Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam
| Hiệp hội | Liên đoàn bóng đá Việt Nam | ||
| Huấn luyện viên | trống | ||
| Đội trưởng | Phan Văn Tài Em | ||
| Thi đấu nhiều nhất | Lê Huỳnh Đức | ||
| Sân nhà | Mỹ Đình | ||
| Mã FIFA | VIE | ||
| Xếp hạng FIFA | 100 (2.2012) [1] | ||
| Cao nhất | 84 (9.1998) | ||
| Thấp nhất | 172 (12.2006) | ||
| Hạng Elo | 142 (11.4.2011) | ||
| Elo cao nhất | 121 (8.7.2007) | ||
| Elo thấp nhất | 175 (4.1.1995) | ||
|
|
|||
| Trận quốc tế đầu tiên (Trung Quốc, 4 tháng 10, 1956) (Philippines; 26 tháng 11, 1991) |
|||
| Trận thắng đậm nhất (TP. HCM, Việt Nam; 23 tháng 1, 2000) |
|||
| Trận thua đậm nhất (Kuala Lumpur, Malaysia, 26 tháng 2, 1997) (Incheon, Hàn Quốc, 29 tháng 9, 2003) |
|||
|
|
|||
| Cúp bóng đá châu Á | |||
| Số lần tham dự | 1 (lần đầu vào năm 2007) | ||
| Kết quả tốt nhất | 2007, tứ kết | ||
Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam là đội tuyển cấp quốc gia của Việt Nam do Liên đoàn bóng đá Việt Nam quản lí.
Bóng đá được du nhập vào Việt Nam vào những năm cuối của thế kỷ 19, do những thủy thủ và binh sĩ người Âu. Người Việt Nam dần dần cũng học hỏi và đá bóng trong các đội của người Pháp. Ngày 20 tháng 7 năm 1908 thì lần đầu tiên thấy tờ báo “Lục tỉnh Tân văn” đưa tin trận cầu giữa hai đội bóng thuần cầu thủ người Việt Nam diễn ra (trận đội Phú Mỹ thắng đội Chợ Đũi 2-0). Đến năm 1928, người Việt đã đứng ra thành lập Tổng cục Thể thao An Nam (tại Sài Gòn), cùng trong năm ấy cử một đội bóng đá Việt Nam sang thi đấu ở Tân Gia Ba (Singapore).[2]
Khi Việt Nam chia thành hai nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng Hòa, mỗi nước có một đội tuyển quốc gia riêng; Đội tuyển Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có chuyến thi đấu quốc tế đầu tiên sang Trung Quốc năm 1956[3], dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Trương Tấn Bửu, đội đá theo sơ đồ 3-2-5 (W-M) cổ điển với những gương mặt: thủ môn Đức “ba xương”; các hậu vệ Te - Nghẽn - Lưu Đình Tòng; các tiền vệ Luyến - Thưởng; đá tiền đạo gồm Trương Tấn Nghĩa - Bảy - Tuất - Tiền - Ba Len.[4] Đội chủ yếu chơi trong các giải của các nước xã hội chủ nghĩa từ 1956 đến 1966 và tại các giải GANEFO (Indonesia, 1963) và GANEFO Châu Á (Campuchia, 1966).
Cùng thời gian, đội tuyển Việt Nam Cộng hoà được liệt vào hàng các đội bóng mạnh nhất của khu vực châu Á, đội đã vào đến vòng bán kết hai giải Cúp bóng đá châu Á đầu tiên (1956, 1960), cả hai lần đều đạt giải tư. Cũng chính đội đã đoạt chiếc huy chương vàng SEA Games bộ môn bóng đá đầu tiên (và tính đến thời điểm này vẫn là chiếc huy chương vàng duy nhất) cho Việt Nam khi đội giành ngôi vô địch vào kỳ đại hội năm 1959. Đội cũng là đại diện đầu tiên của Việt Nam tại một giải đấu cấp thế giới, khi tham gia vòng loại World Cup 1974 và các kỳ Thế vận hội Mùa hè 1964 và Thế vận hội Mùa hè 1968.
Trận cuối cùng của đội Việt Nam Cộng hoà là vào năm 1975, sau đó thì đội tuyển thống nhất của 2 nước Việt Nam mãi đến năm 1991 mới bắt đầu tham gia đấu trường quốc tế. Giải đấu quốc tế đầu tiên mà đội tuyển Việt Nam "thống nhất" tham gia thi đấu được công nhận là SEA Games 1991 được tổ chức tại Manila.[5] Trong trận đầu tiên đội gặp đối thủ nước chủ nhà Philippines và đã hòa với tỉ số 2–2.
