trở thành cầu thủ Mexico đầu tiên chơi trận chung kết ở giải đấu này.[2] Chung cuộc Barcelona thắng Arsenal 2-1 và Márquez cũng trở thành người Mexico đầu tiên giành chức vô địch UEFA Champions League.[3][4] Sau World Cup 2006, Marquez đã ký hợp đồng mới trong bốn năm, trị giá 38,5 triệu € có thời hạn đến tháng 6 năm 2010. Tại mùa giải 2007-08, Márquez đá cặp với cầu thủ mới của Barca, Gabriel Milito, trong thời gian đội trưởng Carles Puyol bị chấn thương. Kết thúc mùa giải này, Barcelona chỉ về thứ 3 tại La Liga và Márquez bị chấn thương hành hạ cả nửa sau mùa giải.
Sau khi huấn luyện viên Josep Guardiola lên nắm đội, Márquez vẫn được trọng dụng và sau khi Ronaldinho ra đi, anh trở thành cầu thủ cuối cùng dưới thời Rijkaard còn thi đấu cho đội. Ở mùa giải 2008-09, anh luôn có mặt trong đội hình chính thức ở vị trí trung vệ. Ngày 13 tháng 12 năm 2008, Márquez có trận đấu thứ 200 cho Barcelona trong trận thắng 2-0 trước Real Madrid. Ngày 28 tháng 4 năm 2009, trong trận bán kết UEFA Champions League với Chelsea, Márquez bị chấn thương nặng phải rời sân ở đầu hiệp 2.[5] Sau trận đấu, anh được khuyên phải tiến hành phẫu thuật chân trái và phải nghỉ thi đấu đến hết mùa.[6]
Sau khi cùng Barcelona giành cú ăn ba, Márquez nhận được lời đề nghị chuyển nhượng từ câu lạc bộ Ý Fiorentina.[7] Tuy nhiên, anh đã từ chối vì muốn kết thúc sự nghiệp tại Barcelona mặc dù hợp đồng giữa anh và câu lạc bộ sẽ hết hạn vào mùa hè 2010.[8] Tháng 11 năm 2009, Márquez đã gia hạn hợp đồng với Barca đến tận năm 2012.[9] Số tiền giải phóng hợp đồng của anh lên đến 150,4 triệu $.[10] Ngày 20 tháng 2 năm 2010, anh ghi bàn nâng tỉ số lên 3-0 từ một quả đá phạt trong chiến thắng 4-0 trước Racing Santander tại La Liga.[11]
Trong khoảng thời gian thi đấu cho Barcelona, anh trở thành một trong những cầu thủ nước ngoài thành công nhất. Tổng cộng anh giành được 12 danh hiệu, ghi được 13 bàn thắng trong 242 trận, giúp anh trở thành cầu thủ không phải Châu Âu có số trận thi đấu nhiều nhất lịch sử câu lạc bộ, đồng thời đứng thứ 8 trong danh sách những cầu thủ nước ngoài chơi nhiều trận nhất.[12]
New York Red Bulls [sửa]
Sau 7 năm gắn bó với Barcelona, Márquez chuyển đến câu lạc bộ New York Red Bulls tại Giải bóng đá nhà nghề Mỹ (MLS) để tái hợp với người đồng đội cũ ở Barca là Thierry Henry.[13] Ngày 1 tháng 8 năm 2010, Márquez chính thức ký hợp đồng với New York Red Bull.[14] Tại đây, anh khoác áo số 4.
Ngày 8 tháng 8, Márquez có trận đấu đầu tiên tại MLS, hòa Chicago Fire 0-0. Ngày 21 tháng 8, anh có bàn thắng đầu tiên cho Red Bulls trong chiến thắng 4-1 trước Toronto FC.[15] Hai tháng sau đó, Márquez có mặt trong chiến thắng 2-0 của Red Bulls trước New England Revolution để giành chức vô địch khu vực phía Đông Giải Bóng đá Nhà nghề Mỹ 2010.[16]
Ngày 30 tháng 10 năm 2011, trong trận tứ kết lượt đi MLS với Los Angeles Galaxy, Márquez phải hứng chịu làn sóng chỉ trích lớn khi trong những phút cuối trận, anh đã cầm bóng ném thẳng vào người tiền đạo Landon Donovan, gây nên một vụ ẩu đả và do đó đã lãnh thẻ đỏ trực tiếp cùng với án phạt cấm thi đấu ba trận.[17] Ngày 14 tháng 1 năm 2012, trong trận đấu với San Jose Earthquakes, Márquez đã có hành vi tắc bóng từ phía sau và đá vào mặt cầu thủ Shea Salinas khiến anh này bị gãy xương đòn. Hành động này của Márquez khiến anh phải chịu một số tiền phạt không được tiết lộ và bị cấm thi đấu 3 trận.[18]
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia [sửa]
Márquez có trận đấu đầu tiên cho Đội tuyển bóng đá quốc gia Mexico vào ngày 5 tháng 2 năm 1997 trong trận thắng 3-1 trước Ecuador nhưng sau đó đã không được triệu tập vào đội tuyển tham dự World Cup 1998.
