Rối loạn tăng động giảm chú ý

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Rối loạn tăng động giảm chú ý
Phân loại và tư liệu bên ngoài
ICD-10 F90.
ICD-9 314.00, 314.01
OMIM 143465
DiseasesDB 6158
MedlinePlus 001551
eMedicine med/3103 ped/177
MeSH D001289

Rối loạn tăng động giảm chú ý (tiếng Anh: Attention-deficit hyperactivity disorder-ADHD) là một trong những rối loạn phát triển thường gặp ở trẻ em, đặc điểm chung của ADHD là những hành vi hiếu động quá mức đi kèm sự suy giảm khả năng chú ý. Căn bệnh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng học tập và gây khó khăn trong quan hệ với mọi người. Theo thống kê cứ 100 trẻ thì có từ 3 đến 5 trẻ mắc rối loạn này với một số triệu chứng bắt đầu trước tuổi lên 7[1]. Tỷ lệ trên toàn cầu cho trẻ em vào khoảng 5% và thay đổi trong biên độ tương đối rộng do còn tùy thuộc vào phương pháp tiến hành trong nghiên cứu[2]. Lứa tuổi hay mắc là từ 8 đến 11, trẻ trai có khả năng mắc cao gấp 3 lần trẻ gái, khi trưởng thành bệnh có xu hướng giảm, ở tuổi 20 tỉ lệ mắc còn chừng 1% và ở tuổi trung niên là 0,5%[3].Còn ở Việt Nam theo một nghiên cứu tương đối quy mô trên 1.594 học sinh ở hai trường tiểu học tại Hà Nội cho thấy tỷ lệ mắc bệnh là 3,01% [4].

Tiêu chuẩn chẩn đoán[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM[1][5]:

I. Có tiêu chuẩn A hoặc B

A. Tồn tại ít nhất 6 triệu chứng giảm chú ý trong thời gian tối thiểu là 6 tháng, đến độ không thích nghi và không phù hợp với trình độ phát triển:

  1. Thường không thể tập trung chú ý nhiều vào các chi tiết hoặc phạm phải những lỗi lầm do bất cẩn trong học tập, làm việc hoặc trong các hoạt động khác.
  2. Thường khó khăn trong việc duy trì khả năng chú ý trong công việc hoặc vui chơi.
  3. Thường có vẻ không lắng nghe người khác khi nói chuyện trực tiếp.
  4. Thường không tuân theo những hướng dẫn hoặc không thể hoàn tất bài vở ở trường, công việc nhà, hoặc các trách nhiệm nơi làm việc (không phải do hành vi chống đối hoặc không có khả năng hiểu hướng dẫn).
  5. Thường khó khăn khi tiến hành các hoạt động cần tính tổ chức.
  6. Thường né tránh, không thích, hoặc miễn cưỡng tham gia các công việc đòi hỏi sự cố gắng tinh thần trong thời gian dài (như làm bài tập ở trường hoặc bài tập về nhà).
  7. Thường để thất lạc những vật dụng cần để làm việc hoặc vui chơi (đồ chơi, dụng cụ học tập, bút chì, sách vở).
  8. Thường dễ dàng bị phân tâm bởi các kích thích bên ngoài.
  9. Thường quên làm các công việc hằng ngày.

B.Tồn tại ít nhất 6 triệu chứng tăng động-bồng bột trong thời gian ít nhất là 6 tháng, đến độ không thích nghi và không phù hợp với trình độ phát triển:

  • Tăng động:
  1. Tay chân ngọ nguậy, hay vặn vẹo khi ngồi.
  2. Thường rời bỏ chỗ ngồi trong các tình huống đòi hỏi phải ngồi yên.
  3. Thường chạy nhảy hoặc leo trèo quá mức trong những tình huống không thích hợp (ở thiếu niên và người lớn, điều này có thể giới hạn ở mức họ cảm giác bồn chồn).
  4. Thường khó tham gia những trò chơi hoặc hoạt động giải trí chỉ cần các hoạt động nhẹ nhàng.
  5. Thường luôn di chuyển hoặc hành động như thể "đang lái môtô".
  6. Thường nói quá nhiều.
  • Bồng bột:
  1. Thường buột miệng trả lời khi người khác chưa hỏi xong.
  2. Thường khó chờ đợi đến lượt mình.
  3. Thường làm gián đoạn hoặc quấy rầy người khác (xen vào các cuộc nói chuyện hoặc các trò chơi).

II. Một số triệu chứng tăng động - bồng bột hoặc triệu chứng giảm chú ý gây ra suy giảm chức năng xuất hiện trước 7 tuổi.

III. Tình trạng giảm chức năng do các triệu chứng này được thấy hiện diện trong ít nhất 2 môi trường khác nhau (ở trường, ở nơi làm việc, hoặc ở nhà).

IV. Phải có bằng chứng rõ ràng về tình trạng suy giảm chức năng đáng kể về các mặt xã hội, học tập và công việc.

V.Các triệu chứng không xảy ra đồng thời với rối loạn phát triển lan tỏa, tâm thần phân liệt. Các triệu chứng cũng không được phù hợp hơn với các rối loạn tinh thần khác như rối loạn khí sắc, rối loạn lo âu, rối loạn nhân cách.

