Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam
| Hiệp hội | Liên đoàn bóng đá Việt Nam | ||
| Huấn luyện viên | Hoàng Văn Phúc | ||
| Đội trưởng | Lê Tấn Tài | ||
| Thi đấu nhiều nhất | Nguyễn Minh Phương (73) | ||
| Vua phá lưới | Lê Công Vinh (31) | ||
| Sân nhà | Mỹ Đình | ||
| Mã FIFA | VIE | ||
| Xếp hạng FIFA | 132 (5.2013) [1] | ||
| Cao nhất | 84 (9.1998) | ||
| Thấp nhất | 172 (12.2006) | ||
| Hạng Elo | 142 (11.4.2011) | ||
| Elo cao nhất | 121 (8.7.2007) | ||
| Elo thấp nhất | 175 (4.1.1995) | ||
|
|
|||
| Trận quốc tế đầu tiên (Trung Quốc, 4 tháng 10, 1956) (Philippines; 26 tháng 11, 1991) |
|||
| Trận thắng đậm nhất (TP. HCM, Việt Nam; 23 tháng 1, 2000) |
|||
| Trận thua đậm nhất (Kuala Lumpur, Malaysia, 26 tháng 2, 1997) (Incheon, Hàn Quốc, 29 tháng 9, 2003) |
|||
|
|
|||
| Cúp bóng đá châu Á | |||
| Số lần tham dự | 1 (lần đầu vào năm 1956) | ||
| Kết quả tốt nhất | 1956, 1960, Hạng tư | ||
Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam là đội tuyển cấp quốc gia của Việt Nam do Liên đoàn bóng đá Việt Nam quản lí.
Mục lục |
Lịch sử [sửa]
Lược sử [sửa]
Bóng đá được du nhập vào Việt Nam vào những năm cuối của thế kỷ 19, do những thủy thủ và binh sĩ người Âu. Người Việt Nam dần dần cũng học hỏi và đá bóng trong các đội của người Pháp. Ngày 20 tháng 7 năm 1908 thì lần đầu tiên thấy tờ báo “Lục tỉnh Tân văn” đưa tin trận cầu giữa hai đội bóng thuần cầu thủ người Việt Nam diễn ra (trận đội Phú Mỹ thắng đội Chợ Đũi 2-0). Đến năm 1928, người Việt đã đứng ra thành lập Tổng cục Thể thao An Nam (tại Sài Gòn), cùng trong năm ấy cử một đội bóng đá Việt Nam sang thi đấu ở Tân Gia Ba (Singapore).[2]
Khi Việt Nam chia thành hai nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng Hòa, mỗi nước có một đội tuyển quốc gia riêng; Đội tuyển Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có chuyến thi đấu quốc tế đầu tiên sang Trung Quốc năm 1956[3], dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Trương Tấn Bửu, đội đá theo sơ đồ 3-2-5 (W-M) cổ điển với những gương mặt: thủ môn Đức “ba xương”; các hậu vệ Te - Nghẽn - Lưu Đình Tòng; các tiền vệ Luyến - Thưởng; đá tiền đạo gồm Trương Tấn Nghĩa - Bảy - Tuất - Tiền - Ba Len.[4] Đội chủ yếu chơi trong các giải của các nước xã hội chủ nghĩa từ 1956 đến 1966 và tại các giải GANEFO (Indonesia, 1963) và GANEFO Châu Á (Campuchia, 1966).
Cùng thời gian, đội tuyển Việt Nam Cộng hoà là một trong những đội bóng mạnh của khu vực châu Á, đội đã lọt vào vòng chung kết hai giải Cúp bóng đá châu Á đầu tiên (1956, 1960), cả hai lần đều đạt giải tư. Cũng chính đội đã đoạt chiếc huy chương vàng SEA Games bộ môn bóng đá đầu tiên (và tính đến thời điểm này vẫn là chiếc huy chương vàng duy nhất) cho Việt Nam khi đội giành ngôi vô địch vào kỳ đại hội năm 1959. Đội cũng là đại diện đầu tiên của Việt Nam tại một giải đấu cấp thế giới, khi tham gia vòng loại World Cup 1974 và các kỳ Thế vận hội Mùa hè 1964 và Thế vận hội Mùa hè 1968.
