Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
 Việt Nam

Huy hiệu

Hiệp hội Liên đoàn bóng đá Việt Nam
Huấn luyện viên trống
Trợ lý Nguyễn Thanh Sơn
Đội trưởng Lê Tấn Tài
Thi đấu nhiều nhất Nguyễn Minh Phương (73)
Ghi bàn nhiều nhất Lê Công Vinh (31)
Sân nhà Mỹ Đình
Mã FIFA VIE
Xếp hạng FIFA 116 (4.2014) [1]
Cao nhất 84 (9.1998)
Thấp nhất 172 (12.2006)
Hạng Elo 147 (12.12.2013)
Elo cao nhất 121 (8.7.2007)
Elo thấp nhất 175 (4.1.1995)
Trang phục chính
Trang phục phụ
Trận quốc tế đầu tiên
 Trung Quốc 5 - 3 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Cờ của Việt Nam
(Trung Quốc, 4 tháng 10, 1956)
 Philippines 2 - 2 Việt Nam Cờ của Việt Nam
(Philippines; 26 tháng 11, 1991)
Trận thắng đậm nhất
Cờ của Việt Nam Việt Nam 11 - 0 Guam 
(TP. HCM, Việt Nam; 23 tháng 1, 2000)
Trận thua đậm nhất
 Zimbabwe 6 - 0 Việt Nam Cờ của Việt Nam
(Kuala Lumpur, Malaysia, 26 tháng 2, 1997)
 Oman 6 - 0 Việt Nam Cờ của Việt Nam
((Incheon, Hàn Quốc, 29 tháng 9, 2003)

Cúp bóng đá châu Á
Số lần tham dự 1 (lần đầu vào năm 2007)
Kết quả tốt nhất 2007, Tứ kết

Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam là đội tuyển cấp quốc gia đại diện cho Việt Nam thi đấu bóng đá quốc tế và do Liên đoàn bóng đá Việt Nam quản lý.

Trong Bảng xếp hạng bóng đá nam FIFA, Việt Nam có vị trí cao nhất là 84 vào tháng 9 năm 1998 và thấp nhất là 172 vào tháng 12 năm 2006. Hiên nay, đôi tuyển đang đứng thứ 116 thế giới. Nếu tính riêng ở khu vực Đông Nam Á, tuyển Việt Nam đang xếp thứ nhất.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lược sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bóng đá được du nhập vào Việt Nam vào những năm cuối của thế kỷ 19, do những thủy thủ và binh sĩ người Âu. Người Việt Nam dần dần cũng học hỏi và đá bóng trong các đội của người Pháp. Ngày 20 tháng 7 năm 1908 thì lần đầu tiên thấy tờ báo “Lục tỉnh Tân văn” đưa tin trận cầu giữa hai đội bóng thuần cầu thủ người Việt Nam diễn ra (trận đội Phú Mỹ thắng đội Chợ Đũi 2-0). Đến năm 1928, người Việt đã đứng ra thành lập Tổng cục Thể thao An Nam (tại Sài Gòn), cùng trong năm ấy cử một đội bóng đá Việt Nam sang thi đấu ở Tân Gia Ba (Singapore).[2]

Khi Việt Nam chia thành hai nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòaViệt Nam Cộng Hòa, mỗi nước có một đội tuyển quốc gia riêng; Đội tuyển Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có chuyến thi đấu quốc tế đầu tiên sang Trung Quốc năm 1956[3], dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Trương Tấn Bửu, đội đá theo sơ đồ 3-2-5 (W-M) cổ điển với những gương mặt: thủ môn Đức “ba xương”; các hậu vệ Te - Nghẽn - Lưu Đình Tòng; các tiền vệ Luyến - Thưởng; đá tiền đạo gồm Trương Tấn Nghĩa - Bảy - Tuất - Tiền - Ba Len.[4] Đội chủ yếu chơi trong các giải của các nước xã hội chủ nghĩa từ 1956 đến 1966 và tại các giải GANEFO (Indonesia, 1963) và GANEFO Châu Á (Campuchia, 1966).

Cùng thời gian, đội tuyển Việt Nam Cộng hoà là một trong những đội bóng khá của khu vực châu Á, đội đã lọt vào vòng chung kết hai giải Cúp bóng đá châu Á đầu tiên (1956, 1960), cả hai lần đều đạt giải tư. Cũng chính đội đã đoạt chiếc huy chương vàng SEA Games bộ môn bóng đá đầu tiên (và tính đến thời điểm này vẫn là chiếc huy chương vàng duy nhất) cho Việt Nam khi đội giành ngôi vô địch vào kỳ đại hội năm 1959. Đội cũng là đại diện đầu tiên của Việt Nam tại một giải đấu cấp thế giới, khi tham gia vòng loại World Cup 1974 và các kỳ Thế vận hội Mùa hè 1964Thế vận hội Mùa hè 1968.

Trận cuối cùng của đội Việt Nam Cộng hoà là vào năm 1975. Sau khi đất nước thống nhất, đội tuyển Việt Nam không được triệu tập trong suốt thời gian từ 1975 đến 1991. Trong một số giải đấu như SKDA của quân đội các nước xã hội chủ nghĩa, đội tuyển Việt Nam được triệu tập một cách không chính thức với nòng cốt là các cầu thủ Thể Công và tăng cường thêm một số cầu thủ khác từ các câu lạc bộ trong nước. Mãi đến năm 1991 đội tuyển mới bắt đầu tham gia đấu trường quốc tế. Giải đấu quốc tế đầu tiên mà đội tuyển Việt Nam thống nhất tham gia thi đấu là SEA Games 1991 được tổ chức tại Manila.[5] Trong trận đầu tiên đội gặp đối thủ nước chủ nhà Philippines và đã hòa với tỉ số 2–2.

Tuy nhiên, trong lần tập trung đi dự SEA Games lần đó, tình hình đất nước còn rất khó khăn. Các điều kiện tập trung ở Nhổn rất thiếu thốn[6] nên chỉ sau một tuần tập trung, 11 cầu thủ phía Nam (thành viên các đội Công nhân Quảng Nam-Đà Nẵng, Hải Quan, Cảng Sài Gòn) cùng "đào ngũ".[7] Sau năm 1991, đội tuyển Việt Nam bắt đầu được triệu tập thường xuyên hơn để thi đấu các giải đấu chính thức trong khu vực và một số trận giao hữu không chính thức. Trận giao hữu đầu tiên của đội tuyển Việt Nam là trước câu lạc bộ Adelaide của Australia tại Hà Nội(hòa 1-1).