Nói thêm về lần tập trung đi dự SEA Games lần đó, tình hình đất nước còn rất khó khăn. Các điều kiện tập trung ở Nhổn rất thiếu thốn.[6] Khiến chỉ sau một tuần tập trung, 11 cầu thủ phía Nam (thành viên các đội Công nhân Quảng Nam-Đà Nẵng, Hải Quan, Cảng Sài Gòn) cùng "đào ngũ".[7]
Tính đến năm 2008, đội tuyển Việt Nam chưa lần nào vượt qua vòng loại World Cup. Năm 2007, khi là quốc gia đăng cai, đội tuyển Việt Nam lần đầu tham dự vòng chung kết Cúp bóng đá châu Á và đã bất ngờ vào tới vòng tứ kết. Ở giải khu vực Đông Nam Á, đội tuyển giành ngôi vô địch một lần vào năm 2008 khi vượt qua Thái Lan ở trận chung kết. Chiến thắng có phần bất ngờ này của tuyển Việt Nam được trang thông tin điện tử Goal.com xếp vào top 10 sự kiện bóng đá châu Á năm 2008, [8] cũng như được độc giả Vietnamnet bình chọn là một trong 10 sự kiện nổi bật của Việt Nam trong năm.[9]
Vào cuối năm 2011, dù không có thành tích gì đáng kể, đội tuyển Việt Nam bất ngờ tăng 35 bậc, xếp hạng 99 trong Bảng xếp hạng FIFA, trở lại top 100 sau 7 năm. Đây lần đầu tiên Việt Nam xếp đầu Đông Nam Á trong bảng xếp hạng này [10].
Mục lục |
[sửa] Lịch sử
[sửa] Tại các giải khu vực
Sau hai kỳ SEA Games hội nhập lại mà không đạt được thành tích nào, Liên đoàn bóng đá Việt Nam có một quyết định cách mạng khi bắt đầu thuê huấn luyện viên ngoại. Người đầu tiên giúp đội là huấn luyện viên Karl Heiz Weigang, đây là một người quen của bóng đá Việt Nam khi ông chính là huấn luyện viên của đội tuyển Việt Nam Cộng hòa dẫn dắt đội lập kỳ tích giành Cúp Merdeka năm 1966.[11] Ông chấp nhận đến Việt Nam làm việc 5 tháng không lương. Sau 7 tuần dẫn dắt đội, ông trở về Đức, trong khoảng thời gian này, nhờ nhà tại trợ mới của bóng đá Việt Nam là Strata, Liên đoàn bóng đá Việt Nam đã thuê ông Edson Tavares.[11]
Huấn luyện viên người Brasil ngay lập tức đem lại thành công cho bóng đá Việt Nam qua các trận đấu tại Cúp Độc Lập 1995. Tại giải này, Việt Nam tham dự hai đội tuyển và cả hai đều thi đấu thành công, đều vào bán kết giải này. Điều làm ngạc nhiên nhất là thể lực của các cầu thủ Việt Nam tăng lên đáng kể và do đó nhiều người nghi ngờ ông Tavares cho các cầu thủ sử dụng các "viên kẹo bí ẩn" [12]. Ngay sau khi đội Việt Nam 1 thua câu lạc bộ Housing Bank ở trận bán kết ngày 12 tháng 1 năm 1995, Tavares tuyên bố từ chức với lý do không nhận được sự hợp tác của Liên đoàn bóng đá Việt Nam.[13] Ông Weigang lại được mời về dẫn dắt đội.[11]
Ông Weigang quyết định cho đội đi tập huấn tại châu Âu. Trong năm 1995, đội thi đấu tổng cộng 34 trận và có rất nhiều tiến bộ.[11] Lứa cầu thủ đó sau này được coi như thế hệ vàng của bóng đá Việt Nam:[14] gồm thủ môn Nguyễn Văn Cường; trung vệ đội trưởng Nguyễn Mạnh Cường; hậu vệ Trần Công Minh; tiền vệ Võ Hoàng Bửu, Nguyễn Hồng Sơn; các tiền đạo Trần Minh Chiến, Lê Huỳnh Đức, Huỳnh Quốc Cường.[14] Sau này có thể kể thêm các thủ môn Nguyễn Văn Phụng, Trần Minh Quang; các hậu vệ Đỗ Khải, Nguyễn Hữu Thắng, Nguyễn Đức Thắng; các tiền vệ Triệu Quang Hà, Trương Việt Hoàng, Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Văn Sĩ, Vũ Minh Hiếu; hay tiền đạo Văn Sĩ Hùng.[15]
Đội tuyển dưới thời ông Weigang đã đem lại hai tấm huy chương đầu tiên cho bóng đá Việt Nam thời tái hội nhập là tấm huy chương bạc SEA Games 1995 và tấm huy chương đồng Tiger Cup 1996.