Trận cuối cùng của đội Việt Nam Cộng hoà là vào năm 1975. Sau khi đất nước thống nhất, đội tuyển Việt Nam không được triệu tập trong suốt thời gian từ 1975 đến 1991. Trong một số giải đấu như SKDA của quân đội các nước xã hội chủ nghĩa, đội tuyển Việt Nam được triệu tập một cách không chính thức với nòng cốt là các cầu thủ Thể Công và tăng cường thêm một số cầu thủ khác từ các câu lạc bộ trong nước. Mãi đến năm 1991 đội tuyển mới bắt đầu tham gia đấu trường quốc tế. Giải đấu quốc tế đầu tiên mà đội tuyển Việt Nam thống nhất tham gia thi đấu là SEA Games 1991 được tổ chức tại Manila.[5] Trong trận đầu tiên đội gặp đối thủ nước chủ nhà Philippines và đã hòa với tỉ số 2–2.
Tuy nhiên, trong lần tập trung đi dự SEA Games lần đó, tình hình đất nước còn rất khó khăn. Các điều kiện tập trung ở Nhổn rất thiếu thốn[6] nên chỉ sau một tuần tập trung, 11 cầu thủ phía Nam (thành viên các đội Công nhân Quảng Nam-Đà Nẵng, Hải Quan, Cảng Sài Gòn) cùng "đào ngũ".[7] Sau năm 1991, đội tuyển Việt Nam bắt đầu được triệu tập thường xuyên hơn để thi đấu các giải đấu chính thức trong khu vực và một số trận giao hữu không chính thức. Trận giao hữu đầu tiên của đội tuyển Việt Nam là trước câu lạc bộ Adelaide của Australia tại Hà Nội(hòa 1-1).
Tính đến nay, đội tuyển Việt Nam chưa lần nào vượt qua vòng loại World Cup. Năm 2007, khi là quốc gia đăng cai, đội tuyển Việt Nam lần đầu tham dự vòng chung kết Cúp bóng đá châu Á và đã bất ngờ vào tới vòng tứ kết. Ở giải khu vực Đông Nam Á, đội tuyển giành ngôi vô địch một lần vào năm 2008 khi vượt qua Thái Lan ở trận chung kết. Chiến thắng có phần bất ngờ này của tuyển Việt Nam được trang thông tin điện tử Goal.com xếp vào top 10 sự kiện bóng đá châu Á năm 2008,[8] cũng như được độc giả Vietnamnet bình chọn là một trong 10 sự kiện nổi bật của Việt Nam trong năm.[9]
Vào cuối năm 2011, dù không có thành tích gì đáng kể, đội tuyển Việt Nam bất ngờ tăng 35 bậc, xếp hạng 99 trong Bảng xếp hạng FIFA, trở lại top 100 sau 7 năm. Đây lần đầu tiên Việt Nam xếp đầu Đông Nam Á trong bảng xếp hạng này [10].
Tính đến đầu tháng 2 năm 2012, đội tuyển Việt Nam đang là đội bóng số 1 Đông Nam Á, bỏ xa đội bóng xếp sau là Thái Lan tới 30 bậc và có thứ hạng 100 trên bảng xếp hạng bóng đá thế giới của FIFA.
Sea Games 16 [sửa]
Thể thao Việt Nam hòa nhập lại với thể thao khu vực năm 1989 tại SEA Games 15 tổ chức tại Malaysia. Tuy nhiên, tại SEA Games này, bóng đá không được đoàn Việt Nam đưa vào danh sách tham dự. Đội dự tuyển bóng đá Việt Nam thống nhất lần đầu tiên được triệu tập để tham dự SEA Games 16 (1991). Đội do ông Vũ Văn Tư (HLV đội Quảng Nam - Đà Nẵng) và ông Nguyên Kim Hằng (HLV đội Hải Quan) dẫn dắt. Tuy nhiên, trong khi đội tuyển tập trung tại Nhổn (Hà Nội), 11/14 cầu thủ thuộc các đội Cảng Sài Gòn, Đà Nẵng và Hải Quan đã tự động "đào ngũ" khỏi đội tuyển vì điều kiện sinh hoạt, luyện tập thiếu thốn và phải chịu án kỉ luật sau đó. Trong số các cầu thủ đào ngũ, có Phan Thanh Hùng, Lê Văn Sinh, Trần Minh Toàn (Đà Nẵng), Đặng Trần Chỉnh (CSG), Trương Văn Dưỡng (Hải quan)v.v... HLV Vũ Văn Tư buộc phải từ nhiệm sau 7 ngày dẫn dắt đội[11].
