Kỷ lục Giải vô địch bóng đá thế giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Dưới đây là danh sách các kỷ lục của Giải vô địch bóng đá thế giới.

Số liệu cập nhật đến trước vòng chung kết World Cup 2010

Cấp đội tuyển[sửa | sửa mã nguồn]

Tham dự nhiều vòng chung kết nhất
19,  Brasil (Đội duy nhất tham dự đủ tất cả các vòng chung kết World Cup)
Vô địch nhiều lần nhất
5,  Brasil
Chơi nhiều trận chung kết nhất
7,  Brasil Đức
Nhiều lần lọt vào top 4 đội mạnh nhất
12,  Đức
Thi đấu nhiều trận nhất
99,  Đức
Thi đấu ít trận nhất
1,  Indonesia (với tên đội  Đông Ấn (Hà Lan))
Thắng nhiều trận nhất
67,  Brasil
Thua nhiều trận nhất
24,  México
Hòa nhiều trận nhất
21,  Ý
Thi đấu nhiều trận nhất mà chưa từng thắng hoặc hòa
6,  El Salvador
Thi đấu nhiều trận nhất mà chưa từng thắng
6,  Bolivia,  El Salvador,  Honduras,  New Zealand
Ghi nhiều bàn thắng nhất
210,  Brasil
Thủng lưới nhiều bàn nhất
117,  Đức
Ghi ít bàn thắng nhất
0,  Canada,  Trung Quốc,  Indonesia (với tên đội  Đông Ấn (Hà Lan)),  Trinidad & Tobago, và  CHDC Congo (với tên đội  Zaire).
Thủng lưới ít bàn nhất
2,  Angola
Thi đấu nhiều trận nhất mà chưa từng ghi bàn thắng
3,  Canada,  Trung Quốc,  Trinidad & Tobago, và  CHDC Congo (với tên đội  Zaire).
Tỉ lệ ghi nhiều bàn thắng nhất mỗi trận
2,72,  Hungary
Tỉ lệ để thủng lưới ít nhất mỗi trận
0,67,  Angola (thủng lưới 2 bàn trong 3 trận)
Hai đội gặp nhau nhiều nhất
7 lần,  Brasil vs  Thụy Điển (1938, 1950, 1958, 1978, 1990 và hai lần tại giải năm 1994)
Hai đội gặp nhau nhiều nhất tại trận chung kết
2 lần,  Brasil vs  Ý (1970 & 1994) &  Argentina vs  Đức (1986 & 1990)
Tham gia nhiều lần nhất mà luôn vượt qua vòng bảng
3,[1]  Ireland
Tham gia nhiều lần nhất mà luôn bị loại ở vòng bảng
8,  Scotland

Tại cùng một kỳ World Cup[sửa | sửa mã nguồn]

Thắng nhiều trận nhất
[2] 7,  Brasil, 2002
Ghi nhiều bàn thắng nhất
27 bàn,  Hungary, 1954
Thủng lưới ít bàn nhất
0 bàn,  Thụy Sĩ, 2006
Thủng lưới nhiều bàn nhất
16 bàn,  Hàn Quốc, 1954
Giữ sạch lưới lâu nhất
517 phút,  Ý, 1990
Hiệu số bàn thắng-bàn thua cao nhất
+17,  Hungary, 1954
Hiệu số bàn thắng-bàn thua thấp nhất
-16,  Hàn Quốc, 1954
Tỉ lệ số bàn thắng cao nhất ghi được mỗi trận đấu
5.40,  Hungary, 1954
Đội vô địch ghi được nhiều bàn thắng nhất
25 bàn,  Đức, 1954
Đội vô địch ghi được ít bàn thắng nhất
8,  Tây Ban Nha, 2010[3]
Đội vô địch để thủng lưới ít nhất
2 bàn,  Pháp, 1998,  Ý, 2006 Tây Ban Nha, 2010
Đội vô địch để thủng lưới nhiều nhất
14 bàn,  Đức, 1954
Đội đương kim vô địch có thành tích tệ nhất
1 hòa, 2 bại và ghi được 0 bàn thắng,  Pháp, 2002[4]
Đội không vô địch có nhiều trận thắng nhất[5]
6,  Hà Lan, 2010 ( Hà Lan cũng thắng cả 8 trận vòng loại)
Đội vô địch thua nhiều nhất
1,  Đức, 19541974;  Argentina, 1978;  Tây Ban Nha, 2010
Đội chiến thắng các đội cựu vô địch nhiều nhất[6]
3,  Brasil (1970),  Ý (1982),  Argentina (1986),  Đức (2010).[7]