[sửa] Tại các giải châu lục và thế giới
[sửa] Thành tích
Cộng luôn cả thành tích của Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Cộng hòa và Đội tuyển bóng đá Việt Nam Dân chủ Cộng hòa:
[sửa] Cấp thế giới
| Vòng chung kết | Vòng loại | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Thành tích | St | T | H | B | Bt | Bb | St | T | H | B | Bt | Bb | |
| Không tham dự | Không tham dự | |||||||||||||
| Không vượt qua vòng loại | 3 | 1 | 0 | 2 | 1 | 5 | ||||||||
| Không tham dự | Không tham dự | |||||||||||||
| Không vượt qua vòng loại | 8 | 1 | 0 | 7 | 4 | 18 | ||||||||
| 6 | 0 | 0 | 6 | 2 | 21 | |||||||||
| 6 | 3 | 1 | 2 | 9 | 9 | |||||||||
| 6 | 1 | 1 | 4 | 5 | 9 | |||||||||
| 2 | 0 | 0 | 2 | 0 | 6 | |||||||||
| 4 | 3 | 0 | 1 | 15 | 5 | |||||||||
| Tổng cộng | - | - | - | - | - | - | - | - | - | - | - | - | ||
[sửa] Cấp châu lục
[sửa] Cúp bóng đá châu Á
| Vòng chung kết | Vòng loại | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Thành tích | St | T | H | B | Bt | Bb | St | T | H | B | Bt | Bb | |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Không vượt qua vòng loại |
|
|
|
|
|
|
|||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||||
|
|
|
|
||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||
|
|
|
|
||||||||||||
|
|
||||||||||||||
|
|
||||||||||||||
|
|
||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||||
| Tứ kết | 4 | 1 | 1 | 2 | 4 | 7 | Chủ nhà | |||||||
|
|
|
6 | 1 | 2 | 3 | 6 | 11 | |||||||
|
|
|
|||||||||||||
[sửa] Á Vận Hội
- (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1998)
| Thành tích tại Á vận hội | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Kết quả | St | T | H | B | Bt | Bb |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
[sửa] Cấp khu vực
[sửa] Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
[sửa] SEA Games
- (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1999)
| Thành tích tại SEA Games | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Kết quả | St | T | H | B | Bt | Bb |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||
[sửa] Các giải khác
- Cúp Nhà vua (Thái Lan) 2006: hạng nhì
- Cúp Merdeka 1966: vô địch (đội tuyển Việt Nam Cộng hòa)
- Cúp Merdeka 2008: vô địch (đội tuyển U-21)
[sửa] Đội hình hiện tại
Danh sách cầu thủ tham dự trận giao hữu với Nhật Bản.[17]
*Thời điểm trình danh sách lên Tổng cục Thể dục Thể thao, cầu thủ Lê Công Vinh thuộc về biên chế CLB Hà Nội T&T. Tuy nhiên ở thời điểm này Lê Công Vinh đang là cầu thủ tự do.