Márquez đã cùng đội tuyển Mexico giành cúp vô địch Confederations Cup 1999. Tại World Cup 2002 ở Nhật Bản và Hàn Quốc, anh đã được huấn luyện viên Javier Aguirre chọn làm đội trưởng đội tuyển khi mới 23 tuổi. Tại giải đấu này, Mexico phải dừng bước ở vòng 16 đội khi thua đội tuyển Mỹ 2-0. Trong trận này, ở phút 86, Marquez còn bị phạt thẻ đỏ do phạm lỗi ác ý đối với Cobi Jones.[19]
Márquez sau đó tiếp tục được huấn luyện viên Ricardo Lavolpe chọn làm đội trưởng của đội tuyển Mexico tại World Cup 2006 tổ chức tại Đức. Tại giải đấu này, anh đã ghi bàn mở tỉ số ở ngay phút thứ 5 trong trận thua 2-1 trước Argentina tại vòng 16 đội.[20] Márquez sau đó còn tiếp tục tham dự CONCACAF Gold Cup 2007 và Copa América 2007.
Tại World Cup 2010, Márquez đã kịp trở lại tập luyện sau chấn thương để có thể kịp ra sân trong trận khai mạc với chủ nhà Nam Phi.[21] Anh cũng trở thành người ghi bàn đầu tiên cho tuyển Mexico tại giải đấu này với bàn gỡ hoà 1-1 ở phút 79 từ đường chuyền của Andrés Guardado.[22] Trong chiến thắng 2-0 sau đó trước đội tuyển Pháp, anh cũng là người đã kiến thiết cho tiền đạo Javier Hernández Balcázar ghi bàn mở tỉ số của trận đấu.[23]
Ngày 29 tháng 3 năm 2011, Márquez trở thành cầu thủ thứ tám trong lịch sử của Mexico đạt đến ngưỡng 100 lần khoác áo đội tuyển quốc gia trong trận hòa 1-1 giữa Mexico và Venezuela.[24]
Danh hiệu [sửa]
- FIFA Confederations Cup (1): 1999
- Cúp vàng CONCACAF (2): 2003, 2011
Câu lạc bộ:
- Ligue 1 (1): 1999–2000
- Siêu cúp Pháp (1): 2000
- Coupe de la Ligue (1): 2003
- La Liga (4): 2004–05, 2005–06, 2008–09, 2009–10
- Copa del Rey: (1) 2008–09
- Siêu cúp Tây Ban Nha (3): 2005, 2006, 2009
- FIFA Club World Cup (1): 2009
- UEFA Champions League (2): 2005–06, 2008–09
- Siêu cúp châu Âu (1): 2009
- FIFA Club World Cup (1): : 2009
Cá nhân:
- Hậu vệ xuất sắc nhất Ligue 1 mùa giải 1999-2000.
- Cầu thủ xuất sắc nhất Bắc Mĩ năm 2005
- Cầu thủ nổi tiếng thứ 3 thế giới vào năm 2006.
- Vô địch giải đá phạt thế giới 2008.