Để lấp chỗ trống, những người có trách nhiệm trong Liên đoàn đã phải huy động thêm một số cầu thủ Thể Công cùng HLV của họ là ông Nguyễn Sĩ Hiển lên làm nhiệm vụ. Tại SEA Games năm đó, Việt Nam chỉ giành được một điểm sau trận hòa 2-2 với chủ nhà Philippin và để thua Indonesia 0-1, Malaysia 1-2. Ba bàn thắng của Việt Nam đều do công của tiền đạo Nguyễn Văn Dũng (Công nghiệp Hà Nam Ninh).
Sea Games 17 [sửa]
Sau khi dự vòng loại World Cup 1994 với duy nhất một trận thắng trước Indonesia bằng bàn thắng của Hà Vương Ngầu Nại (Cảng Sài Gòn), Đội tuyển Việt Nam bước vào vòng bảng SEA Games 17 tại Singapore dưới sự dẫn dắt của HLV Trần Duy Long. Ngoài một số cầu thủ đang ở độ chín của phong độ như Nguyễn Mạnh Cường(Câu lạc bộ Quân Đội), Hà Vương Ngầu Nại, Lư Đình Tuấn (Cảng Sài Gòn), đội tuyển Việt Nam còn trình làng một số cầu thủ trẻ đầy triển vọng như Nguyễn Hồng Sơn (Câu lạc bộ Quân đội), Lê Huỳnh Đức (CATPHCM). Tuy nhiên, đội tuyển chỉ giành được duy nhất một chiến thắng trước Philippin với tỉ số 1-0 bằng bàn thắng của Nguyễn Văn Long (CLB Quân Đội) ghi ở phút thứ 66. Đây cũng là bàn thắng duy nhất mà đội ghi được tại SEA Games này vì trong hai trận còn lại, Việt Nam đều thúc thủ mà không ghi được bàn thắng nào (thua Indonesia 0-1 và Singapore 0-2). Đội Việt Nam phải dừng bước ngay từ vòng bảng.
Sea Games 18 [sửa]
Sau hai kỳ SEA Games hội nhập lại mà không đạt được thành tích nào, Liên đoàn bóng đá Việt Nam có một quyết định cách mạng khi bắt đầu thuê huấn luyện viên ngoại. Người đầu tiên giúp đội là huấn luyện viên Karl Heiz Weigang, đây là một người quen của bóng đá Việt Nam khi ông chính là huấn luyện viên của đội tuyển Việt Nam Cộng hòa dẫn dắt đội lập kỳ tích giành Cúp Merdeka năm 1966.[12] Ông chấp nhận đến Việt Nam làm việc 5 tháng không lương. Sau 7 tuần dẫn dắt đội, ông trở về Đức, trong khoảng thời gian này, nhờ nhà tại trợ mới của bóng đá Việt Nam là Strata, Liên đoàn bóng đá Việt Nam đã thuê ông Edson Tavares.[12]
Huấn luyện viên người Brasil ngay lập tức đem lại thành công ngoài mong đợi cho bóng đá Việt Nam qua các trận đấu tại Cúp Độc Lập 1995. Tại giải này, Việt Nam tham dự hai đội tuyển và cả hai đều thi đấu thành công, đều vào bán kết giải này. Đặc biệt, đội tuyển Việt Nam giành một thắng lợi "lịch sử" trước đội tuyển Estonia tại vòng bảng bằng bàn thắng của tiền vệ Nguyễn Sĩ Long (CLB Quân đội). Điều làm ngạc nhiên nhất là thể lực của các cầu thủ Việt Nam tăng lên đáng kể và do đó nhiều người nghi ngờ ông Tavares cho các cầu thủ sử dụng các "viên kẹo bí ẩn" [13]. Ngay sau khi đội Việt Nam 1 thua câu lạc bộ Housing Bank ở trận bán kết ngày 12 tháng 1 năm 1995, Tavares tuyên bố từ chức với lý do không nhận được sự hợp tác của Liên đoàn bóng đá Việt Nam.[14] Ông Weigang lại được mời về dẫn dắt đội.[12]
Ông Weigang quyết định cho đội đi tập huấn tại châu Âu. Trong năm 1995, đội thi đấu tổng cộng 34 trận và có rất nhiều tiến bộ.[12] Lứa cầu thủ đó sau này được coi như thế hệ vàng của bóng đá Việt Nam:[15] gồm thủ môn Nguyễn Văn Cường; trung vệ đội trưởng Nguyễn Mạnh Cường; hậu vệ Trần Công Minh, Lê Đức Anh Tuấn, Nguyễn Chí Bảo, Đỗ Khải, Nguyễn Hữu Thắng; tiền vệ Võ Hoàng Bửu, Nguyễn Hồng Sơn,Nguyễn Hữu Đang; các tiền đạo Trần Minh Chiến, Lê Huỳnh Đức, Huỳnh Quốc Cường.[15]. Ngoài ra, trong đội hình tham dự SEA Games 18, còn có một số các tên tuổi khác như: Trịnh Tấn Thành (Đồng Tháp), Lư Đình Tuấn, Trần Quan Huy (Cảng Sài Gòn), Đỗ Hoàng Anh Dũng (Bình Định) và Trần Thanh Nhạc (Đồng Tháp).