[sửa] Thành phần ban huấn luyện
|
[sửa] Huấn luyện viên trưởng
|
[sửa] Thứ hạng trong bảng xếp hạng của FIFA
[sửa] Thành tích đối đầu với từng quốc gia
- Cập nhật lần cuối ngày 08 tháng 10 năm 2011.[22]
| Đội tuyển | St | T | H | B | Bt | Bb |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 5 | |
| 2 | 0 | 0 | 2 | 0 | 9 | |
| 2 | 1 | 0 | 1 | 3 | 4 | |
| 1 | 1 | 0 | 0 | 5 | 3 | |
| 2 | 1 | 1 | 0 | 4 | 0 | |
| 5 | 0 | 2 | 3 | 0 | 6 | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 4 | |
| 5 | 5 | 0 | 0 | 31 | 4 | |
| 1 | 1 | 0 | 0 | 4 | 1 | |
| 1 | 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | |
| 2 | 2 | 0 | 0 | 20 | 0 | |
| 6 | 1 | 0 | 5 | 2 | 17 | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 1 | |
| 14 | 4 | 5 | 5 | 14 | 18 | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 2 | |
| 1 | 1 | 0 | 0 | 3 | 0 | |
| 1 | 1 | 0 | 0 | 2 | 1 | |
| 2 | 1 | 0 | 1 | 2 | 3 | |
| 8 | 7 | 1 | 0 | 37 | 3 | |
| 4 | 1 | 2 | 1 | 4 | 4 | |
| 2 | 2 | 0 | 0 | 13 | 1 | |
| 10 | 4 | 2 | 4 | 9 | 11 | |
| 2 | 1 | 0 | 1 | 4 | 3 | |
| 2 | 2 | 0 | 0 | 5 | 0 | |
| 7 | 5 | 1 | 1 | 25 | 8 | |
| 2 | 2 | 0 | 0 | 7 | 0 | |
| 3 | 0 | 0 | 3 | 1 | 9 | |
| 2 | 0 | 0 | 2 | 0 | 8 | |
| 7 | 5 | 1 | 1 | 15 | 5 | |
| 5 | 1 | 1 | 3 | 3 | 13 | |
| 18 | 6 | 8 | 4 | 16 | 15 | |
| 4 | 1 | 3 | 0 | 7 | 6 | |
| 2 | 0 | 1 | 1 | 0 | 1 | |
| 2 | 0 | 0 | 2 | 0 | 8 | |
| 18 | 3 | 4 | 11 | 16 | 34 | |
| 5 | 0 | 0 | 5 | 3 | 17 | |
| 5 | 1 | 0 | 4 | 4 | 11 | |
| 3 | 1 | 0 | 2 | 2 | 6 | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 6 | |
| Tổng cộng | 161 | 62 | 32 | 65 | 262 | 247 |
[sửa] Kết quả thi đấu năm 2011
| Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Tỉ số | Giải đấu | Cầu thủ ghi bàn | Chi tiết |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 29 tháng 06 | TP.HCM,Việt Nam | 6–0 | Vòng 1-Khu vực Châu á-World Cup 2014 | Lê Công Vinh Phạm Thành Lương Nguyễn Ngọc Thanh Nguyễn Văn Quyết |
[23] | |
| 03 tháng 07 | Taipa,Ma Cao | 7–1 | Vòng 1-Khu vực Châu á-World Cup 2014 | Lê Công Vinh Nguyễn Quang Hải Huỳnh Quang Thanh |
[24][25] | |
| 23 tháng 07 | Doha,Qatar | 0–3 | Vòng 2-Khu vực Châu á-World Cup 2014 | [26] | ||
| 28 tháng 07 | Hà Nội,Việt Nam | 2–1 | Vòng 2-Khu vực Châu á-World Cup 2014 | Nguyễn Trọng Hoàng Nguyễn Quang Hải |
[27] | |
| 7 tháng 10 | Kobe,Nhật Bản | 0–1 | Giao hữu | Tadanari Lee |
[28] | |
[sửa] Trang phục thi đấu
Màu áo thi đấu chính của đội tuyển là bộ trang phục toàn đỏ, màu áo phụ là bộ trang phục toàn trắng. Từ năm 2005 đến hết năm 2008, hãng cung cấp trang phục thi đấu cho đội tuyển Việt Nam là Li Ning, từ tháng 01 năm 2009, Nike đảm nhiệm vai trò này theo một hợp đồng 5 năm.[29] [30]
[sửa] Ghi chú
- ^ Xếp hạng FIFA (Việt Nam)
- ^ Dương Trung Quốc. “Một Trăm năm bóng đá Việt Nam”. Vietnamnet. Truy cập 8 tháng 2 năm 2009.
- ^ “Lịch sử hình thành CLB Bóng đá Thể Công”. www.thecong.vn. Truy cập 11 tháng 6 năm 2009.
- ^ “Quái chiêu Hà Nội: Tòng “cháy” & tuyệt chiêu”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập 28 tháng 1 năm 2009.
- ^ “BĐVN sau đỉnh AFF Cup: Lối mòn hay lộ trình?”. Vietnamnet. Truy cập 3 tháng 1 năm 2009.
- ^ a b “Sông Hàn tràn lên… tuyển”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập 5 tháng 9 năm 2009.
- ^ “Xung quanh sự cố "mất hộ chiếu" của Hồng Sơn: Lời thì thầm của con gấu”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập 8 tháng 1 năm 2010.
- ^ “Việt Nam lọt vào top 10 sự kiện bóng đá châu Á”. VnExpress. Truy cập 3 tháng 1 năm 2009.
- ^ “2008 qua 10 sự kiện do độc giả VietNamNet bình chọn”. Vietnamnet. Truy cập 3 tháng 1 năm 2009.