Tính đến nay, đội tuyển Việt Nam chưa lần nào vượt qua vòng loại World Cup. Năm 2007, khi là quốc gia đăng cai, đội tuyển Việt Nam lần đầu tham dự vòng chung kết Cúp bóng đá châu Á và đã bất ngờ vào tới vòng tứ kết. Ở giải khu vực Đông Nam Á, đội tuyển giành ngôi vô địch một lần vào năm 2008 khi vượt qua Thái Lan ở trận chung kết. Chiến thắng có phần bất ngờ này của tuyển Việt Nam được trang thông tin điện tử Goal.com xếp vào top 10 sự kiện bóng đá châu Á năm 2008,[8] cũng như được độc giả Vietnamnet bình chọn là một trong 10 sự kiện nổi bật của Việt Nam trong năm.[9]

Vào cuối năm 2011, dù không có thành tích gì đáng kể, đội tuyển Việt Nam bất ngờ tăng 35 bậc, xếp hạng 99 trong Bảng xếp hạng FIFA, trở lại top 100 sau 7 năm. Đây lần đầu tiên Việt Nam xếp đầu Đông Nam Á trong bảng xếp hạng này [10].

Tại các kì SEA Games[sửa | sửa mã nguồn]

Sea Games 16[sửa | sửa mã nguồn]

Thể thao Việt Nam hòa nhập lại với thể thao khu vực năm 1989 tại SEA Games 15 tổ chức tại Malaysia. Tuy nhiên, tại SEA Games này, bóng đá không được đoàn Việt Nam đưa vào danh sách tham dự. Đội dự tuyển bóng đá Việt Nam thống nhất lần đầu tiên được triệu tập để tham dự SEA Games 16 (1991). Đội do ông Vũ Văn Tư (HLV đội Quảng Nam - Đà Nẵng) và ông Nguyễn Kim Hằng (HLV đội Hải Quan) dẫn dắt. Tuy nhiên, trong khi đội tuyển tập trung tại Nhổn (Hà Nội), 11/14 cầu thủ thuộc các đội Cảng Sài Gòn, Đà Nẵng và Hải Quan đã tự động "đào ngũ" khỏi đội tuyển vì điều kiện sinh hoạt, luyện tập thiếu thốn và phải chịu án kỉ luật sau đó. Trong số các cầu thủ đào ngũ, có Phan Thanh Hùng, Lê Văn Sinh, Trần Minh Toàn Trương Văn Lợi, Bùi Thông Tuân, Phan Công Thìn (Đà Nẵng), Đặng Trần Chỉnh (CSG), Trương Văn Dưỡng (Hải quan) v.v... Trong số các cầu thủ miền Nam, chỉ còn Hà Vương Ngầu Nại, Nguyễn Hồng PhẩmLưu Tấn Liêm ở lại. HLV Vũ Văn Tư buộc phải từ nhiệm sau 7 ngày dẫn dắt đội[11].

Để lấp chỗ trống, những người có trách nhiệm trong Liên đoàn đã phải huy động thêm một số cầu thủ Thể Công cùng HLV của họ là ông Nguyễn Sĩ Hiển lên làm nhiệm vụ. Ngoài ra, hai cầu thủ khác của Cảng Sài Gòn là Lư Đình TuấnĐỗ Văn Minh cũng được gọi bổ sung. Tại SEA Games năm đó, Việt Nam chỉ giành được một điểm sau trận hòa 2-2 với chủ nhà Philippin và để thua Indonesia 0-1, Malaysia 1-2. Ba bàn thắng của Việt Nam đều do công của tiền đạo Nguyễn Văn Dũng (Công nghiệp Hà Nam Ninh). Trận hòa với Philippin là trận đấu quốc tế chính thức đầu tiên của đội tuyển Việt Nam thống nhất.

Sea Games 17[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi dự vòng loại World Cup 1994 với duy nhất một trận thắng trước Indonesia bằng bàn thắng của Hà Vương Ngầu Nại (Cảng Sài Gòn), Đội tuyển Việt Nam bước vào vòng bảng SEA Games 17 tại Singapore dưới sự dẫn dắt của HLV Trần Bình Sự. Ngoài một số cầu thủ đang ở độ chín của phong độ như Nguyễn Mạnh Cường(Câu lạc bộ Quân Đội), Hà Vương Ngầu Nại, Lư Đình Tuấn (Cảng Sài Gòn), đội tuyển Việt Nam còn trình làng một số cầu thủ trẻ đầy triển vọng như Nguyễn Hồng Sơn (Câu lạc bộ Quân đội), Lê Huỳnh Đức (CAThành phố Hồ Chí Minh). Tuy nhiên, đội tuyển chỉ giành được duy nhất một chiến thắng trước Philippin với tỉ số 1-0 bằng bàn thắng của Nguyễn Văn Long (CLB Quân Đội) ghi ở phút thứ 66. Đây cũng là bàn thắng duy nhất mà đội ghi được tại SEA Games này vì trong hai trận còn lại, Việt Nam đều thúc thủ mà không ghi được bàn thắng nào (thua Indonesia 0-1 và Singapore 0-2). Đội Việt Nam phải dừng bước ngay từ vòng bảng.

Sea Games 18[sửa | sửa mã nguồn]

Sau hai kỳ SEA Games hội nhập lại mà không đạt được thành tích nào, Liên đoàn bóng đá Việt Nam có một quyết định cách mạng khi bắt đầu thuê huấn luyện viên ngoại. Người đầu tiên giúp đội là huấn luyện viên Karl Heiz Weigang, đây là một người quen của bóng đá Việt Nam khi ông chính là huấn luyện viên của đội tuyển Việt Nam Cộng hòa dẫn dắt đội lập kỳ tích giành Cúp Merdeka năm 1966.[12] Ông chấp nhận đến Việt Nam làm việc 5 tháng không lương. Sau 7 tuần dẫn dắt đội, ông trở về Đức, trong khoảng thời gian này, nhờ nhà tại trợ mới của bóng đá Việt Nam là Strata, Liên đoàn bóng đá Việt Nam đã thuê ông Edson Tavares.[12]