Các chuỗi[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch liên tiếp
2,  Ý (1934–1938) và  Brasil (1958–1962).
Lọt vào tới trận chung kết liên tiếp
3,  Đức (1982–1990) và  Brasil (1994–2002).
Giành ngôi á quân liên tiếp
2,  Hà Lan (1974–1978) và  Đức (1982–1986).
Liên tục bị loại ở vòng 1
8,  Scotland (1954–1958, 1974–1990, 1998).
Số lần tham dự vòng chung kết liên tiếp
19,  Brasil (1930–2010).
Số lần liên tiếp vượt qua vòng loại[8]
7,  Tây Ban Nha (1986–2010).
Số lần liên tiếp không vượt qua vòng loại
18,  Luxembourg (1934–2010).
Số trận thắng liên tiếp
11,  Brasil, từ trận thắng 2-1 trước tuyển Thổ Nhĩ Kỳ (2002) tới trận thắng 3-0 trước tuyển Ghana (2006).
Số trận liên tiếp bất bại
13,  Brasil, từ trận thắng 3-0 trước tuyển Áo (1958) tới trận thắng 2-0 trước tuyển Bulgaria (1966).
Số trận thua liên tiếp
9,  México, từ trận thua 1-4 trước tuyển Pháp (1930) tới trận thua 0-3 trước tuyển Thụy Điển (1958).
Số trận liên tiếp không giành thắng lợi
17,  Bungary, từ trận thua 0-1 trước tuyển Argentina (1962) tới trận thua 0-3 trước tuyển Nigeria (1994).
Số trận hòa liên tiếp
5,  Bỉ, từ trận hòa 0-0 trước tuyển Hà Lan (1998) tới trận hòa 1-1 trước tuyển Tunisia (2002).
Số trận liên tiếp mà không hòa
16,  Bồ Đào Nha, từ trận thắng 3-1 trước tuyển Hungary (1966) tới trận thắng 1-0 trước tuyển Hà Lan (2006).
Số trận liên tiếp mà ghi ít nhất một bàn thắng
18,  Brasil (1930–1958) và  Đức (1934–1958).
Số trận liên tiếp mà ghi ít nhất hai bàn thắng
11,  Uruguay (1930–1954)
Số trận liên tiếp ghi được tối thiểu ba / bốn bàn
4,  Uruguay (1930–1950) và  Hungary (1954) (4 bàn);  Bồ Đào Nha (1966),  Đức (1970),  Brasil (1970) (3 bàn)
Số trận liên tiếp ghi được tối thiểu sáu / tám bàn
2,  Hungary (1954) (8 bàn);  Brasil (1950) (6 bàn)
Số trận liên tiếp không ghi được bàn thắng
5,  Bolivia (1930–1994).
Số trận liên tiếp giữ sạch lưới
5,  Ý (1990).
Số trận liên tiếp bị thủng lưới ít nhất một bàn
22,  Thụy Sĩ (1934–1994).
Số trận liên tiếp bị thủng lưới ít nhất hai bàn
9,  México (1930–1958).
Số trận liên tiếp bị thủng lưới ít nhất ba bàn
5,  México (1930–1950).
Số trận liên tiếp bị thủng lưới ít nhất bốn bàn
3,  Bolivia (1930–1950),  México (1930–1950).
Số trận liên tiếp bị thủng lưới ít nhất năm / sáu / bảy bàn
2,  Hàn Quốc (1954) (7 bàn);  Hoa Kỳ (1930–1934) (6 bàn);  Áo (1954) (5 bàn).
Giữ sạch lưới lâu nhất
517 phút,  Thụy Sĩ, (2006–2010)