- ^ Đại nhảy vọt, Việt Nam vào top 100 BXH FIFA
- ^ a b c d Đức Phong. “3 giờ trò chuyện cùng HLV K.H.Weigang”. Báo Bóng Đá. Truy cập 14 tháng 8 năm 2010.
- ^ "Ông hãy đưa giúp tôi thuốc này đến các cầu thủ, nếu họ hỏi thì bảo đó là doping"
- ^ Tôi không tin vào sự hợp tác của Liên đoàn bóng đá Việt Nam.
- ^ a b HOÀI LÊ - SĨ HUYÊN. ““Thế hệ vàng” của bóng đá Việt Nam”. Tuổi trẻ Online. Truy cập 14 tháng 8 năm 2010.
- ^ N. Khôi. “Chương trình trận đấu chia tay "Thế hệ vàng": Có gì hấp dẫn?”. Tuổi trẻ Online. Truy cập 14 tháng 8 năm 2010.
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u Đội tuyển bóng đá Việt Nam Cộng hòa tham dự giải
- ^ Danh sách ĐTQG thi đấu giao hữu với ĐT Nhật Bản
- ^ “Bơi khỏi ao làng”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập 13 tháng 11 năm 2010.
- ^ HLV Calisto họp báo công bố việc từ chức
- ^ Tuấn Linh. “HLV Mai Đức Chung tạm ngồi "ghế nóng" ĐTVN”. Vietnamnet. Truy cập 7 tháng 5 năm 2011.
- ^ (tiếng Anh) “Vietnam - Ranking”. fifa.com. Truy cập 7 tháng 1 năm 2009.
- ^ Thành tích đối đấu giữa các đội tuyển trên trang chủ của FIFA
- ^ “Trực tiếp vòng loại World Cup 2014, Việt Nam – Macau: 6-0 (KT)”. VFF (29 tháng 6 năm 2011).
- ^ “Thắng đậm 7-1 trên sân Macau, ĐT Việt Nam gặp ĐT Qatar tại vòng 2”. VFF (3 tháng 7 năm 2011).
- ^ [1]
- ^ “Vòng loại thứ hai World Cup 2014: ĐT Việt Nam thua 0-3 trên sân khách”. VFF (24 tháng 7 năm 2011).
- ^ “Lượt về vòng loại thứ hai World Cup 2014, ĐT Việt Nam - ĐT Qatar: 2-1”. VFF (29 tháng 7 năm 2011).
- ^ “Giao hữu quốc tế, ĐT Nhật Bản – ĐT Việt Nam: 1-0”. VFF (8 tháng 10 năm 2011).
- ^ “Từ tháng 1/2009, ĐTVN sẽ mặc áo đấu Nike”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập 7 tháng 1 năm 2009.
- ^ “Hôm nay, ĐTVN thay áo mới”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập 7 tháng 1 năm 2009.
[sửa] Xem thêm
- Lịch sử bóng đá Việt Nam
- Danh sách đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam
- Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Việt Nam
- Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Cộng hoà
[sửa] Liên kết ngoài
- Liên đoàn bóng đá Việt Nam
- Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam trên trang chủ của FIFA
| Danh hiệu | ||
|---|---|---|
| Tiền nhiệm: |
Vô địch Đông Nam Á 2008 |
Kế nhiệm: |
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||
| Ả Rập Saudi | Afghanistan | Ấn Độ | Bahrain | Bangladesh | Bhutan | Brunei | UAE | Campuchia | Đông Timor | Guam | Hàn Quốc | Hồng Kông | Indonesia | Iran | Iraq | Jordan | Kuwait | Kyrgyzstan | Lào | Liban | Ma Cao | Malaysia | Maldives | Mông Cổ | Myanma | Nepal | Nhật Bản | Oman | Pakistan | Palestine | Philippines | Qatar | Singapore | Sri Lanka | Syria | Tajikistan | Thái Lan | CHDCND Triều Tiên | Trung Quốc | Trung Hoa Đài Bắc (Đài Loan) | Turkmenistan | Úc | Uzbekistan | Việt Nam | Yemen
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
Kết quả thi đấu của đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam các cấp trong các năm
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
... • 1991 • 1992 • 1993 • 1994 • 1995 • 1996 • 1997 • 1998 • 1999 • 2000 • 2001 • 2002 • 2003 • 2004 • 2005 • 2006 • 2007 • 2008 • 2009 • 2010 • 2011 • 2012 • 2013 • |
|||||||||||||||||||||||||||||