Tại SEA Games 18, Việt Nam đã gây sốc trong trận ra quân tại vòng bảng bằng thắng lợi trước Malaysia với tỉ số 2-0 bằng các pha lập công của Huỳnh Quốc Cường và Võ Hoàng Bửu (phạt đền). Sau chiến thắng 4-0 trước đội bóng yếu nhất bảng Campuchia, đội Việt Nam đã để thúc thủ trước Thái Lan với tỉ số 1-3, với bàn gỡ do công của Nguyễn Hữu Đang. Trong trận đấu cuối cùng ở vòng bảng, do Indonesia hơn Việt Nam hiệu số bàn thắng nên Việt Nam cần phải thắng được Indonesia để lọt vào bán kết. Đội tuyển Việt Nam cuối cùng đã giành thắng lợi 1-0 bằng bàn thắng của Nguyễn Hữu Đang, sau pha kiến tạo đầy nỗ lực của Trần Công Minh.
Tại vòng bán kết, Việt Nam gặp Myanmar, lúc đó là một trong những đội bóng xuất sắc nhất tại khu vực. Đội tuyển Việt Nam đã để Myanmar dẫn trước 0-1 trước khi Lê Huỳnh Đức san hòa tỉ số sau một lỗi để mất bóng của hậu vệ đội Myanmar. Sau đó, Myanmar đã phải nhận 2 thẻ đỏ. Trận đấu kết thúc ở hiệp phụ sau khi Trần Minh Chiến ghi bàn thắng vàng cho đội tuyển Việt Nam. Tuy nhiên, trận thắng này cũng gây ra nhiều tổn thất cho đội tuyển Việt Nam: vì nhiều lí do khác nhau như thẻ phạt, chấn thương, nên một số trụ cột của đội đã không thể góp mặt trong trận chung kết gặp lại Thái Lan, trong đó có thể kể đến Lê Huỳnh Đức và Trần Minh Chiến. Đội Việt Nam nhanh chóng nhận thất bại 0-4 trong trận chung kết.
Tuy nhiên, một thế hệ thành công của bóng đá Việt Nam được hình thành và giúp đội tuyển có được nhiều thành tích trong các giải đấu khu vực sau đó. Mặc dù không hề giành được một chức vô địch nào nhưng nhiều người hâm mộ vẫn gọi đội tuyển Việt Nam giai đoạn 1995 - 1999 là "thế hệ vàng" - thế hệ đã đưa bóng đá Việt Nam trở lại thành một thế lực của khu vực Đông Nam Á. Thế hệ vàng của bóng đá Việt Nam khởi nguồn từ SEA Games 18 sau này còn có thêm các gương mặt: thủ môn Nguyễn Văn Phụng, Trần Minh Quang; các hậu vệ Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Thiện Quang, Đỗ Mạnh Dũng; các tiền vệ Triệu Quang Hà, Trương Việt Hoàng, Nguyễn Văn Sĩ, Vũ Minh Hiếu; hay tiền đạo Đặng Phương Nam,Văn Sĩ Hùng.[16] Đội tuyển dưới thời ông Weigang đã đem lại hai tấm huy chương đầu tiên cho bóng đá Việt Nam thời tái hội nhập là tấm huy chương bạc SEA Games 1995 và tấm huy chương đồng Tiger Cup 1996.