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Tham dự nhiều vòng chung kết nhất
5, Antonio Carbajal ( México, 1950–1966) và Lothar Matthäus ( Đức, 1982–1998).
Vô địch nhiều lần nhất
3, Pelé ( Brasil, 1958, 1962 và 1970).
Chơi nhiều trận nhất tại vòng chung kết
25, Lothar Matthäus ( Đức, 1982–1998).
Chơi tổng cộng nhiều phút nhất tại vòng chung kết
2,217 phút, Paolo Maldini ( Ý, 1990–2002).
Chơi nhiều trận nhất tại vòng loại
68, Iván Hurtado ( Ecuador, 1994–2010)
Thắng nhiều trận nhất
16, Cafu ( Brasil, 1994–2006).
Chơi nhiều trận chung kết World Cup nhất
3, Cafu ( Brasil, 1994–2002).[9]
Nhiều lần mang băng đội trưởng nhất
16, Diego Maradona ( Argentina, 1986–1994).
Nhiều lần vào sân từ băng ghế dự bị nhất
11, Denílson ( Brasil, 1998–2002).
Cầu thủ trẻ nhất
17 tuổi và 41 ngày, Norman Whiteside ( Bắc Ireland, trong trận gặp Nam Tư, 1982).
Cầu thủ trẻ nhất chơi một trận chung kết
17 tuổi và 249 ngày, Pelé ( Brasil, trong trận gặp Thụy Điển, 1958).
Cầu thủ trẻ nhất chơi một trận vòng loại
13 tuổi và 310 ngày, Souleymane Mamam ( Togo, trong trận gặp Zambia, 2002).[10]
Đội trưởng trẻ nhất
21 tuổi và 109 ngày, Tony Meola ( Hoa Kỳ, trong trận gặp Tiệp Khắc, 1990).
Cầu thủ lớn tuổi nhất
42 tuổi và 39 ngày, Roger Milla ( Cameroon, trong trận gặp Nga, 1994).
Cầu thủ lớn tuổi nhất thi đấu một trận chung kết
40 tuổi và 133 ngày, Dino Zoff ( Ý, trong trận gặp Đức, 1982).
Cầu thủ lớn tuổi nhất thi đấu một trận vòng loại
46 tuổi và 180 ngày, MacDonald Taylor ( Quần đảo Virgin (Mỹ), trong trận gặp St. Kitts và Nevis, 2006).[11]