Thống kê sự nghiệp [sửa]
Cập nhật 25 tháng 4, 2010.[25]
| Thành tích cấp CLB | Giải vô địch | Cúp quốc gia | Cúp châu lục | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Mùa giải | CLB | Giải vô địch | Ra sân | Bàn thắng | Ra sân | Bàn thắng | Ra sân | Bàn thắng | Ra sân | Bàn thắng |
| Mexico | Giải vô địch | Cup | Bắc Mỹ | Tổng cộng | ||||||
| 1996–97 | Atlas | Primera División | 24 | 2 | — | — | 24 | 2 | ||
| 1997–98 | 20 | 1 | — | — | 20 | 1 | ||||
| 1998–99 | 33 | 3 | — | — | 33 | 3 | ||||
| Pháp | Giải vô địch | Cup | International | Tổng cộng | ||||||
| 1999–2000 | Monaco | Ligue 1 | 23 | 3 | 2 | 0 | 6 | 0 | 31 | 3 |
| 2000–01 | 15 | 1 | 0 | 0 | 4 | 0 | 19 | 1 | ||
| 2001–02 | 19 | 0 | 3 | 0 | — | 22 | 0 | |||
| 2002–03 | 30 | 1 | 0 | 0 | — | 30 | 1 | |||
| Tây Ban Nha | Giải vô địch | Cup | International | Tổng cộng | ||||||
| 2003–04 | Barcelona | La Liga | 22 | 1 | 6 | 0 | 3 | 0 | 31 | 1 |
| 2004–05 | 34 | 3 | 1 | 0 | 6 | 0 | 41 | 3 | ||
| 2005–06 | 25 | 0 | 4 | 1 | 8 | 0 | 37 | 1 | ||
| 2006–07 | 21 | 1 | 7 | 0 | 7 | 0 | 35 | 1 | ||
| 2007–08 | 23 | 2 | 5 | 0 | 8 | 0 | 36 | 2 | ||
| 2008–09 | 23 | 1 | 4 | 1 | 10 | 1 | 37 | 3 | ||
| 2009–10 | 15 | 1 | 3 | 0 | 5 | 0 | 23 | 1 | ||
| Hoa Kỳ | Giải vô địch | Cúp Lamar Hunt Mỹ mở rộng | Cúp liên đoàn | Tổng cộng | ||||||
| 2010 | New York Red Bulls | Major League Soccer | 10 | 1 | 0 | 0 | 2 | 0 | 12 | 1 |
| 2011 | 19 | 0 | 0 | 0 | 2 | 0 | 21 | 0 | ||
| 2012 | 15 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 15 | 0 | ||
| Tổng cộng | Mexico | 77 | 6 | — | — | 77 | 6 | |||
| Pháp | 87 | 5 | 5 | 0 | 10 | 0 | 102 | 5 | ||
| Tây Ban Nha | 163 | 9 | 30 | 2 | 47 | 1 | 240 | 12 | ||
| Mỹ | 44 | 1 | 0 | 0 | 4 | 0 | 48 | 1 | ||
| Tổng cộng sự nghiệp | 371 | 21 | 35 | 2 | 61 | 1 | 467 | 24 | ||
Đội tuyển quốc gia [sửa]
| 1. | 5 tháng 2, 1999 | Sân vận động Hồng Kông, Wan Chai, Hồng Kông | 1–0 | 3–0 | Carlsberg Cup 1999 | |
| 2. | 13 tháng 2, 2000 | Qualcomm, San Diego, Mỹ | 1–0 | 4 – 0 | CONCACAF Gold Cup 2000 | |
| 3. | 3 tháng 9, 2000 | Estadio Azteca, Mexico City, Mexico | 5–1 | 7–1 | Vòng loại World Cup 2002 | |
| 4. | 12 tháng 5, 2002 | Estadio Azteca, Mexico City, Mexico | 2–1 | 2 – 1 | Giao hữu | |
| 5. | 24 tháng 7, 2003 | Estadio Azteca, Mexico City, Mexico | 1–0 | 1–2 | CONCACAF Gold Cup 2003 | |
| 6. | 19 tháng 6, 2004 | Alamodome, San Antonio, Mỹ | 3–0 | 10 –0 | Vòng loại World Cup 2006 | |
| 7. | 7 tháng 9, 2005 | Estadio Azteca, Mexico City, Mexico | 2–0 | 5–0 | Vòng loại World Cup 2006 | |
| 8. | 24 tháng 6, 2006 | Zentralstadion, Leipzig, Đức | 0–1 | 2 – 1 | World Cup 2006 | |
| 9. | 28 tháng 3, 2007 | McAfee Coliseum, Oakland, Mỹ | 2–2 | 4 – 2 | Giao hữu | |
| 10. | 10 tháng 9, 2008 | Estadio Víctor Manuel Reyna, Tuxtla Gutiérrez, Mexico | 2–0 | 2 – 1 | Vòng loại World Cup 2010 | |
| 11. | 11 tháng 6, 2010 | Soccer City, Johannesburg, Nam Phi | 1–1 | 1 – 1 | World Cup 2010 | |
| 12. | 12 tháng 6, 2011 | Soldier Field, Chicago, Mỹ | 1–0 | 4–1 | CONCACAF Gold Cup 2011 |
Cuộc sống cá nhân [sửa]
Cha của anh, Rafael Márquez Esqueda cũng là cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp tại Mexico. Anh kết hôn với nữ diễn viên Adriana Lavat vào tháng 12 năm 2001 và có hai con, Santiago Rafael và Rafaela, trước khi ly dị vào năm 2007.[26] Sau đó, anh kết hôn với Jaydy Michel, vợ cũ của ca sĩ Alejandro Sanz.[27][28]
Chú thích [sửa]
- ^ Barcelona mua trung vệ của Monaco
- ^ Ngọc Hân (10 tháng 5 năm 2006). “Chung kết Champions League:Marquez ghi trang sử mới cho... Mexico”. SGGP Online. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2010.