Huấn luyện viên người Brasil ngay lập tức đem lại thành công ngoài mong đợi cho bóng đá Việt Nam qua các trận đấu tại Cúp Độc Lập 1995. Tại giải này, Việt Nam tham dự hai đội tuyển và cả hai đều thi đấu thành công, đều vào bán kết giải này. Đặc biệt, đội tuyển Việt Nam giành một thắng lợi "lịch sử" trước đội tuyển Estonia tại vòng bảng bằng bàn thắng của tiền đạo Lê Huỳnh Đức (CATPHCM). Điều làm ngạc nhiên nhất là thể lực của các cầu thủ Việt Nam tăng lên đáng kể và do đó nhiều người nghi ngờ ông Tavares cho các cầu thủ sử dụng các "viên kẹo bí ẩn" [13]. Ngay sau khi đội Việt Nam 1 thua câu lạc bộ Housing Bank ở trận bán kết ngày 12 tháng 1 năm 1995, Tavares tuyên bố từ chức với lý do không nhận được sự hợp tác của Liên đoàn bóng đá Việt Nam.[14] Ông Weigang lại được mời về dẫn dắt đội.[12]

Ông Weigang quyết định cho đội đi tập huấn tại châu Âu. Trong năm 1995, đội thi đấu tổng cộng 34 trận và có rất nhiều tiến bộ.[12] Lứa cầu thủ đó sau này được coi như thế hệ vàng của bóng đá Việt Nam:[15] gồm thủ môn Nguyễn Văn Cường; trung vệ đội trưởng Nguyễn Mạnh Cường; hậu vệ Trần Công Minh, Lê Đức Anh Tuấn, Nguyễn Chí Bảo, Đỗ Khải, Nguyễn Hữu Thắng; tiền vệ Võ Hoàng Bửu, Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Hữu Đang; các tiền đạo Trần Minh Chiến, Lê Huỳnh Đức, Huỳnh Quốc Cường.[15]. Ngoài ra, trong đội hình tham dự SEA Games 18, còn có một số các tên tuổi khác như: Trịnh Tấn Thành (Đồng Tháp), Lư Đình Tuấn (Cảng Sài Gòn), Trần Thanh Nhạc (Đồng Tháp), Nguyễn Liêm Thanh (Công An TPHCM) và Nguyễn Hoàng Anh Dũng (Bình Định). Ngoài ra, tiền vệ Trần Quan Huy (Cảng Sài Gòn) là cầu thủ được đăng kí trong danh sách dự phòng.

Tại SEA Games 18, Việt Nam đã gây sốc trong trận ra quân tại vòng bảng bằng thắng lợi trước Malaysia với tỉ số 2-0 bằng các pha lập công của Huỳnh Quốc CườngVõ Hoàng Bửu (phạt đền). Sau chiến thắng 4-0 trước đội bóng yếu nhất bảng Campuchia, đội Việt Nam đã để thúc thủ trước Thái Lan với tỉ số 1-3, với bàn gỡ do công của Nguyễn Hữu Đang. Trong trận đấu cuối cùng ở vòng bảng, do Indonesia hơn Việt Nam hiệu số bàn thắng nên Việt Nam cần phải thắng được Indonesia để lọt vào bán kết. Đội tuyển Việt Nam cuối cùng đã giành thắng lợi 1-0 bằng bàn thắng của Nguyễn Hữu Đang, sau pha kiến tạo đầy nỗ lực của Trần Công Minh.

Tại vòng bán kết, Việt Nam gặp Myanmar, lúc đó là một trong những đội bóng xuất sắc nhất tại khu vực. Đội tuyển Việt Nam đã để Myanmar dẫn trước 0-1 trước khi Lê Huỳnh Đức san hòa tỉ số sau một lỗi để mất bóng của hậu vệ đội Myanmar. Sau đó, Myanmar đã phải nhận 2 thẻ đỏ. Trận đấu kết thúc ở hiệp phụ sau khi Trần Minh Chiến ghi bàn thắng vàng cho đội tuyển Việt Nam. Tuy nhiên, trận thắng này cũng gây ra nhiều tổn thất cho đội tuyển Việt Nam: vì nhiều lí do khác nhau như thẻ phạt, chấn thương, nên một số trụ cột của đội đã không thể góp mặt trong trận chung kết gặp lại Thái Lan, trong đó có thể kể đến Lê Huỳnh ĐứcTrần Minh Chiến. Đội Việt Nam nhanh chóng nhận thất bại 0-4 trong trận chung kết.

Tuy nhiên, một thế hệ thành công của bóng đá Việt Nam được hình thành và giúp đội tuyển có được nhiều thành tích trong các giải đấu khu vực sau đó. Mặc dù không hề giành được một chức vô địch nào nhưng nhiều người hâm mộ vẫn gọi đội tuyển Việt Nam giai đoạn 1995 - 1999 là "thế hệ vàng" - thế hệ đã đưa bóng đá Việt Nam trở lại thành một thế lực của khu vực Đông Nam Á. Thế hệ vàng của bóng đá Việt Nam khởi nguồn từ SEA Games 18 sau này còn có thêm các gương mặt: thủ môn Nguyễn Văn Phụng, Trần Minh Quang; các hậu vệ Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Thiện Quang, Đỗ Mạnh Dũng; các tiền vệ Triệu Quang Hà, Trương Việt Hoàng, Nguyễn Văn Sĩ, Vũ Minh Hiếu; hay tiền đạo Đặng Phương Nam,Văn Sĩ Hùng.[16] Đội tuyển dưới thời ông Weigang đã đem lại hai tấm huy chương đầu tiên cho bóng đá Việt Nam thời tái hội nhập là tấm huy chương bạc SEA Games 1995 và tấm huy chương đồng Tiger Cup 1996.

SEA Games 19[sửa | sửa mã nguồn]

SEA Games 19 được khởi đầu bằng thất bại 0-1 của Đội tuyển Việt Nam trước Malaysia. Tại trận đấu này, hậu vệ phải Trần Công Minh bị dính chấn thương nên không thể tham dự, thay cho anh là Nguyễn Phúc Nguyên Chương. Thử thách tiếp theo là trận đấu gặp đội tuyển chủ nhà Indonesia trên sân vận động Senayan với gần 10 vạn khán giả. Đội tuyển Việt Nam bị dẫn trước sau bàn thắng của Bima Sakti vào phút 18. Tình thế càng khó khăn hơn của Việt Nam khi ngay đầu hiệp 2, đội tuyển Việt Nam phải nhận tổn thất lớn do trung vệ Đỗ Văn Khải bị phạt thẻ đỏ trực tiếp. Tuy nhiên, ngay sau chiếc thẻ đỏ này, đội tuyển Việt Nam bất ngờ gỡ hòa. Văn Sỹ Hùng tung của ngả bàn đèn đẹp mắt từ đường phạt góc của Triệu Quang Hà ở phút 58 đưa hai đội về vạch xuất phát. Tuy nhiên, đội tuyển Indonesia nhanh chóng tận dụng lợi thế hơn người để nâng cách biệt thành 2-1 với bàn thắng của Kurniawan Dwi Yulianto vào phút 65. Một lần nữa, tinh thần thi đấu hết mình của Việt Nam lại được đền đáp. Vào phút 89, Lê Huỳnh Đức cướp bóng của một hậu vệ Indonesia trước khi chọc khe cho Văn Sỹ Hùng hoàn tất cú đúp, gỡ hòa 2-2 cho Việt Nam.