Kỷ lục về bàn thắng[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi được nhiều bàn thắng nhất trong các vòng chung kết
15, Ronaldo ( Brasil, 1998–2006).
Ghi được nhiều bàn thắng nhất tại vòng loại
35, Ali Daei ( Iran, 1994–2006).[12]
Ghi được nhiều bàn thắng nhất tại một vòng chung kết
13, Just Fontaine ( Pháp), 1958.
Ghi nhiều bàn nhất trong một trận
5, Oleg Salenko ( Nga, trong trận gặp Cameroon, 1994).
Ghi nhiều bàn nhất trong một trận thua
4, Ernest Wilimowski ( Ba Lan, trong trận gặp Brasil, 1938).
Ghi nhiều bàn nhất trong một trận vòng loại
13, Archie Thompson ( Úc, trong trận gặp Samoa thuộc Mỹ, 2002).
Ghi nhiều bàn nhất trong một trận chung kết
3, Geoff Hurst ( Anh, trong trận gặp Tây Đức, 1966).
Số trận ghi ít nhất được một bàn thắng
11, Ronaldo ( Brasil, 1998–2006).
Số trận liên tiếp ghi ít nhất được một bàn thắng
6, Just Fontaine ( Pháp, 1958) và Jairzinho ( Brasil, 1970).
Số trận ghi ít nhất được hai bàn thắng
4, Sándor Kocsis ( Hungary, 1954), Just Fontaine ( Pháp, 1958), và Ronaldo ( Brasil, 1998–2006).
Số trận liên tiếp ghi ít nhất được hai bàn thắng
4, Sándor Kocsis ( Hungary, 1954).
Ghi được nhiều hat-trick nhất
2, Sándor Kocsis ( Hungary, 1954), Just Fontaine ( Pháp, 1958), Gerd Müller ( Tây Đức, 1970), và Gabriel Batistuta ( Argentina, 1994 và 1998).
Số trận liên tiếp đều ghi được hat-trick
2, Sándor Kocsis ( Hungary, 1954) và Gerd Müller ( Tây Đức, 1970).
Khoảng thời gian nhanh nhất để hoàn thành hat-trick
8 phút, László Kiss ( Hungary), ghi bàn ở các phút 69', 72', và 76' trong trận gặp El Salvador, 1982.
Ghi bàn tại tất cả các trận đấu tại một kỳ World Cup
Alcides Ghiggia ( Uruguay), 4 bàn trong 4 trận (1950), Just Fontaine ( Pháp), 13 bàn trong 6 trận (1958), Jairzinho ( Brasil), 7 bàn trong 6 trận (1970).[13]
Số giải đấu ghi được ít nhất một bàn
4, Pelé ( Brasil, 1958–1970) và Uwe Seeler ( Tây Đức, 1958–1970).
Số giải đấu ghi được ít nhất hai bàn
4, Uwe Seeler ( Tây Đức, 1958–1970).
Số giải đấu ghi được ít nhất ba bàn
3, Jürgen Klinsmann ( Đức, 1990–1998) và Ronaldo ( Brasil, 1998–2006).
Số giải đấu ghi được ít nhất bốn bàn
3, Miroslav Klose ( Đức, 2002–2010).
Số giải đấu ghi được ít nhất năm bàn
2, Teófilo Cubillas ( Peru 1970, 1978) và Miroslav Klose ( Đức, 2002–2006).
Khoảng thời gia dài nhất giữa hai bàn thắng
12 năm, Pelé ( Brasil, 1958–1970), Uwe Seeler ( Tây Đức, 1958–1970), Diego Maradona ( Argentina, 1982–1994), Michael Laudrup ( Đan Mạch, 1986–1998), Henrik Larsson ( Thụy Điển, 1994–2006), và Sami Al-Jaber ( Ả Rập Saudi, 1994–2006).
Cầu thủ trẻ nhất ghi bản
17 tuổi và 239 ngày, Pelé ( Brasil, trong trận gặp Xứ Wales, 1958).
Cầu thủ trẻ nhất lập hat-trick
17 tuổi và 244 ngày, Pelé ( Brasil, trong trận gặp Pháp, 1958).
Cầu thủ trẻ nhất ghi bàn trong một trận chung kết
17 tuổi và 249 ngày, Pelé ( Brasil, trong trận gặp Thụy Điển, 1958).
Cầu thủ lớn tuổi nhất ghi bàn
42 tuổi và 39 ngày, Roger Milla ( Cameroon, trong trận gặp Nga, 1994).
Cầu thủ lớn tuổi nhất lập hat-trick
33 tuổi và 159 ngày, Tore Keller ( Thụy Điển, trong trận gặp Cuba, 1938).[14]
Cầu thủ lớn tuổi nhất ghi bàn trong một trận chung kết
35 tuổi và 263 ngày, Nils Liedholm ( Thụy Điển, trong trận gặp Brasil, 1958).
Bàn thắng nhanh nhất
11 giây, Hakan Şükür ( Thổ Nhĩ Kỳ, trong trận gặp Hàn Quốc, 2002).
Bàn thắng nhanh nhất khi được vào sân từ băng ghế dự bị
16 giây, Ebbe Sand ( Đan Mạch, trong trận gặp Nigeria, 1998).
Bàn thắng nhanh nhất trong một trận chung kết
90 giây, Johan Neeskens ( Hà Lan, trong trận gặp Tây Đức, 1974).
Bàn thắng nhanh nhất trong một trận vòng loại
8 giây, Davide Gualtieri ( San Marino, trong trận gặp Anh, 1994).
Bàn thắng muộn nhất
phút thứ 121, Alessandro Del Piero ( Ý, trong trận gặp Đức, 2006).
Bàn thắng muộn nhất trong một chung kết
phút thứ 120, Geoff Hurst ( Anh, trong trận gặp Tây Đức, 1966).