- ^ “Rafael Márquez”. UEFA.com. 1 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2012.
- ^ Matthew Scianitti, (27 tháng 5 năm 2010). “Rafael Marquez: the loyal solider”. CBC Sports. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2012.
- ^ [1]
- ^ Crawford, Stephen (28 tháng 4 năm 2009). “Barcelona Defender Rafael Marquez Out For The Season”. Goal.com. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2009. “Trung vệ Barcelona Rafael Marquez phải nghỉ thi đấu đến hết mùa giải sau pha va chạm dẫn đến chấn thương trong trận đấu đêm thứ ba tại Champions League với Chelsea.”
- ^ “Bueno, bonito y barato” [Good, pretty and cheap] (bằng Spanish). Fox Sports en Español. 14 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2009. “Florentina ha mostrado su interés formal en el mexicano Rafael Márquez..." ["Florentina have formally demonstrated their interest in the Mexican Rafael Márquez...]”
- ^ “Marquez nears Barça return”. FIFA. FIFA. 26 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2009.
- ^ “Marquez signs new Barca deal”. Ontheminute.com. 1 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2009.
- ^ Milito ready to come back
- ^ "Vùi dập" Racing, Barcelona giải toả sức ép
- ^ “Adeu al viute estranger amb mes partits”. fcbarcelona.cat. 1 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010.
- ^ Chia tay Barca, Rafa Marquez "hẹn hò" Henry ở Mỹ, VTC News, 01/08/2010
- ^ New York Red Bulls sign Mexican National Team captain Rafa Marquez
- ^ Người thừa của Inter lập siêu phẩm bằng cú vôlê, Vnexpress, 21/8/2012
- ^ Red Bulls beat Revs, clinch Eastern Conference
- ^ Cựu sao Barca bị tố ăn vạ không biết xấu hổ
- ^ MLS suspends, fines Rafa Marquez for injuring Shea Salinas
- ^ Mỹ chẳng nhường nhịn láng giềng Mexico
- ^ Argentina "toát mồ hôi hột" vượt qua Mexico
- ^ Rafael Marquez trở lại tập luyện
- ^ Gia Huy (12 tháng 6 năm 2010). “Nam Phi – Mexico, 1-1: Marquez phá hỏng đại tiệc của Nam Phi”. Pháp Luật TPHCM Online. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2012.
- ^ Pháp - Mexico 0 - 2: Pháp trước nguy cơ về nước sớm
- ^ Slevison, Andrew (29 tháng 3 năm 2011). “New York Red Bulls’ Marquez triumphs in 100th Mexico cap”. TribalFootball.com. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2012.
- ^ Soccernet player statistics
- ^ Adriana Lavat y Rafa Márquez firman divorcio por separado/
- ^ Jaydy Michel, blaugrana de corazón
- ^ Rafael Márquez y su novia, reafirman su amor,
Liên kết ngoài [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và tài liệu về: Rafael Márquez |
- Trang web chính thức của Rafael Márquez (tiếng Tây Ban Nha)
- FCBarcelona.cat - Thông tin về Rafael Márquez trên FCBarcelona.cat (tiếng Catalan) / (tiếng Tây Ban Nha) / (tiếng Anh) / (tiếng Nhật) / (tiếng Trung)
- Thông tin về Rafael Márquez trên footballdatabase.com
- Thông tin về Rafael Márquez trên trang web của MLS
- Hồ sơ và thống kê về Rafael Márquez trên ESPN Soccernet