Sau hai trận đầu, đội tuyển Việt Nam chỉ có được một điểm duy nhất và họ phải thắng 2 trận cuối cùng, đồng thời chờ đợi các đối thủ sẩy chân để lọt vào bán kết. Hai điều kiện này đều xảy ra. Đội tuyển Việt Nam vượt qua Lào với tỉ số 2-1 bằng cú đúp của Vũ Minh Hiếu, và Philippines 3-0 nhờ các bàn thắng của Triệu Quang Hà, Lê Huỳnh Đức và tiền đạo Nguyễn Công Vinh. Đồng thời, ở trận đấu cuối cùng, đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Việt Nam là Malaysia bất ngờ thúc thủ 0-1 trước đội tuyển Lào nhờ bàn thắng của tiền đạo Keolakhone.

Tại vòng bán kết, Việt Nam gặp lại Thái Lan và một lần nữa thúc thủ với tỉ số 1-2. Kiatisuk ghi bàn mở tỉ số. Bàn gỡ hòa 1-1 của Việt Nam do công của Lê Huỳnh Đức sau một lỗi lầm sơ đẳng của hàng phòng ngự Thái Lan. Tuy nhiên, chỉ ngay sau đó ít phút, đến lượt thủ môn Trần Minh Quang của Việt Nam phạm sai sót khi phát bóng trúng chân của Kiatisuk giúp tiền đạo này hoàn tất cú đúp khiến Việt Nam nhận thất bại.

Đội tuyển Việt Nam nhận được huy chương Đồng tại SEA Games này sau chiến thắng 1-0 trước Singapore tại trận tranh giải Ba. Nguyễn Phúc Nguyên Chương đã ghi bàn thắng đẹp mắt từ một volley ngoài vòng cấm địa vào phút 90 đem về tấm huy chương thứ hai cho Việt Nam tại đấu trường Sea Games từ thời kì tái hội nhập.

Tại các giải Vô địch Đông Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Tiger Cup 1996[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1996 với tên gọi Tiger Cup. Đội dự tuyển Việt Nam với bộ khung gồm các cầu thủ từng tham gia SEA Games 18 đã đi tập huấn dài ngày ở Đức và có một số trận giao hữu không chính thức với một số CLB như Juventus (Italia), Middlesex Wanderers (Đội bóng nghiệp dư của Anh). Một số gương mặt mới được tăng cường như Nguyễn Hồng Hải (Lâm Đồng), Nguyễn Thiện Quang (CATPHCM), Nhan Thiện Nhân (An Giang), Ngô Quang Trường (SLNA), Nguyễn Văn Phụng (CSG), Đặng Phương Nam (CLBQĐ), Nguyễn Phan Hoài Linh (CATPHCM), Bùi Hữu Lợi (CAHN), Ngô Việt Trung (Lâm Đồng), Nguyễn Phúc Nguyên Chương (CSG), Trần Tấn Lợi (An Giang), Nguyễn Văn Hùng (Đồng Tháp), v.v... Một số cựu binh cũng được gọi lại như Chu Văn Mùi (CATPHCM). Tuy nhiên sau khi danh sách dự Tiger Cup được gút lại, chỉ còn Nguyễn Hồng Hải, Nguyễn Thiện Quang, Ngô Quang Trường, Đặng Phương Nam, Nguyễn Phan Hoài Linh, Nguyễn Văn Phụng được giữ lại. Các cầu thủ từng dự SEA Games 18 là Nguyễn Liêm Thanh, Trần Thanh Nhạc, Trịnh Tấn Thành, Lư Đình Tuấn, Nguyễn Hoàng Anh Dũng không còn có tên trong danh sách đội tuyển.

Trong một buổi tập của ĐTVN trên sân Thống Nhất, tiền đạo Trần Minh Chiến tái phát chấn thương và cũng phải chia tay với đội và chia tay luôn với bóng đá đỉnh cao.

Đội tuyển Việt Nam bước vào chiến dịch Tiger Cup 1996 bằng trận thắng 3-1 trước đối thủ yếu Campuchia vào ngày quốc khánh 2/9 bằng ba bàn thắng của Trần Công Minh, Lê Huỳnh Đức và một quả penalty của Võ Hoàng Bửu. Campuchia cũng gỡ được một bàn do công của Sony.

Tại trận đấu thứ 2, ĐTVN có một trận hòa vất vả trước Lào với tỉ số 1-1. Đây là một trận đấu bị tình nghi "làm độ" khi trung vệ Nguyễn Hữu Thắng đã có một pha vào bóng thô bạo không cần thiết với cầu thủ đội Lào để phải nhận một thẻ đỏ trực tiếp. Đội Lào tận dụng ưu thế hơn người để ghi bàn trước ở phút thứ 72 do công của Chalana Luang-Amath trước khi Lê Huỳnh Đức sút phạt san hòa tỉ số ở phút 85. Sau trận đấu, ông Weigang đã đòi đuổi trung vệ Nguyễn Hữu Thắng khỏi đội tuyển do nghi ngờ bán độ. 4 cầu thủ họ Nguyễn khác trong đội tuyển cũng bị dính vào nghi án này.

Ở trận đấu phải thắng trước Myanmar trong lượt trận thứ 3, các cầu thủ Việt Nam đã hoàn thành được nhiệm vụ này. Do hai đội đều chuẩn bị trang phục trắng cho trận đấu nên rốt cuộc, Myanmar phải “mượn” một bộ quần áo xanh lam nhạt lạ lẫm trước khi trở lại với trang phục đỏ trong hiệp 2. Việt Nam vươn lên dẫn trước ở phút thứ 6 sau pha sút cận thành của Hữu Đang. Tuy nhiên, đến phút 24, Maung Maung Htay đã sút xa gỡ hòa cho Myanmar. Thế dẫn trước của Việt Nam được xác lập ngay trong hiệp 1 với pha đánh đầu thành bàn của Lê Huỳnh Đức. Sang hiệp hai, Việt Nam ghi liên tiếp hai bàn nữa do công của Trần Công MinhNguyễn Hồng Sơn. Trong đó, bàn thắng của Trần Công Minh ở phút 48 là một trong những bàn thắng đẹp nhất giải. Việt Nam kết thúc trận đấu với chiến thắng 4-1.