Đội tuyển[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉ số cách biệt nhất, 9 bàn
17 tháng 6, 1954
18:00
Hungary  9 – 0  Hàn Quốc
Puskás Goal 12'89' Goal 89'
Lantos Goal 18'
Kocsis Goal 24'36'50' Goal 36' Goal 50'
Czibor Goal 59'
Palotás Goal 75'83' Goal 83'
(chi tiết)
Hardturm Stadium, Zürich
Khán giả: 18.000
Trọng tài: Cờ của Pháp Raymond Vincenti

18 tháng 6, 1974
19:30
Nam Tư  9 – 0  Zaire
Bajević Goal 8'30'81' Goal 30' Goal 81'
Džajić Goal 14'
Šurjak Goal 18'
Katalinski Goal 22'
Bogićević Goal 35'
Oblak Goal 61'
Petković Goal 65'
(chi tiết)
Parkstadion, Gelsenkirchen
Khán giả: 20.000
Trọng tài: Cờ của Colombia Omar Delgado Gómez

15 tháng 6, 1982
21:15
Hungary  10 – 1  El Salvador
Nyilasi Goal 4'83' Goal 83'
Pölöskei Goal 11'
Fazekas Goal 23'54' Goal 54'
Tóth Goal 50'
Kiss Goal 69'72'76' Goal 72' Goal 76'
Szentes Goal 72'
(chi tiết) Ramírez Goal 64'
Nuevo Estadio, Elche
Khán giả: 23.000
Trọng tài: Cờ của Bahrain Ibrahim Youssef Al-Doy
Tỉ số cách biệt nhất trong một trận vòng loại, 31 bàn
11 tháng 4, 2001
19:00
Úc  31 – 0  Samoa (Mỹ)
(chi tiết)
Đội ghi được nhiều bàn thắng nhất trong một trận, 10 bàn
15 tháng 6, 1982
21:15
Hungary  10 – 1  El Salvador
Nyilasi Goal 4'83' Goal 83'
Pölöskei Goal 11'
Fazekas Goal 23'54' Goal 54'
Tóth Goal 50'
Kiss Goal 69'72'76' Goal 72' Goal 76'
Szentes Goal 72'
(chi tiết) Ramírez Goal 64'
Nuevo Estadio, Elche
Khán giả: 23.000
Trọng tài: Cờ của Bahrain Ibrahim Youssef Al-Doy
Trận đấu có nhiều bàn thắng nhất, 12 bàn
26 tháng 6, 1954
17:00
Áo  7 – 5  Thụy Sĩ
Wagner Goal 25'27'53' Goal 27' Goal 53'
A. Körner Goal 26'34' Goal 34'
Ocwirk Goal 32'
Probst Goal 76'
(chi tiết) Ballaman Goal 16'39' Goal 39'
Hügi Goal 17'19'58' Goal 19' Goal 58'
Stade Olympique de la Pontaise, Lausanne
Khán giả: 35.000
Trọng tài: Cờ của Scotland Charlie Faultless
Đội ghi được nhiều bàn thắng nhất trong một trận chung kết, 5 bàn
29 tháng 6, 1958
15:00
Thụy Điển  2 – 5  Brasil
Liedholm Goal 4'
Simonsson Goal 80'
(chi tiết) Vavá Goal 9'32' Goal 32'
Pelé Goal 55'90' Goal 90'
Zagallo Goal 68'
Råsunda Stadium, Solna
Khán giả: 51.800
Trọng tài: Cờ của Pháp Maurice Guigue
Trận chung kết có nhiều bàn thắng nhất, 7 bàn
29 tháng 6, 1958
15:00
Thụy Điển  2 – 5  Brasil
Liedholm Goal 4'
Simonsson Goal 80'
(chi tiết) Vavá Goal 9'32' Goal 32'
Pelé Goal 55'90' Goal 90'
Zagallo Goal 68'
Råsunda Stadium, Solna
Khán giả: 51.800
Trọng tài: Cờ của Pháp Maurice Guigue
Trận chung kết có ít bàn thắng nhất, 0 bàn
17 tháng 7, 1994
12:35
Brasil  0 – 0
(a.e.t.)
 Ý
(chi tiết)
  Loạt sút luân lưu  
Márcio Santos Hỏng (saved)
Romário Thành công
Branco Thành công
Dunga Thành công
3 – 2 Hỏng (over the bar) Baresi
Thành công Albertini
Thành công Evani
Hỏng (saved) Massaro
Hỏng (over the bar) R. Baggio
Rose Bowl, Pasadena
Khán giả: 94.194
Trọng tài: Cờ của Hungary Sándor Puhl
Nhiều cầu thủ nhất cùng ghi bàn cho một đội trong một trận đấu
7,  Nam Tư, trong trận gặp  Zaire, 1974 (Dušan Bajević, Dragan Džajić, Ivica Šurjak, Josip Katalinski, Vladislav Bogićević, Branko Oblak, Ilija Petković).
Nhiều cầu thủ nhất cùng ghi bàn cho một đội trong một kỳ World Cup
10,  Pháp, 1982 (Gérard Soler, Bernard Genghini, Michel Platini, Didier Six, Maxime Bossis, Alain Giresse, Dominique Rocheteau, Marius Trésor, René Girard, Alain Couriol) và  Ý, 2006 (Alessandro Del Piero, Alberto Gilardino, Fabio Grosso, Vincenzo Iaquinta, Filippo Inzaghi, Marco Materazzi, Andrea Pirlo, Luca Toni, Francesco Totti, Gianluca Zambrotta).

