Robinho

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Robinho
Tập tin:Robinho – A.C. Milan.jpg
Robinho chơi cho A.C. Milan vào tháng 8 năm 2012
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Robson de Souza
Chiều cao 1,72 m (5 ft 7 12 in) [1]
Vị trí Tiền đạo
Thông tin câu lạc bộ
CLB hiện tại A.C. Milan
Số áo 7
CLB trẻ
1996–2002 Câu lạc bộ bóng đá Santos
CLB Chuyên nghiệp*
Năm CLB Trận (Bàn)
2002–2005 Câu lạc bộ bóng đá Santos 110 (47)
2005–2008 Real Madrid 101 (25)
2008–2010 Manchester City F.C. 41 (14)
2010 Câu lạc bộ bóng đá Santos (cho mượn) 2 (0)
2010– A.C. Milan 92 (24)
Đội tuyển quốc gia
2004 Brazil U23 8 (3)
2003–2011 ĐTQG Brasil 90 (26)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng
được ghi ở giải Vô địch quốc gia
cập nhật ngày 6 October 2013.

† Số trận khoác áo (Số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG và
số bàn thắng được cập nhật
ngày 10 August 2011

Robson de Souza (sinh ngày 25 tháng 1, 1984 tại São Vicente, São Paulo), thường gọi Robinho, là một cầu thủ bóng đá người Brasil thi đấu ở vị trí tiền đạo cho câu lạc bộ AC Milan tại Serie Ađội tuyển Brasil.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Robinho sinh tại Parque Bitaru, một vùng nghèo khổ của São Vicente thuộc Santos, tại đây anh bắt đầu sự nghiệp bóng đá từ rất trẻ. Khi lên 6, anh gia nhập Beira-Mar, một câu lạc bộ nhỏ và là trường đào tạo bóng đá trong khu vực; đội bóng của anh đoạt chức vô địch ngay trong năm đầu tiên anh đến.[2] Một trong những người cùng chơi với anh lúc ấy là Marcelo, nay là đồng đội của anh tại Real Madrid. Hồi 1993, mới 9 tuổi, Robinho đã ghi 73 bàn thắng cho Portuários, một đội bóng đá trong nhà. Sau đó, anh gia nhập đội trẻ Santos FC, đội bóng của huyền thoại Pelé trước kia.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Santos F.C.[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2002, lúc 19 tuổi, Robinho gia nhập làng bóng đá chuyên nghiệp khi được đưa lên đội hình chính của Santos. Anh xuất hiện 24 trận trong mùa giải đó và ghi 9 bàn, cùng Santos vô địch Campeonato Brasileiro. Năm 2004, anh trở thành mũi nhọn tấn công của đội khi ghi 21 bàn sau 37 trận của giải vô địch, và lần thứ 2 chiến thắng tại giải này với Santos.

Sự thể hiện đó khiến anh thu hút sự chú ý của nhiều câu lạc bộ Âu châu vào mùa hè năm 2004. Nhưng Santos từ chối tất cả lời đề nghị, và Robinho không đi đâu cả. Đến mùa giải 2004-2005, Robinho suy sụp tinh thần khi mẹ anh, bà Marina da Silva Souza, bị bắt cóc khi đang ăn bánh cuốn ở nhà riêng tại Praia Grande. Sáu tuần sau, nhờ một món tiền chuộc, bà mới được thả ra mà không tổn hại gì.[3] Anh chỉ ghi 4 bàn sau 8 trận mùa giải đó, song giá của anh vẫn tăng lên. Cho đến cuối năm, Santos lâm vào khó khăn tài chính, phải bán bớt một số ngôi sao trong đội hình. Cuối cùng vào tháng 5 năm 2005, câu lạc bộ Real Madrid của Tây Ban Nha đã có được Robinho sau khi giao cho Santos 24 triệu Euro.[4]

Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Robinho chơi trận đầu tiên tại La Liga vào ngày 28 tháng 8 năm 2005, trong trận mà Real Madrid đả bại Cádiz CF với tỉ số 2-1. Anh vào sân vào phút thứ 65th thay cho Thomas Gravesen. Cả mùa giải đầu tiên ở đây, anh có 37 lần xuất hiện và ghi 9 bàn thắng.

Tại mùa bóng 2006-07, Robinho được đá ít hơn khi Fabio Capello lên nắm chức huấn luyện viên của kền kền trắng, anh đá như mệt mỏi vào cả nửa đầu mùa giải. Chỉ đến sau mùa đông, anh mới lấy lại phong độ và được trở lại đội hình xuất phát.

Robinho đã được sự chấp thuận của FIFA để bỏ một buổi tập huấn chuẩn bị cho Copa América với Brasil. Anh dùng nó để cùng Madrid thi đấu trận quyết định với Mallorca vào 18 tháng 6 năm 2007, đội bóng đã thắng 3-1 và lên ngôi vô địch lần thứ 30 trong lịch sử, đó là lần thứ 3 trong sự nghiệp của Robinho. Anh ghi 11 bàn và có 14 đường chuyền ăn bàn tại La Liga mùa bóng 2007-08.