Tại trận cuối cùng của vòng bảng, Việt Nam cầm hòa Indonesia 1-1. Bàn thắng của Việt Nam do công của Võ Hoàng Bửu từ một cú phạt đền ở phút 77 sau khi Kurniawan giúp Indonesia dẫn trước ở phút 43.

Việt Nam tái ngộ Thái Lan ở trận bán kết. Cũng như trận chung kết SEA Games một năm trước, Thái Lan nhanh chóng chiếm lĩnh thế trận vào ghi liên tiếp 4 bàn thắng, trong đó có một cú đúp cua tiền đạo Natipong và một bàn của Kiatisuk. Tuy nhiên, Việt Nam cũng gỡ được 2 bàn do công của Võ Hoàng Bửu (Penalty) và Nguyễn Hồng Sơn sau một pha chọc khe của Lê Huỳnh Đức.

Việt Nam gặp lại Indonesia trong trận tranh giải 3. Ngay ở phút thứ 8, Nguyễn Hồng Sơn đi bóng lắt léo bên biên trái, trước khi chuyền sệt vào để Huỳnh Quốc Cường tung cú đánh gót mở tỉ số. Trong một nỗ lực khác của Nguyễn Hồng Sơn, hậu vệ Yeyen của Indonesia đã tự đưa bóng về lưới nhà ở phút 27. Tuy nhiên, Indonesia gỡ được một bàn do công của Kurniawan ở phút 66. Tỉ số được nâng lên 3-1 cho Việt Nam với bàn thắng của từ chấm phạt 11 mét của Võ Hoàng Bửu trước khi trung vệ Tecuari gỡ một bàn nữa cho Indonesia ở phút 85. Kết quả cuối cùng, Việt Nam thắng Indonesia 3-2 và giành huy chương đồng. Thủ môn Nguyễn Văn Phụng được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu.

Tiger Cup 1996 là giải đấu khẳng định một lần nữa sự trở lại của ĐTVN với tư cách là một đội bóng mạnh trong khu vực. Tuy nhiên, giải đấu này cũng để lại nhiều khuất tất sau nghi án của ĐTVN trong trận đấu với Lào. Với 4 bàn thắng đều từ chấm phạt đền, Võ Hoàng Bửu là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất của Việt Nam. 3 trong số 4 quả phạt đền đó được tạo ra sau các pha đi bóng của tiền đạo mới 20 tuổi Đặng Phương Nam.

Tại các giải châu lục và thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng loại World Cup 1994[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng loại World Cup 1994 là giải đấu đầu tiên đội tuyển Việt Nam tái hòa nhập với giải đấu hàng đầu thế giới. Tại vòng loại này, Đội tuyển Việt Nam ở cùng bảng đấu với các đội CHDCND Triều Tiên, Qatar, Indonesia và Singapore. Đội tuyển Việt Nam do ông Trần Bình Sự làm huấn luyện viên trưởng. Trong đội hình ĐTVN khi đó, có một số cầu thủ tiêu biểu như: các thủ môn Trương Văn Lợi, Phạm Văn Hùng, các hậu vệ Phạm Tiến Dũng, Nguyễn Phương Trung, Chu Văn Mùi, Nguyễn Mạnh Cường, Hồ Văn Tam v.v... các tiền vệ: Bùi Thông Tân, Lư Đình Tuấn, Võ Hoàng Bửu, Đinh Thế Nam, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Hồng Sơn, Phan Thanh Hùng v.v...; các tiền đạo: Nguyễn Xuân Thanh, Hà Vương Ngầu Nại, Lê Huỳnh Đức, Đinh Thanh Hải, Phạm Đức Hợp. Các trận đấu lượt đi diễn ra tại Qatar. Trong trận đấu đầu tiên của đội tuyển Việt Nam thống nhất tại vòng loại World Cup vào ngày 9/4/1993, Việt Nam đã để thua trắng Triều Tiên 0-3 tại sân Khalifa (Doha). Trong trận tiếp theo, Việt Nam tiếp tục thua trắng chủ nhà Qatar 0-4.

Ngày 13/04/1993, Việt Nam để thua Singapore 2-3 trong một trận cầu đầy nuối tiếc. Với bàn mở tỉ số ở phút 14, Lư Đình Tuấn trở thành cầu thủ đầu tiên của Việt Nam ghi bàn tại vòng loại World Cup. Tuy nhiên, Singapore đã nhanh chóng ghi liên tiếp 3 bàn ở các phút 19, 35 và 73 do công của Fandi Ahmad, Steven Tan (penalty) và Sundram Moorthy. Bàn còn lại của Việt Nam trong trận đấu này do công của Phan Thanh Hùng (phút 77).

Ngày 16/04/1993, trong trận đấu cuối cùng của lượt đi với Indonesia, Việt Nam đã giành được thắng lợi đầu tiên tại vòng loại World Cup với tỉ số 1-0. Bàn thắng duy nhất được ghi vào phút 61 do công của tiền đạo Hà Vương Ngầu Nại (Cảng Sài Gòn). Đây cũng là trận thắng duy nhất của đội tuyển tại vòng loại năm đó, vì sau trận đấu này, Việt Nam tiếp tục để thua cả 4 trận đấu lượt về diễn ra tại Singapore (0-1 trước Triều Tiên, 0-4 trước Qatar, 0-1 trước Singapore và 1-2 trước Indonesia). Bàn thắng duy nhất của lượt về được ghi do công của Nguyễn Hồng Sơn (phút 30 trong trận thua Indonesia 1-2). Với duy nhất một trận thắng, đội tuyển Việt Nam xếp cuối bảng với 2 điểm sau 8 trận, ghi được 4 bàn thắng.