SEA Games 19 [sửa]
SEA Games 19 được khởi đầu bằng thất bại 0-1 của Đội tuyển Việt Nam trước Malaysia. Tại trận đấu này, hậu vệ phải Trần Công Minh bị dính chấn thương nên không thể tham dự, thay cho anh là Nguyễn Phúc Nguyên Chương. Thử thách tiếp theo là trận đấu gặp đội tuyển chủ nhà Indonesia trên sân vận động Senayan với gần 10 vạn khán giả. Đội tuyển Việt Nam bị dẫn trước sau bàn thắng của Bima Sakti vào phút 18. Tình thế càng khó khăn hơn của Việt Nam khi ngay đầu hiệp 2, đội tuyển Việt Nam phải nhận tổn thất lớn do trung vệ Đỗ Văn Khải bị phạt thẻ đỏ trực tiếp. Tuy nhiên, ngay sau chiếc thẻ đỏ này, đội tuyển Việt Nam bất ngờ gỡ hòa. Văn Sỹ Hùng tung của ngả bàn đèn đẹp mắt từ đường phạt góc của Triệu Quang Hà ở phút 58 đưa hai đội về vạch xuất phát. Tuy nhiên, đội tuyển Indonesia nhanh chóng tận dụng lợi thế hơn người để nâng cách biệt thành 2-1 với bàn thắng của Kurniawan Dwi Yulianto vào phút 65. Một lần nữa, tinh thần thi đấu hết mình của Việt Nam lại được đền đáp. Vào phút 89, Lê Huỳnh Đức cướp bóng của một hậu vệ Indonesia trước khi chọc khe cho Văn Sỹ Hùng hoàn tất cú đúp, gỡ hòa 2-2 cho Việt Nam.
Sau hai trận đầu, đội tuyển Việt Nam chỉ có được một điểm duy nhất và họ phải thắng 2 trận cuối cùng, đồng thời chờ đợi các đối thủ sẩy chân để lọt vào bán kết. Hai điều kiện này đều xảy ra. Đội tuyển Việt Nam vượt qua Lào với tỉ số 2-1 bằng cú đúp của Vũ Minh Hiếu, và Philippines 3-0 nhờ các bàn thắng của Triệu Quang Hà, Lê Huỳnh Đức và tiền đạo Nguyễn Công Vinh. Đồng thời, ở trận đấu cuối cùng, đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Việt Nam là Malaysia bất ngờ thúc thủ 0-1 trước đội tuyển Lào nhờ bàn thắng của tiền đạo Keolakhone.
Tại vòng bán kết, Việt Nam gặp lại Thái Lan và một lần nữa thúc thủ với tỉ số 1-2. Kiatisuk ghi bàn mở tỉ số. Bàn gỡ hòa 1-1 của Việt Nam do công của Lê Huỳnh Đức sau một lỗi lầm sơ đẳng của hàng phòng ngự Thái Lan. Tuy nhiên, chỉ ngay sau đó ít phút, đến lượt thủ môn Trần Minh Quang của Việt Nam phạm sai sót khi phát bóng trúng chân của Kiatisuk giúp tiền đạo này hoàn tất cú đúp khiến Việt Nam nhận thất bại.
Đội tuyển Việt Nam nhận được huy chương Đồng tại SEA Games này sau chiến thắng 1-0 trước Singapore tại trận tranh giải Ba. Nguyễn Phúc Nguyên Chương đã ghi bàn thắng đẹp mắt từ một volley ngoài vòng cấm địa vào phút 90 đem về tấm huy chương thứ hai cho Việt Nam tại đấu trường Sea Games từ thời kì tái hội nhập.
Tại các giải châu lục và thế giới [sửa]
Vòng loại World Cup 1994 [sửa]
Vòng loại World Cup 1994 là giải đấu đầu tiên đội tuyển Việt Nam tái hòa nhập với giải đấu hàng đầu thế giới. Tại vòng loại này, Đội tuyển Việt Nam ở cùng bảng đấu với các đội CHDCND Triều Tiên, Qatar, Indonesia và Singapore. Đội tuyển Việt Nam do ông Trần Bình Sự làm huấn luyện viên trưởng. Trong đội hình ĐTVN khi đó, có một số cầu thủ tiêu biểu như: các thủ môn Trương Văn Lợi, Phạm Văn Hùng, các hậu vệ Phạm Tiến Dũng, Nguyễn Phương Trung, Chu Văn Mùi, Nguyễn Mạnh Cường, Hồ Văn Tam v.v... các tiền vệ: Bùi Thông Tân, Lư Đình Tuấn, Võ Hoàng Bửu, Đinh Thế Nam, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Hồng Sơn v.v...; các tiền đạo: Nguyễn Xuân Thanh, Hà Vương Ngầu Nại, Lê Huỳnh Đức, Đinh Thanh Hải. Các trận đấu lượt đi diễn ra tại Qatar. Trong trận đấu đầu tiên của đội tuyển Việt Nam thống nhất tại vòng loại World Cup vào ngày 9/4/1993, Việt Nam đã để thua trắng Triều Tiên 0-3 tại sân Khalifa (Doha). Trong trận tiếp theo, Việt Nam tiếp tục thua trắng chủ nhà Qatar 0-4.