Giải đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Giải có số bàn thắng cao nhất
171 bàn, 1998.
Giải có số bàn thắng ít nhất
70 bàn, 19301934.
Giải có tỉ lệ bàn thắng cao nhất mỗi trận
5.38 bàn một trận, 1954.
Giải có tỉ lệ bàn thắng thấp nhất mỗi trận
2.21 bàn một trận, 1990.

Bàn thắng phản lưới nhà[sửa | sửa mã nguồn]

Giải đấu có nhiều bàn thắng phản lưới nhà nhất
4 bàn, 1954, 1998 & 2006.
Trận đấu có nhiều bàn thắng phản lưới nhà nhất
2,  Hoa Kỳ vs  Bồ Đào Nha, 2002 (Jorge CostaJeff Agoos).
Cầu thủ ghi bàn cho cả hai đội
Ernie Brandts ( Hà Lan, trong trận gặp Ý, 1978 – đốt lưới nhà vào phút thứ 18, ghi bàn vào phút thứ 50).

Thủ môn[sửa | sửa mã nguồn]

Số trận giữ sạch lưới nhiều nhất
10, Peter Shilton ( Anh, 1982–1990) và Fabien Barthez ( Pháp, 1998–2006)
Khoảng thời gian giữ sạch lưới liên tục lâu nhất
517 phút, Walter Zenga ( Ý, 1990)
Để thủng lưới nhiều bàn nhất
25, Antonio Carbajal ( México) và Mohamed Al-Deayea ( Ả Rập Saudi)
Để thủng lưới nhiều bàn nhất trong một kỳ World Cup
16, Hong Duk-Yung ( Hàn Quốc, 1954)
Để thủng lưới nhiều bàn nhất trong một trận
10, Luis Guevara Mora ( El Salvador), 1982 (trong trận gặp  Hungary)
Để thủng lưới ít bàn nhất trong một kỳ World Cup
0, Pascal Zuberbühler ( Thụy Sĩ, 2006)