Vòng loại World Cup 1998[sửa | sửa mã nguồn]

Tại vòng loại World Cup 1998, đội tuyển Việt Nam ở cùng bảng với các đội Trung Quốc, Tajikistan và Turkmenistan. Đội tuyển mở đầu vòng loại vào ngày 4 tháng 4 năm 1997 tại sân Pamir (Dushanbe) bằng thất bại 0-4 trước đội chủ nhà Tajikistan. Ở trận thứ 2, trên sân Turkmenistan, đội thua tiếp với tỉ số 1-2 với bàn gỡ duy nhất của tuyển thủ Nguyễn Công Vinh (Đường sắt Việt Nam) ở phút 71. Tại trận đấu thứ 3 trên sân Thống nhất trước Trung Quốc, đội tuyển Việt Nam để thua 1-3. Bài gỡ của Việt Nam do công của Lê Huỳnh Đức ghi sau một pha đánh gót chuyền bóng của Nguyễn Liêm Thanh ở phút 38. Ba trận đấu còn lại của lượt về đều có tỷ số thua 0-4 cho đội tuyển Việt Nam. Đội tuyển Việt Nam xếp cuối bảng vòng loại sau cả 6 thất bại. Những kết quả yếu kém này làm dấy nên những nghi ngờ về việc bán độ và dàn xếp tỉ số của một số tuyển thủ Việt Nam, trong đó nổi lên là trung vệ CAHN Lã Xuân Thắng khi cầu thủ này đã đánh đầu phản lưới nhà vào phút 24 trong trận đấu với Tajikistan trên sân Thống nhất.

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng chung kết Vòng loại
Năm Thành tích St T H B Bt Bb St T H B Bt Bb
Cờ của Uruguay 1930 Không tham dự Không tham dự
Cờ của Ý 1934
Cờ của Pháp 1938
Cờ của Brasil 1950
Cờ của Thụy Sĩ 1954
Cờ của Thụy Điển 1958
Cờ của Chile 1962
Cờ của Anh 1966
Cờ của México 1970
Cờ của Tây Đức 1974
Cờ của Argentina 1978
Cờ của Tây Ban Nha 1982
Cờ của México 1986
Cờ của Ý 1990
Cờ của Hoa Kỳ 1994 Không vượt qua vòng loại 8 1 0 7 4 18
Cờ của Pháp 1998 6 0 0 6 2 21
Cờ của Hàn QuốcCờ của Nhật Bản 2002 6 3 1 2 9 9
Cờ của Đức 2006 6 1 1 4 5 9
Cờ của Cộng hòa Nam Phi 2010 2 0 0 2 0 6
Cờ của Brasil 2014 4 3 0 1 15 5
Tổng cộng - - - - - - 32 8 2 22 35 68

Cấp châu lục[sửa | sửa mã nguồn]

Cúp bóng đá châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng chung kết Vòng loại
Năm Thành tích St T H B Bt Bb St T H B Bt Bb
1956
Không tham dự
Không tham dự
1960
1964
1968
1972
1976
1980
1984
1988
1992
1996
Không vượt qua vòng loại
3
2
0
1
13
5
2000
3
2
0
1
14
2
2004
6
3
0
3
8
13
Cờ của IndonesiaCờ của MalaysiaCờ của Thái LanCờ của Việt Nam 2007 Tứ kết 4 1 1 2 4 7 Chủ nhà
2011
Không vượt qua vòng loại
6
1
2
3
6
11
2015
5
0
0
5
2
14
Tổng cộng
1 lần: Tứ kết
4
1
1
2
4
7
23
8
2
13
43
45

Á Vận Hội[sửa | sửa mã nguồn]

  • (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1998)
Thành tích tại Á vận hội
Năm Kết quả St T H B Bt Bb
Cờ của Ấn Độ 1951
Không tham dự
-
-
-
-
-
-
Flag of the Philippines 1954
-
-
-
-
-
-
Cờ của Nhật Bản 1958
-
-
-
-
-
-
Cờ của Indonesia 1962
-
-
-
-
-
-
Cờ của Thái Lan 1966
-
-
-
-
-
-
Cờ của Thái Lan 1970
-
-
-
-
-
-
Cờ của Iran 1974
-
-
-
-
-
-
Cờ của Thái Lan 1978
-
-
-
-
-
-
Cờ của Ấn Độ 1982
-
-
-
-
-
-
Cờ của Hàn Quốc 1986
-
-
-
-
-
-
Cờ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 1990
-
-
-
-
-
-
Cờ của Nhật Bản 1994
-
-
-
-
-
-
Cờ của Thái Lan 1998
Vòng bảng
2
0
0
2
0
6
Tổng cộng
2
0
0
2
0
6

Cấp khu vực[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích tại Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á
Năm Kết quả St T H B Bt Bb
Cờ của Singapore 1996
Hạng ba
5
3
2
1
13
8
Cờ của Việt Nam 1998
Á quân
5
3
1
1
8
2
Cờ của Thái Lan 2000
Hạng tư
6
3
1
2
14
5
Cờ của Indonesia Cờ của Singapore 2002
Hạng ba
6
4
1
1
21
15
Cờ của Malaysia Cờ của Việt Nam 2004
Vòng 1
4
2
1
1
13
4
Cờ của Singapore Cờ của Thái Lan 2007
Bán kết
5
1
2
1
10
3
Cờ của Indonesia Cờ của Thái Lan 2008
Vô địch
7
4
2
1
11
6
Cờ của Indonesia Cờ của Việt Nam 2010
Bán kết
5
2
1
2
8
5
Cờ của Thái Lan Cờ của Malaysia 2012
Vòng bảng
3
0
1
2
2
5
Tổng cộng
1 lần Vô địch
Đội tuyển Việt Nam trước trận chung kết AFF Cup 2008 lượt về với Thái Lan

SEA Games[sửa | sửa mã nguồn]

  • (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1999)
Thành tích tại SEA Games
Năm Kết quả St T H B Bt Bb
Cờ của Thái Lan 1959
Không tham dự
-
-
-
-
-
-
Cờ của Myanma 1961
-
-
-
-
-
-
Cờ của Malaysia 1965
-
-
-
-
-
-
Cờ của Thái Lan 1967
-
-
-
-
-
-
Cờ của Myanma 1969
-
-
-
-
-
-
Cờ của Malaysia 1971
-
-
-
-
-
-
Cờ của Singapore 1973
-
-
-
-
-
-
Cờ của Thái Lan 1975
-
-
-
-
-
-
Cờ của Malaysia 1977
-
-
-
-
-
-
Cờ của Indonesia 1979
-
-
-
-
-
-
Flag of the Philippines 1981
-
-
-
-
-
-
Cờ của Singapore 1983
-
-
-
-
-
-
Cờ của Thái Lan 1985
-
-
-
-
-
-
Cờ của Indonesia 1987
-
-
-
-
-
-
Cờ của Malaysia 1989
-
-
-
-
-
-
Flag of the Philippines 1991
Vòng bảng
3
0
1
2
3
5
Cờ của Singapore 1993
Vòng bảng
3
1
0
2
1
3
Cờ của Thái Lan 1995
Hạng nhì
6
4
0
2
10
8
Cờ của Indonesia 1997
Hạng ba
6
3
1
2
9
6
Flag of Brunei.svg 1999
Hạng nhì
6
4
1
1
14
2
Tổng cộng
2 lần Hạng nhì
24
12
3
9
37
24