Manchester City[sửa | sửa mã nguồn]

Robinho trong màu áo Manchester City.

Vào ngày 1 tháng 12 năm 2008, ngày đóng cửa thị trường chuyển nhượng mùa hè của Premier League, Robinho đã ký kết thành công một hiệp đồng mới trị giá 42,5 triệu để chuyển qua Manchester City với mức lương 160,000 bảng một tuần.[5]

Đến kì chuyển nhượng mùa đông năm 2010 do không đạt dược phong độ tốt Manchester City,anh đã được BLD của nửa Xanh thành Machester cho Santos (CLB anh tham gia khi còn trẻ) nhằm muốn lấy lại phong độ như lúc còn ở Real.

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Robinho trong trận đấu với Thụy Sĩ

Robinho đá trận đầu cho tuyển quốc gia tại CONCACAF Gold Cup vào ngày 13 tháng 7, trong một trận đấu mà Brasil đã để thua Mexico 1-2.

Anh được chơi 4 trong 5 trận của Brasil tại World Cup 2006, ra sân từ ghế dự bị và không ghi bàn nào. Đến Copa América 2007, anh thành một thủ lĩnh đưa đội tuyển đến chức vô địch. Mùa bóng ấy, anh khoác áo số 11, số áo của thần tượng Romario đã từng mang. Robinho ghi tất cả 5 bàn cho Brazil ở vòng loại, trong đó có 1 cú hat trick giúp đội nhà thắng Chilê 3-0, bàn còn lại từ qua Penalty trong trận thắng Ecuador 1-0. Hai bàn cuối cùng của anh tại giải này được ghi trong trận tứ kết gặp lại Chile, mà Brasil đã thắng 6-1. Brasil đem chiến thắng về nhà, và Robinho về với rất nhiều giải thưởng, trong đó có chiếc giày vàng cho vua phá lưới và danh hiệu cầu thủ chơi hay nhất giải đấu. Robinho có 1 trận làm đội trưởng tuyển vàng xanh khi đội này tiếp Algeria, vì cả LúcioGilberto Silva đều vắng mặt.

Vào 18 tháng 10 năm 2007, Robinho và Ronaldinho là trung tâm của sự chú ý khi họ đã rủ nhau ăn chơi một bữa sau trận đấu cho tuyển quốc gia, mà quên cả việc về Tây Ban Nha với câu lạc bộ. Một tờ báo Brasil: O Globo tường thuật rằng cả hai cùng với một vài đồng đội (Baptista cũng bị nhìn thấy) đã bày tiệc rầm rộ tại một hộp đêm nổi tiếng ở Rio de Janeiro, để ăn mừng cho chiến thắng 5-0 trước Ecuador trước đó 1 ngày. Robinho bị phóng viên phát hiện là đang nhún nhảy với những cô gái, và còn tuyên bố rằng họ sẽ sử dụng hết 40 cái bao cao su trước khi rời khỏi hộp đêm vào lúc 5 giờ sáng. Robinho phủ nhận chuyện đó, nói thêm rằng anh sắp cưới cô bạn gái rồi, sau khi giúp cô này có thai đứa con đầu tiên vào đầu năm 2008.[6]

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Tính tới 1 tháng 6, 2008

Sự nghiệp qua các câu lạc bộ
Câu lạc bộ Mùa bóng Giải quốc gia Cúp quốc gia Cúp châu lục Cả thảy
Xuất hiện Bàn thắng Xuất hiện Bàn thắng Xuất hiện Bàn thắng Xuất hiện Bàn thắng
Santos 2002 24 7 - - - - 24 7
2003 32 9 - - 14 4 46 13
2004 37 21 - - 8 4 45 25
2005 11 7 - - 9 6 20 13
Total 104 44 - - 31 14 135 58
Real Madrid 05-06 37 8 6 4 8 0 51 12
06-07 32 6 2 1 6 1 40 8
07-08 32 11 2 0 6 4 40 15
Total 101 25 10 5 20 5 131 35
Career Totals 205 69 10 5 51 19 266 93

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Goal.com Robinho player profile
  2. ^ Futebol | Alex Bellos Articles
  3. ^ Footballer's plea for kidnapped mother
  4. ^ “Real add Robinho to their galaxy”. Times of India. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2008. 
  5. ^ “Real Madrid and Manchester City agree to terms on Robinho transfer with wages in the region of £160,000 a week.” (Thông cáo báo chí) (bằng tiếng Anh). Realmadrid.com. 1 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2008. 
  6. ^ “Ronaldinho and Robinho dropped by their Primera Liga teams”. Malaysian Star. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2007. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]