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Dẫn dắt nhiều trận nhất
25, Helmut Schön ( Tây Đức, 1966–1978).
Thắng nhiều trận nhất
16, Helmut Schön ( Tây Đức, 1966–1978).
Vô địch nhiều lần nhất
2, Vittorio Pozzo ( Ý, 1934–1938).
Tham dự nhiều giải nhất
5, Bora Milutinović (1986–2002) và Carlos Alberto Parreira (1982, 1990–1998, 2006).
Dẫn dắt nhiều đội nhất
5, Bora Milutinović ( México, 1986;  Costa Rica, 1990;  Hoa Kỳ, 1994;  Nigeria, 1998;  Trung Quốc, 2002).
Chuỗi trận thắng dài nhất
11, Luiz Felipe Scolari ( Brasil, 2002, 7 trận;  Bồ Đào Nha, 2006, 4 trận – Bồ Đào Nha "thắng" trận tiếp theo sau loạt sút luân lưu nên được tính như một trận hòa).
Chuỗi trận bất bại dài nhất
12, Luiz Felipe Scolari ( Brasil, 2002, 7 trận;  Bồ Đào Nha, 2006, 5 trận).
Huấn luyện viên trẻ tuổi nhất
27 tuổi và 267 ngày, Juan José Tramutola ( Argentina, 1930)
Huấn luyện viên lớn tuổi nhất
70 tuổi và 131 ngày, Cesare Maldini ( Paraguay, 2002)
Thay người nhanh nhất
Phút thứ 4, Cesare Maldini, cho Giuseppe Bergomi vào thay Alessandro Nesta ( Ý, trong trận gặp Áo, 1998); Sven-Göran Eriksson, cho Peter Crouch vào thay Michael Owen ( Anh, trong trận gặp Thụy Điển, 2006).
Vô địch nhiều lần nhất trên cả tư cách Huấn luyện viên lẫn cầu thủ
3, Mário Zagallo,  Brasil (1958 & 1962 với tư cách cầu thủ, 1970 với tư cách Huấn luyện viên)[15]
Tham gia nhiều trận chung kết nhất trên cả tư cách Huấn luyện viên lẫn cầu thủ
4, Mário Zagallo,  Brasil (1958 & 1962 với tư cách cầu thủ, 1970 & 1998 với tư cách Huấn luyện viên); Franz Beckenbauer,  Tây Đức (1966 & 1974 với tư cách cầu thủ, 1986 & 1990 với tư cách Huấn luyện viên)

Trọng tài[sửa | sửa mã nguồn]

Điều hành nhiều giải nhất
3, Jean Langenus (Cờ của Bỉ Bỉ, 1930–1938), Ivan Eklind (Cờ của Thụy Điển Thụy Điển, 1934–1950), Benjamin Griffiths (Cờ của Wales Wales, 1950–1958), Arthur Ellis (Cờ của Anh Anh, 1950–1958), Juan Gardeazábal (Cờ của Tây Ban Nha Tây Ban Nha, 1958–1966), Jamal Al Sharif (Cờ của Syria Syria, 1986–1994), Joël Quiniou (Cờ của Pháp Pháp, 1986–1994), Ali Mohamed Bujsaim (Flag of the United Arab Emirates UAE, 1994–2002)
Điều hành nhiều trận nhất
8, Joël Quiniou (Cờ của Pháp Pháp), 1986–1994
Điều hành nhiều trận nhất trong cùng một kỳ World Cup
5, Benito Archundia (Cờ của México Mexico), 2006, và Horacio Elizondo (Cờ của Argentina Argentina), 2006
Trọng tài trẻ nhất
24 tuổi và 193 ngày, Juan Gardeazábal (Cờ của Tây Ban Nha Tây Ban Nha, 1958)
Trọng tài lớn tuổi nhất
56 tuổi và 236 ngày, George Reader (Cờ của Anh Anh, 1950)

Lượng khán giả[sửa | sửa mã nguồn]