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách ĐTQG tập trung đợt 2 cho trận đấu gặp Hồng Kông Trung Quốc tại vòng loại Asian Cup 2015.[17]

Số Vị trí Cầu thủ Ngày sinh Số lần
khoác áo
Bàn thắng Câu lạc bộ
22 TM Nguyễn Thanh Bình 11 tháng 8, 1987 (26 tuổi) Cờ của Việt Nam SHB Đà Nẵng
23 TM Trần Bửu Ngọc 19 tháng 6, 1991 (22 tuổi) Cờ của Việt Nam TĐCS Đồng Tháp
1 TM Bùi Tấn Trường 19 tháng 2, 1986 (28 tuổi) Cờ của Việt Nam B.Bình Dương
3 HV Nguyễn Gia Từ 4 tháng 7, 1989 (24 tuổi) Cờ của Việt Nam XM The Vissai Ninh Bình
6 HV Châu Lê Phước Vĩnh (29 tuổi) Cờ của Việt Nam SHB Đà Nẵng
4 HV Nguyễn Văn Biển 27 tháng 4, 1985 (28 tuổi) Cờ của Việt Nam Hà Nội T&T
17 HV Trần Hải Lâm (32 tuổi) Cờ của Việt Nam SHB Đà Nẵng
2 HV Âu Văn Hoàn 1 tháng 10, 1989 (24 tuổi) Cờ của Việt Nam B.Bình Dương
5 HV Võ Hoàng Quãng (27 tuổi) Cờ của Việt Nam SHB Đà Nẵng
18 HV Phùng Văn Nhiên (32 tuổi) Cờ của Việt Nam Hoàng Anh Gia Lai
HV Nguyễn Xuân Hùng 1991 (22–23 tuổi) Cờ của Việt Nam Hà Nội T&T
HV Đào Văn Phong 6 tháng 6, 1985 (28 tuổi) Cờ của Việt Nam Hải Phòng
TV Phạm Nguyên Sa 15 tháng 12, 1988 (25 tuổi) Cờ của Việt Nam SHB Đà Nẵng
TV Ngô Hoàng Thịnh 21 tháng 4, 1992 (21 tuổi) Cờ của Việt Nam Sông Lam Nghệ An
TV Nguyễn Huy Hùng 1992 (21–22 tuổi) Cờ của Việt Nam Hà Nội
TV Lê Tấn Tài 4 tháng 1, 1984 (30 tuổi) Cờ của Việt Nam Hải Phòng
TV Lê Văn Thắng 8 tháng 2, 1990 (24 tuổi) Cờ của Việt Nam Thanh Hóa
19 TV Phạm Thành Lương 10 tháng 9, 1988 (25 tuổi) Cờ của Việt Nam Hà Nội T&T
TV Hoàng Danh Ngọc 3 tháng 4, 1990 (24 tuổi) Cờ của Việt Nam XM The Vissai Ninh Bình
10 TV Nguyễn Văn Quyết 27 tháng 6, 1991 (22 tuổi) Cờ của Việt Nam Hà Nội T&T
16 TV Huỳnh Quốc Anh 13 tháng 1, 1985 (29 tuổi) Cờ của Việt Nam SHB Đà Nẵng
TV Trần Mạnh Dũng 9 tháng 3, 1990 (24 tuổi) Cờ của Việt Nam XM The Vissai Ninh Bình
Hà Minh Tuấn 1991 (22–23 tuổi) Cờ của Việt Nam SHB Đà Nẵng
Nguyễn Hải Anh 1987 (26–27 tuổi) Cờ của Việt Nam Đồng Nai
9 Mạc Hồng Quân 1 tháng 1, 1992 (22 tuổi) Cờ của Việt Nam Thanh Hóa

Thành phần ban huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Vietnam national football team logo.png
Ban huấn luyện đội tuyển Việt Nam[17]

Huấn luyện viên trưởng:


Trợ lý huấn luyện viên:


Trợ lý huấn luyện viên:


Huấn luyện viên thủ môn:


Bác sĩ:


Bác sĩ:


trống


Flag of Vietnam.svg Lê Tuấn Long


Flag of Vietnam.svg Phùng Thanh Phương


Flag of Vietnam.svg Quách Ngọc Minh


Flag of Vietnam.svg Vũ Trọng Hạnh


Flag of Vietnam.svg Tuấn Nguyên Giáp


Huấn luyện viên trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Vietnam national football team logo.png
Các huấn luyện viên trưởng đội tuyển Việt Nam

Thứ hạng trong bảng xếp hạng của FIFA[sửa | sửa mã nguồn]

Vietnam national football team logo.png
Biểu đồ thứ hạng của đội tuyển Việt Nam trong bảng xếp hạng của FIFA[1]

Thành tích đối đầu với từng quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cập nhật lần cuối ngày 06 tháng 03 năm 2014.[34]
Đội tuyển St T H B Bt Bb
 Ả Rập Saudi 2 0 0 2 0 9
 Ấn Độ 2 1 0 1 3 4
 Bahrain 1 1 0 0 5 3
 Bangladesh 2 1 1 0 4 0
 CHDCND Triều Tiên 5 0 2 3 0 6
 Bosna và Hercegovina 1 0 0 1 0 4
 Campuchia 5 5 0 0 31 4
 Trung Hoa Đài Bắc 1 1 0 0 4 1
 Estonia 1 1 0 0 1 0
 Guam 2 2 0 0 20 0
 Hàn Quốc 6 1 0 5 2 17
 Hồng Kông 4 2 1 1 6 4
 Indonesia 17 4 6 7 15 20
 Iraq 1 0 0 1 0 2
 Jamaica 1 1 0 0 3 0
 Kazakhstan 1 1 0 0 2 1
 Kuwait 2 1 0 1 2 3
 Lào 9 8 1 0 41 3
 Liban 4 1 2 1 4 4
 Ma Cao 2 2 0 0 13 1
 Malaysia 12 6 2 4 12 11
 Maldives 2 1 0 1 4 3
 Mozambique 1 1 0 0 1 0
 Mông Cổ 2 2 0 0 5 0
 Myanmar 8 5 2 1 26 9
 Nepal 2 2 0 0 7 0
 Nhật Bản 2 0 0 2 1 5
 Oman 2 0 0 2 0 8
 Philippines 8 5 1 2 15 6
 Qatar 6 2 1 3 5 14
 Singapore 18 6 8 4 16 15
 Sri Lanka 4 1 3 0 7 6
 Syria 2 0 1 1 0 1
 Tajikistan 2 0 0 2 0 8
 Thái Lan 19 3 4 12 17 37
 Trung Quốc 6 0 0 6 3 20
 Turkmenistan 6 1 0 5 4 12
 UAE 5 1 0 4 3 13
 Uzbekistan 2 0 0 2 1 6
 Zimbabwe 1 0 0 1 0 6
Tổng cộng 179 69 35 74 281 273