Ngày 13/04/1993, Việt Nam để thua Singapore 2-3 trong một trận cầu đầy nuối tiếc. Với bàn mở tỉ số ở phút 14, Lư Đình Tuấn trở thành cầu thủ đầu tiên của Việt Nam ghi bàn tại vòng loại World Cup.
Ngày 16/04/1993, trong trận đấu cuối cùng của lượt đi với Indonesia, Việt Nam đã giành được thắng lợi đầu tiên tại vòng loại World Cup với tỉ số 1-0. Bàn thắng duy nhất được ghi vào phút 61 do công của tiền đạo Hà Vương Ngầu Nại (Cảng Sài Gòn). Đây cũng là trận thắng duy nhất của đội tuyển tại vòng loại năm đó, vì sau trận đấu này, Việt Nam tiếp tục để thua cả 4 trận đấu lượt về diễn ra tại Singapore (0-1 trước Triều Tiên, 0-4 trước Qatar, 0-1 trước Singapore và 1-2 trước Indonesia). Bàn thắng duy nhất của lượt về được ghi do công của Nguyễn Hồng Sơn (phút 30 trong trận thua Indonesia 1-2). Với duy nhất một trận thắng, đội tuyển Việt Nam xếp cuối bảng với 2 điểm sau 8 trận, ghi được 4 bàn thắng.
Thành tích [sửa]
Cộng luôn cả thành tích của Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Cộng hòa và Đội tuyển bóng đá Việt Nam Dân chủ Cộng hòa:
Cấp thế giới [sửa]
| Vòng chung kết | Vòng loại | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Thành tích | St | T | H | B | Bt | Bb | St | T | H | B | Bt | Bb | |
| Không tham dự | Không tham dự | |||||||||||||
| Không vượt qua vòng loại | 3 | 1 | 0 | 2 | 1 | 5 | ||||||||
| Không tham dự | Không tham dự | |||||||||||||
| Không vượt qua vòng loại | 8 | 1 | 0 | 7 | 4 | 18 | ||||||||
| 6 | 0 | 0 | 6 | 2 | 21 | |||||||||
| 6 | 3 | 1 | 2 | 9 | 9 | |||||||||
| 6 | 1 | 1 | 4 | 5 | 9 | |||||||||
| 2 | 0 | 0 | 2 | 0 | 6 | |||||||||
| 4 | 3 | 0 | 1 | 15 | 5 | |||||||||
| Tổng cộng | - | - | - | - | - | - | 35 | 9 | 2 | 24 | 36 | 73 | ||
Cấp châu lục [sửa]
Cúp bóng đá châu Á [sửa]
| Vòng chung kết | Vòng loại | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Thành tích | St | T | H | B | Bt | Bb | St | T | H | B | Bt | Bb | |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Không vượt qua vòng loại |
|
|
|
|
|
|
|||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||||
|
|
|
|
||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||
|
|
|
|
||||||||||||
|
|
||||||||||||||
|
|
||||||||||||||
|
|
||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||||
| Tứ kết | 4 | 1 | 1 | 2 | 4 | 7 | Chủ nhà | |||||||
|
|
|
6 | 1 | 2 | 3 | 6 | 11 | |||||||
|
|
|
|||||||||||||
Á Vận Hội [sửa]
- (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1998)
| Thành tích tại Á vận hội | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Kết quả | St | T | H | B | Bt | Bb |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
Cấp khu vực [sửa]
Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á [sửa]
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
SEA Games [sửa]
- (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1999)
| Thành tích tại SEA Games | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Kết quả | St | T | H | B | Bt | Bb |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
Các giải khác [sửa]
- Cúp Nhà vua (Thái Lan) 2006: hạng nhì
- Cúp Merdeka 1966: vô địch (đội tuyển Việt Nam Cộng hòa)
Đội hình hiện tại [sửa]
Danh sách ĐTQG tập trung đợt 2 cho trận đấu gặp Hồng Kông Trung Quốc tại vòng loại Asian Cup 2015.[18]
Thành phần ban huấn luyện [sửa]
|
Ban huấn luyện đội tuyển Việt Nam[18]
|
Huấn luyện viên trưởng [sửa]
|
Thứ hạng trong bảng xếp hạng của FIFA [sửa]
