Rafael Alberti

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Rafael Alberti

Rafael Alberti Merello (16 tháng 12 năm 190227 tháng 10 năm 1999) – nhà thơ, nhà soạn kịch Tây Ban Nha.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Rafael Alberti sinh ở El Puerto de Santa María, tỉnh Cádiz. Năm 1917 gia đình chuyển về Madrrid, Rafael học vẽ. Từ năm 1920 bắt đầu làm thơ. Tập thơ đầu tay Marinero en tierra (Thủy thủ trên bờ) in năm 1925 được trao giải Văn học Quốc gia. Tiếp đó là các tập thơ El alba de alhelí (Hoa của bình minh, 1927), Sobre los ángeles (Về những Thiên thần, 1929)… lần lượt được xuất bản. Năm 1927 Rafael Alberti trở thành một trong những người sáng lập phong trào văn học Thế hệ năm 27.

Năm 1930 Rafael Alberti cưới nữ nhà văn María Teresa León. Năm 1931 ông gia nhập Đảng cộng sản Tây Ban Nha. Năm 1932 sang thăm Liên Xô. Năm 1933 thành lập tạp chí Octubre tập hợp những trí thức cách mạng của Tây Ban Nha. Năm 1934 ông cùng vợ sang Liên Xô dự Đại hội Nhà văn Liên Xô lần thứ nhất.

Những năm nội chiến ở Tây Ban Nha (1936 – 1939) ông đứng về phía những người cộng hòa. Sau khi phe cộng hòa thất bại ông rời Tổ Quốc sang sống ở Pháp (1939 – 1940) sau đó sang Argentina. Từ năm 1964 đến năm 1977 ông sống ở Ý. Tháng 5 năm 1977, sau khi Franco chết, ông trở về Tây Ban Nha. Năm 1981 ông được trao Giải thưởng kịch Quốc gia (Nacional de Teatro), năm 1983 – giải Cervantes. Ngoài ra, ông còn được nhận giải Lenin de la Paz của Liên Xô (1964), giải Roma de Literatura của Ý (1991). Năm 1985 ông được trao bằng Tiến sĩ danh dự của Đại học Cádiz. Năm 1995 ông được trao bằng Tiến sĩ danh dự của Đại học Valencia.