Kết quả thi đấu năm 2014[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày Địa điểm Đối thủ Tỉ số Giải đấu Cầu thủ ghi bàn Chi tiết
2 tháng 3 Hà Nội,Việt Nam Flag of South Korea (bordered).svg Sinh Viên Hàn Quốc 0–0 Giao Hữu [35]
5 tháng 3 Hà Nội,Việt Nam Flag of Hong Kong.svg Hồng Kông 3–1 Vòng loại Cúp bóng đá châu Á 2015 Huỳnh Quốc Anh Goal 24'
Nguyễn Anh Đức Goal 67'
Nguyễn Trọng Hoàng Goal 83'
[36]

Trang phục thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Màu áo thi đấu chính của đội tuyển là bộ trang phục toàn đỏ, màu áo phụ là bộ trang phục toàn trắng. Từ năm 2005 đến hết năm 2008, hãng cung cấp trang phục thi đấu cho đội tuyển Việt Nam là Li Ning, từ tháng 01 năm 2009, Nike đảm nhiệm vai trò này theo một hợp đồng 5 năm.[37][38]

Trang phục chính
1995
1998-1999
2005–2008
2009–2010
2010–2012
2012-nay[39]
Trang phục phụ
2005–2008
2009–2010
2010–2012
2012-nay

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă (tiếng Anh) “Bảng xếp hạng bóng đá nam FIFA - Việt Nam”. fifa.com. Truy cập 15/12/2013. 
  2. ^ Dương Trung Quốc. “Một Trăm năm bóng đá Việt Nam”. Vietnamnet. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2009. 
  3. ^ “Lịch sử hình thành CLB Bóng đá Thể Công”. www.thecong.vn. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  4. ^ “Quái chiêu Hà Nội: Tòng “cháy” & tuyệt chiêu”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2009. 
  5. ^ “BĐVN sau đỉnh AFF Cup: Lối mòn hay lộ trình?”. Vietnamnet. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2009. 
  6. ^ a ă “Sông Hàn tràn lên… tuyển”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2009. 
  7. ^ “Xung quanh sự cố "mất hộ chiếu" của Hồng Sơn: Lời thì thầm của con gấu”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010. 
  8. ^ “Việt Nam lọt vào top 10 sự kiện bóng đá châu Á”. VnExpress. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2009. 
  9. ^ “2008 qua 10 sự kiện do độc giả VietNamNet bình chọn”. Vietnamnet. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2009. 
  10. ^ Đại nhảy vọt, Việt Nam vào top 100 BXH FIFA
  11. ^ Các ông thầy nội trong lịch sử BĐVN
  12. ^ a ă â b Đức Phong. “3 giờ trò chuyện cùng HLV K.H.Weigang”. Báo Bóng Đá. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010. 
  13. ^ "Ông hãy đưa giúp tôi thuốc này đến các cầu thủ, nếu họ hỏi thì bảo đó là doping"
  14. ^ Tôi không tin vào sự hợp tác của Liên đoàn bóng đá Việt Nam.
  15. ^ a ă HOÀI LÊ - SĨ HUYÊN. ““Thế hệ vàng” của bóng đá Việt Nam”. Tuổi trẻ Online. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010. 
  16. ^ N. Khôi. “Chương trình trận đấu chia tay "Thế hệ vàng": Có gì hấp dẫn?”. Tuổi trẻ Online. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010. 
  17. ^ a ă HLV Hoàng Văn Phúc công bố danh sách ĐTQG tập trung đợt 2 năm 2013
  18. ^ “Bơi khỏi ao làng”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2010. 
  19. ^ “...bệnh ê kíp.”. Nguyễn Nguyên. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 1997. 
  20. ^ a ă “Vietnam sacked”. AFP. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 1997. 
  21. ^ “HLV Tavares sẽ dẫn dắt tuyển VN từ trận gặp Lebanon”. Thể thao Tuổi trẻ. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2009. 
  22. ^ “...chỉ định HLV thủ môn Trần Văn Khánh.”. Vnexpress.net. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 1997. 
  23. ^ Alfred Riedl trở thành tân HLV trưởng đội tuyển Việt Nam
  24. ^ HLV trưởng Alfred Riedl chính thức từ chức
  25. ^ Ông Calisto chính thức trở thành HLV trưởng Đội tuyển Việt Nam
  26. ^ HLV Calisto họp báo công bố việc từ chức
  27. ^ Tuấn Linh. “HLV Mai Đức Chung tạm ngồi "ghế nóng" ĐTVN”. Vietnamnet. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2011. 
  28. ^ HLV Falko Goetz ký hợp đồng với VFF chiều 6/6
  29. ^ VFF chính thức cắt hợp đồng với HLV Falko Goetz
  30. ^ HLV Phan Thanh Hùng dẫn dắt đội tuyển Việt Nam
  31. ^ HLV Phan Thanh Hùng từ chức sau thảm bại
  32. ^ “HLV Hoàng Văn Phúc chính thức trở thành HLV trưởng ĐTQG và ĐT U23 QG”. vff.org.vn. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  33. ^ Tuấn Thành. “VFF kết thúc hợp đồng với HLV Hoàng Văn Phúc”. bongdaplus.vn. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2014. 
  34. ^ Thành tích đối đấu giữa các đội tuyển trên trang chủ của FIFA
  35. ^ “ĐT Việt Nam 0-0 SV Hàn Quốc: Đôi bên hài lòng”. BDP. 3 tháng 2 năm 2014. 
  36. ^ “Tuyển Việt Nam phục thù thành công trước Hong Kong”. VNE. 6 tháng 3 năm 2014. 
  37. ^ “Từ tháng 1/2009, ĐTVN sẽ mặc áo đấu Nike”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2009. 
  38. ^ “Hôm nay, ĐTVN thay áo mới”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2009. 
  39. ^ Đức Nguyễn. “Ra mắt mẫu áo đấu “tuyệt đẹp” của ĐT Việt Nam”. Báo Bóng đá. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2009. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]