|
Thành tích đối đầu với từng quốc gia [sửa]
- Cập nhật lần cuối ngày 22 tháng 03 năm 2013.[30]
| Đội tuyển | St | T | H | B | Bt | Bb |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 5 | |
| 2 | 0 | 0 | 2 | 0 | 9 | |
| 2 | 1 | 0 | 1 | 3 | 4 | |
| 1 | 1 | 0 | 0 | 5 | 3 | |
| 2 | 1 | 1 | 0 | 4 | 0 | |
| 5 | 0 | 2 | 3 | 0 | 6 | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 4 | |
| 5 | 5 | 0 | 0 | 31 | 4 | |
| 1 | 1 | 0 | 0 | 4 | 1 | |
| 1 | 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | |
| 2 | 2 | 0 | 0 | 20 | 0 | |
| 6 | 1 | 0 | 5 | 2 | 17 | |
| 4 | 1 | 1 | 2 | 3 | 4 | |
| 17 | 4 | 6 | 7 | 15 | 20 | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 2 | |
| 1 | 1 | 0 | 0 | 3 | 0 | |
| 1 | 1 | 0 | 0 | 2 | 1 | |
| 2 | 1 | 0 | 1 | 2 | 3 | |
| 9 | 8 | 1 | 0 | 41 | 3 | |
| 4 | 1 | 2 | 1 | 4 | 4 | |
| 2 | 2 | 0 | 0 | 13 | 1 | |
| 12 | 6 | 2 | 4 | 12 | 11 | |
| 2 | 1 | 0 | 1 | 4 | 3 | |
| 1 | 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | |
| 2 | 2 | 0 | 0 | 5 | 0 | |
| 8 | 5 | 2 | 1 | 26 | 9 | |
| 2 | 2 | 0 | 0 | 7 | 0 | |
| 3 | 0 | 0 | 3 | 1 | 9 | |
| 2 | 0 | 0 | 2 | 0 | 8 | |
| 8 | 5 | 1 | 2 | 15 | 6 | |
| 5 | 1 | 1 | 3 | 3 | 13 | |
| 18 | 6 | 8 | 4 | 16 | 15 | |
| 4 | 1 | 3 | 0 | 7 | 6 | |
| 2 | 0 | 1 | 1 | 0 | 1 | |
| 2 | 0 | 0 | 2 | 0 | 8 | |
| 19 | 3 | 4 | 12 | 17 | 37 | |
| 6 | 0 | 0 | 6 | 3 | 20 | |
| 6 | 1 | 0 | 5 | 4 | 12 | |
| 4 | 1 | 0 | 3 | 3 | 8 | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 6 | |
| Tổng cộng | 175 | 67 | 35 | 71 | 275 | 260 |
Kết quả thi đấu năm 2012 [sửa]
| Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Tỉ số | Giải đấu | Cầu thủ ghi bàn | Chi tiết |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 31 tháng 01 | Hà Nội,Việt Nam | 2–1 | Giao hữu | Huỳnh Quốc Anh Mạc Hồng Quân |
[31] | |
| 06 tháng 02 | Hà Nội,Việt Nam | 1–2 | Vòng loại Asian Cup 2015 | Huỳnh Quốc Anh |
[32] | |
| 22 tháng 03 | Du Tiêm Vượng,Hồng Kông | – | Vòng loại Asian Cup 2015 |
Trang phục thi đấu [sửa]
Màu áo thi đấu chính của đội tuyển là bộ trang phục toàn đỏ, màu áo phụ là bộ trang phục toàn trắng. Từ năm 2005 đến hết năm 2008, hãng cung cấp trang phục thi đấu cho đội tuyển Việt Nam là Li Ning, từ tháng 01 năm 2009, Nike đảm nhiệm vai trò này theo một hợp đồng 5 năm.[33][34]
Ghi chú [sửa]
- ^ a b (tiếng Anh) “Vietnam - Ranking”. fifa.com. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2009.
- ^ Dương Trung Quốc. “Một Trăm năm bóng đá Việt Nam”. Vietnamnet. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2009.
- ^ “Lịch sử hình thành CLB Bóng đá Thể Công”. www.thecong.vn. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009.
- ^ “Quái chiêu Hà Nội: Tòng “cháy” & tuyệt chiêu”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2009.
- ^ “BĐVN sau đỉnh AFF Cup: Lối mòn hay lộ trình?”. Vietnamnet. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2009.
- ^ a b “Sông Hàn tràn lên… tuyển”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2009.
- ^ “Xung quanh sự cố "mất hộ chiếu" của Hồng Sơn: Lời thì thầm của con gấu”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010.
- ^ “Việt Nam lọt vào top 10 sự kiện bóng đá châu Á”. VnExpress. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2009.
- ^ “2008 qua 10 sự kiện do độc giả VietNamNet bình chọn”. Vietnamnet. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2009.