Rafael Alberti mất ngày 27 tháng 10 năm 1999.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Marinero en tierra, M., Biblioteca Nueva, 1925 (Premio Nacional de Literatura).
  • La amante, Málaga, Litoral, 1926.
  • El alba de alhelí, Santander, 1927 (Edición privada de José María de Cossío).
  • Domecq (1730-1928). Poema del Ilmo. Sr. Vizconde de Almocadén, Jerez de la Frontera, Jerez ndustrial, 1928.
  • Cal y canto, M., Revista de Occidente, 1929.
  • Yo era un tonto y lo que he visto me ha hecho dos tontos, publicado por primera vez en distintos números de La Gaceta Literaria, 1929.
  • Sobre los ángeles, M., CIAP, 1929.
  • El poeta en la calle (1931-1935), Aguilar, Madrid, 1978. Publicado por primera vez en Poesía (1924-1937).
  • Consignas, M., octubre de 1933.
  • Un fantasma recorre Europa, M., La tentativa poética, 1933.
  • Poesía (1924-1930), M., Ediciones del Árbol( Cruz y Raya), 1935.
  • Versos de agitación, México, Edit. Defensa Roja, 1935.
  • Verte y no verte. A Ignacio Sánchez Mejías, México, N. Lira, 1935.
  • 13 bandas y 48 estrellas. Poemas del mar Caribe, M., Manuel Altolaguirre, 1936.
  • Nuestra diaria palabra, M., Héroe, 1936.
  • De un momento a otro (Poesía e historia), M., Europa-América, 1937.
  • El burro explosivo, M., Edic. 5º Regimiento, 1938.
  • Poesías (1924-1937), M., Signo, 1938.
  • Poesías (1924-1938), Bs. As., Losada, 1940.
  • Entre el clavel y la espada (1939-1940), Bs. As., Losada, 1941. Dibujos de Rafael Alberti.
  • Pleamar (1942-1944), Bs. As., Losada, 1944.
  • Poesía (1924-1944), Bs. As., Losada, 1946.
  • A la pintura, Bs. As., Imprenta López (Edición privada).
  • A la pintura. Poema del color y la línea (1945-1948), Bs. As., Losada, 1948.
  • Coplas de Juan Panadero. (Libro I), Montevideo, Pueblos Unidos, 1949 (2ª edición ampliada). Dibujos de Toño Salazar.
  • Buenos Aires en tinta china, Bs. As., Losada, 1952. Dibujos de Attilio Rossi.
  • Retornos de lo vivo lejano, Bs. As., 1952.
  • A la pintura (1945-1952) 2ª edic. aumentada, Bs. As., Losada, 1953.
  • Oda marítima seguido de Baladas y canciones del Paraná (1953), Bs. As., Losada, 1953.
  • Balada y canciones del Paraná, Bs. As., Losada, 1954.
  • Sonríe China, Bs. As., Jacobo Muchnik, 1958 (en colaboración con María Teresa León).
  • Poemas escénicos, Bs. As., Losada, 1962 (2ª edic. ampliada y bilingüe español/italiano).
  • Abierto a todas horas, M., Afrodisio Aguado, 1964.
  • El poeta en la calle (1931-1965), París, Librairie du Globe, 1966 (Recopilación de toda la poesía social de Alberti).
  • Il mattatore, Roma, Eutro edit, 1966.
  • A la pintura. Poema del color y la línea (1945-1967) 3ª edic. aumentada, M., Aguilar, 1968 (Prólogo de Vicente Aleixandre).
  • Roma, peligro para caminantes, México, Joaquín Mortiz, 1968 (2ª edición aumentada- Málaga- Litoral- 1974).
  • Los 8 nombres de Picasso y no digo más que lo que no digo, B., Kairós, 1970.
  • Canciones del Alto Valle del Aniene, Bs. As., Losada, 1972.
  • Disprezzo e meraviglia (Desprecio y maravilla), Roma, Riuniti, 1972 (Bilingüe italiano-español. Antología con poemas inéditos).
  • Maravillas con variaciones acrósticas en el jardín de Miró, B., Polígrafa, 1975.
  • Coplas de Juan Panadero (1949-1977), M., Mayoría, 1977.
  • Cuaderno de Rute (1925), Málaga, Litoral, 1977.
  • Los 5 destacagados, Sevilla, Calle del Aire, 1978.
  • Fustigada luz, B., Seix Barral, 1980.
  • Versos sueltos de cada día, B., Seix Barral, 1982.
  • Golfo de Sombras, M., Villamonte, 1986.
  • Los hijos del drago y otros poemas, Granada, Diputación, 1986.
  • Accidente. Poemas del Hospital, Málaga, Librería Anticuaria El Guadalhorce, 1987.
  • Cuatro canciones, Málaga, Librería Anticuaria El Guadalhorce, 1987.
  • El aburrimiento, 1988.
  • Canciones para Altair, M., Hiperión, 1989.

Một số bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Rafael Alberti
Người bị thương
 
- Hãy tặng anh chiếc khăn nào, em gái
Để anh đem buộc vết thương…
- Em biết chọn cho anh khăn nào vậy
Màu nghệ tây hay màu hồng?
 
- Màu nào cũng được. Ngực anh máu đỏ.
Máu thành tia đang chảy xuống tay anh.
Nhưng con tim của mình, em hãy nhớ
Đem thêu vào từng góc của trái tim.
 
Khi tôi rời La Mã
 
Khi tôi rời La Mã
Ai còn nhớ đến tôi?
 
Hãy hỏi về điều này
Những chó hoang đi lạc
Những con mèo lắt lay
Va cả đôi giày rách.
Bạn hãy hỏi để biết
Những con quạ ngồi không
Những con mèo đã chết
Và cửa sổ đóng băng.
 
Bạn hãy hỏi ngọn gió –
Là hàng xóm của tôi
Và hỏi những nhà cửa
Không hề có trên đời
 
Hãy hỏi sông Tiber
Đang viết rất vất vả
Những bút danh của tôi
Dưới mỗi cây cầu đó.
 
Khi tôi rời La Ma
Hãy hỏi chúng về tôi.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]