Lượng khán giả đông nhất cho một trận chung kết World Cup
199.854, Uruguay gặp Brazil, 16 tháng 7 năm 1950, Maracanã Stadium, Rio de Janeiro, Brasil, World Cup 1950.
Lượng khán giả thấp nhất cho một trận tại vòng chung kết World Cup
300, Romania gặp Peru, 14 tháng 7 năm 1930, Estadio Pocitos, Montevideo, Uruguay, World Cup 1930.
Lượng khán giả đông nhất cho một trận vòng loại
162.764, Brasil gặp Colombia, 9 tháng 3 năm 1977, Maracanã Stadium, Rio de Janeiro, Brasil, World Cup 1978.
Lượng khán giả thấp nhất cho một trận vòng loại
0, Costa Rica gặp Panama, 26 tháng 3 năm 2005, Saprissa Stadium, San Juan de Tibás, Costa Rica, World Cup 2006.[16]
Lượng khán giả trung bình mỗi trận cao nhất
68.991, 1994.
Lượng khán giả trung bình mỗi trận thấp nhất
23.235, 1934.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đức luôn vượt qua vòng 1 từ khi thể thức đấu bảng được thiết lập, nhưng đội thua ở vòng 1 trận đấu loại trực tiếp tại giải năm 1938
  2. ^  PhápWorld Cup 1998 có 6 trận thắng; trận gặp  Ý tính là hòa vì Pháp chỉ thắng sau loạt sút luân lưu.
  3. ^ Successful kicks in a penalty shootout are not counted as goals (but penalties scored in the normal course of play are counted)
  4. ^ Đội vô địch giải năm 1930 Uruguay từ chối tham dự giải năm 1934, có ba đội đương kim vô địch khác không vượt qua vòng 1 là:  Ý năm 1950,  Brasil năm 1966, và  Pháp năm 2002, cả hai đội kia đều có trận thắng.
  5. ^  Ba Lan tại 1974 cũng thắng 6 trận, nhưng trong đó có một trận third-place playoff.
  6. ^ A match decided by a penalty shootout is considered a draw for both sides
  7. ^ Chi tiết: Brazil năm 1970 thắng Anh (vòng bảng), Uruguay (bán kết) và Italy (chung kết). Italy năm 1982 thắng Argentina (second group stage), Brazil (second group stage) và Đức (chung kết). Argentina năm 1986 thắng Uruguay (vòng 1/16), anh (tứ kết), và Đức (chung kết). Đức năm 2010 thắng Anh (vòng 1/16), Argentina (tứ kết) và Uruguay (tranh giải 3-4).
  8. ^ Không tính với tư cách là nước chủ nhà, với tư cách là đương kim vô địch, hay là khách mời.
  9. ^ Pelé, Lothar Matthäus, Pierre LittbarskiRonaldo cùng ba lần co tên trong danh sách thi đấu ở trận chung kết, nhưng tất cả các cầu thủ trên đều có tối thiểu một lần không được tung vào sân.
  10. ^ Báo cáo chính thức của FIFA ghi cầu thủ sinh năm 1987, nhưng một số tài liệu ghi anh sinh năm 1985, nghĩa là anh 15 tuổi và 310 ngày vào thời điểm trận đấu diễn ra.
  11. ^ Theo nguồn của "FIFA World Cup Superlatives: Players", FIFA report, Taylor còn thi đấu một trận nữa sau trận này, cung gặp St. Kitts và Nevis vào ngày 31 tháng 3 năm 2004, tức là phá vỡ kỷ lục cũ của anh thành 46 tuổi và 222 ngày.
  12. ^ Communications Division (27 tháng 7 năm 2007). “History of the FIFA World Cup Preliminary Competition (by year)” (PDF). Good to Know. FIFA. tr. 42. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2009. 
  13. ^ Chỉ tính các đội lọt tối thiểu đến vòng bán kết tức thi đấu số trận tối đa của giải.
  14. ^ Một số nguồn như RSSSF ghi rằng Harry Andersson chứ không phải Tore Keller lập hat-trick trong trận này. (link)
  15. ^ Zagallo cũng vô địch giải năm 1994 cùng Brasil trong vai trò trợ lý Huấn luyện viên trưởng.
  16. ^ Reuters. “Costa Rica fans banned after violence”. ESPN Soccernet. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2007. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]