- ^ Đại nhảy vọt, Việt Nam vào top 100 BXH FIFA
- ^ http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=351208
- ^ a b c d Đức Phong. “3 giờ trò chuyện cùng HLV K.H.Weigang”. Báo Bóng Đá. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010.
- ^ "Ông hãy đưa giúp tôi thuốc này đến các cầu thủ, nếu họ hỏi thì bảo đó là doping"
- ^ Tôi không tin vào sự hợp tác của Liên đoàn bóng đá Việt Nam.
- ^ a b HOÀI LÊ - SĨ HUYÊN. ““Thế hệ vàng” của bóng đá Việt Nam”. Tuổi trẻ Online. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010.
- ^ N. Khôi. “Chương trình trận đấu chia tay "Thế hệ vàng": Có gì hấp dẫn?”. Tuổi trẻ Online. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010.
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u Đội tuyển bóng đá Việt Nam Cộng hòa tham dự giải
- ^ a b HLV Hoàng Văn Phúc công bố danh sách ĐTQG tập trung đợt 2 năm 2013
- ^ “Bơi khỏi ao làng”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2010.
- ^ Alfred Riedl trở thành tân HLV trưởng đội tuyển Việt Nam
- ^ HLV trưởng Alfred Riedl chính thức từ chức
- ^ Ông Calisto chính thức trở thành HLV trưởng Đội tuyển Việt Nam
- ^ HLV Calisto họp báo công bố việc từ chức
- ^ Tuấn Linh. “HLV Mai Đức Chung tạm ngồi "ghế nóng" ĐTVN”. Vietnamnet. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2011.
- ^ HLV Falko Goetz ký hợp đồng với VFF chiều 6/6
- ^ VFF chính thức cắt hợp đồng với HLV Falko Goetz
- ^ HLV Phan Thanh Hùng dẫn dắt đội tuyển Việt Nam
- ^ HLV Phan Thanh Hùng từ chức sau thảm bại
- ^ Hiểu Minh. “HLV Hoàng Văn Phúc dẫn dắt tạm quyền tuyển Việt Nam”. Dân trí. Truy cập 14/01/2013.
- ^ Thành tích đối đấu giữa các đội tuyển trên trang chủ của FIFA
- ^ “Giao hữu quốc tế, ĐT Việt Nam – CLB Hyundai Mipo Dolphin: 2-1”. VFF. 2 tháng 2 năm 2013.
- ^ “Vòng loại Asian Cup 2015, ĐT Việt Nam – ĐT UAE 1-2: Bại không nản!”. VFF. 6 tháng 2 năm 2013.
- ^ “Từ tháng 1/2009, ĐTVN sẽ mặc áo đấu Nike”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2009.
- ^ “Hôm nay, ĐTVN thay áo mới”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2009.
Xem thêm [sửa]
- Lịch sử bóng đá Việt Nam
- Danh sách đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam
- Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Việt Nam
- Đội tuyển bóng đá U-23 quốc gia Việt Nam
- Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Cộng hòa
Liên kết ngoài [sửa]
- Liên đoàn bóng đá Việt Nam
- Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam trên trang chủ của FIFA
| Danh hiệu | ||
|---|---|---|
| Tiền nhiệm: |
Vô địch Đông Nam Á 2008 |
Kế nhiệm: |
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||
| Ả Rập Saudi | Afghanistan | Ấn Độ | Bahrain | Bangladesh | Bhutan | Brunei | UAE | Campuchia | Đông Timor | Guam | Hàn Quốc | Hồng Kông | Indonesia | Iran | Iraq | Jordan | Kuwait | Kyrgyzstan | Lào | Liban | Ma Cao | Malaysia | Maldives | Mông Cổ | Myanma | Nepal | Nhật Bản | Oman | Pakistan | Palestine | Philippines | Qatar | Singapore | Sri Lanka | Syria | Tajikistan | Thái Lan | CHDCND Triều Tiên | Trung Quốc | Trung Hoa Đài Bắc (Đài Loan) | Turkmenistan | Úc | Uzbekistan | Việt Nam | Yemen
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
Kết quả thi đấu của đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam các cấp trong các năm
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
... • 1991 • 1992 • 1993 • 1994 • 1995 • 1996 • 1997 • 1998 • 1999 • 2000 • 2001 • 2002 • 2003 • 2004 • 2005 • 2006 • 2007 • 2008 • 2009 • 2010 • 2011 • 2012 • 2013 • |
|||||||||||||||||||||||||||||