Triệu chứng giảm chú ý, tăng động, bồng bột liên quan đến việc sử dụng thuốc (như thuốc giãn phế quản, isoniazide, akathisia lấy từ các neuroleptics) ở những trẻ dưới 7 tuổi không được chẩn đoán là ADHD, thay vào đó nên được chẩn đoán là các rối loạn liên quan hóa chất không đặc hiệu (other substance-related disorders not otherwise specified).

Các phân nhóm[sửa | sửa mã nguồn]

Đa số người có rối loạn này thể hiện đồng thời cả triệu chứng tăng động và giảm chú ý, nhưng một số khác lại trội hơn mặt nào đó, để chi tiết, các nhà chuyên môn phân ra làm 3 loại dựa trên biểu hiện trội trong thời gian 6 tháng qua[1]:

  • 314.04 Rối loạn tăng động giảm chú ý - Dạng phối hợp: Nếu có ít nhất 6 triệu chứng giảm chú ý hoặc ít nhất 6 triệu chứng tăng động bồng bột tồn tại trong một thời gian ít nhất là 6 tháng. Hầu hết những trẻ em và thiếu niên có rối loạn này đều thuộc dạng phối hợp. Người ta chưa biết ở người lớn có tình trạng tương tự như vậy hay không.
  • 314.00 Rối loạn tăng động giảm chú ý - Dạng trội về giảm chú ý: Nếu có ít nhất 6 triệu chứng giảm chú ý nhưng lại phải có chưa đến 6 triệu chứng về tăng động bồng bột tồn tại trong một thời gian ít nhất là 6 tháng.
  • 314.01 Rối loạn tăng động giảm chú ý - Dạng trội về tăng động bồng bột: Nếu có ít nhất 6 triệu chứng về tăng động bồng bột nhưng lại phải có chưa đến 6 triệu chứng về giảm chú ý tồn tại trong thời gian ít nhất là 6 tháng. Sự giảm chú ý có thể vẫn còn là một đặc tính lâm sàng rõ rệt trong những trường hợp như thế.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nếu các triệu chứng lâm sàng vẫn tồn tại nhưng không thỏa mãn đầy đủ những tiêu chuẩn chẩn đoán (thời gian trước đó người bệnh vẫn thỏa mãn), việc định bệnh thích hợp trong trường hợp này là rối loạn tăng động giảm chú ý - dạng thuyên giảm một phần (ADHD, In partial remission).
  • Nếu các triệu chứng của người bệnh không thỏa mãn đầy đủ các tiêu chuẩn để chẩn đoán loại rối loạn này và không rõ là các tiêu chuẩn này trước đó có được thỏa mãn hay không, nên chẩn đoán là ADHD không đặc hiệu (ADHD not otherwise specified)[1].

Trợ giúp Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Một số bệnh viện tâm thần lớn trong cả nước, cũng như địa chỉ để có thể liên hệ chữa trị:

  • Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia - 78, Giải Phóng, Phương Mai, Quận Đống Đa, TP.Hà Nội, web: http://www.nimh.gov.vn
  • Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương - Số 4, Phố Hồng Mai, Quận Hai Bà Trưng - TP.Hà Nội, web: http://www.maihuong.gov.vn
  • Khoa Tâm thần, Bệnh viện Quân y 103 - nằm trên đường 70, Hà Đông, TP.Hà Nội
  • Bệnh viện Tâm thần Tiền Giang - Xã Nhị Bình, Huyện Châu Thành, Tỉnh Tiền Giang, web: http://www.bvtamthantg.org.vn
  • Bệnh viện Tâm thần Tp.Hồ Chí Minh - 192 Hàm Tử, p.1, Quận 5, TP.Hồ Chí Minh, web: http://www.bvtt-tphcm.org.vn
  • Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 - Xã Hoà Bình, Huyện Thường Tín, TP.Hà Nội
  • Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 - Biên Hòa, Đồng Nai, web: http://www.nmh2.gov.vn

Ngoài ra người bệnh có thể nhận tham vấn tâm lý (tư vấn tâm lý) ở các cơ quan, tổ chức có năng lực khác

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Rối loạn tăng động giảm chú ý BS.Nguyễn Minh Tiến dịch Theo Diagnostic And Statistical Manual of Mental Disorders, 4th Edition - DSM-IV
  2. ^ Polanczyk G, de Lima MS, Horta BL, Biederman J, Rohde LA (2007). “The worldwide prevalence of ADHD: a systematic review and metaregression analysis”. Am J Psychiatry 164 (6): 942–8. doi:10.1176/appi.ajp.164.6.942. PMID 17541055. 
  3. ^ Rối loạn tăng động giảm chú ý (Attention dificit hyperactivity disorder- ADHD) BS Ngô Văn Lương Khoa Tâm Thần BVTW Huế
  4. ^ Trích trong Hội thảo can thiệp và phòng ngừa các vấn đề sức khỏe tinh thần trẻ em Việt Nam Thực trạng rối loạn tăng động giảm chú ý ở hai trường tiểu học tại Hà Nội, nghiên cứu: Nguyễn Thị Vân Thanh-Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc GiaNguyễn Sinh Phúc-Bệnh viện 103 Học viện Quân y
  5. ^ Diagnostic criteria for Attention-Deficit/Hyperactivity Disorder