Bệnh Alzheimer

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bệnh Alzheimer
Phân loại và tư liệu bên ngoài
So sánh não ở một người lớn tuổi bình thường (trái) và một bệnh nhân Alzheimer. Điểm khác biệt được đánh dấu.
ICD-10 G30, F00
ICD-9 331.0, 290.1
OMIM 104300
DiseasesDB 490
MedlinePlus 000760
eMedicine neuro/13
MeSH D000544
GeneReviews [1]

Bệnh Alzheimer (AD, SDAT) hay đơn giản là Alzheimer là một chứng mất trí phổ biến nhất. Vào năm 1906, lần đầu tiên bác sĩ tâm thần và thần kinh học người Đức Alois Alzheimer đã chỉ ra căn bệnh này không thể chữa được, mang tính thoái hóa và gây tử vong. Căn bệnh này được đặt theo tên ông. Năm 1901, Alois Alzheimer trình bày trường hợp của bệnh nhân tên Auguste D, 50 tuổi, bị mất trí.[1] Trong thế kỷ 20, từ "bệnh Alzheimer" thường chỉ dùng để định bệnh cho những người mất trí tuổi 45 đến 65 ("lẫn trước khi già", "lẫn sớm"). Những người lớn tuổi hơn mà bị mất trí được coi như là chuyện thông thường, do tuổi cao làm "não bộ tê cứng". Trong những năm 1970 - 1985 khoa học nhận thấy người mất trí ở các lứa tuổi khác nhau lại có triệu chứng lâm sàng giống nhau.[2] Bệnh này thường xuất hiện ở người trên 65 tuổi,[2] tuy nhiên dạng Alzheimer sớm dù không phổ biến nhưng có thể xảy ra sớm hơn rất nhiều. Năm 2006 có 26,6 triệu người mắc bệnh Alzheimer trên toàn thế giới. Dự đoán tỉ lệ mắc Alzheimer trên thế giới sẽ là 1 trên 85 vào năm 2050.

Mặc dù các ca bệnh Alzheimer có đặc điểm riêng biệt đối với mỗi cá nhân, tuy nhiên có nhiều triệu chứng tương đồng xuất hiện sớm nhưng khi quan sát thường nhầm lẫn với các bệnh 'liên quan đến tuổi già', hoặc biểu hiện của stress.[3] Trong giai đoạn đầu, triệu chứng phổ biến nhất được công nhận là không có khả năng để nhớ được việc vừa xảy ra. Khi nghi ngờ mắc bệnh Alzheimer, chẩn đoán thường được thực hiện bằng cách đánh giá hành vi và kiểm tra nhận thức, có thể kèm theo chụp cắt lớp não.[4]

Khi bệnh tiến triển, các triệu chứng bao gồm sự nhầm lẫn, khó chịu, thay đổi tâm trạng, mất khả năng phân tích ngôn ngữ, mất trí nhớ dài hạn, suy giảm các giác quan. Dần dần, cơ thể sẽ mất đi một số chức năng, cuối cùng dẫn đến cái chết. Bệnh Alzheimer có thể phát triển tiềm tàng trong 1 thời gian dài trước khi xuất hiện những triệu chứng có thể phát hiện được bệnh. Thông thường khi các triệu chứng này bộc lộ, thì người bệnh chỉ có thể sống được khoảng 7 năm, dưới 3% bệnh nhân sống thọ thêm 14 năm sau khi phát hiện bệnh.[3][5][6][7][8]

Hiện nay khoa học vẫn chưa hiểu rõ nguyên nhân và tiến triển của bệnh Alzheimer. Nghiên cứu cho thấy căn bệnh này có liên quan với các mảng và đám rối trong não.[9] Các phương pháp điều trị hiện tại chỉ giúp giảm một phần nhỏ triệu chứng bệnh, chưa có phương pháp trị liệu nào có thể ngăn chặn hoặc làm chậm tiến triển của bệnh.[10] Tính tới thời điểm 2008, đã có hơn 500 thử nghiệm lâm sàng nhằm tìm ra phương pháp chữa trị bệnh Alzheimer, nhưng vẫn chưa biết có kết quả nào khả quan trong các phương pháp đã được thử nghiệm.[10] Một số thói quen sống đã được đưa ra khuyến cáo nhằm phòng ngừa bệnh Alzheimer, nhưng cũng chưa có đủ chứng cớ cho thấy những khuyến cáo này có thể làm giảm sự thoái hóa não. Các kích thích thần kinh, thể dục, và một chế độ ăn cân đối đã được khuyến cáo nhằm phòng ngừa cũng như một cách để hỗ trợ điều trị bệnh.[11]

Vì bệnh không thể chữa khỏi cho nên người bệnh phải được chăm sóc bởi những người thân trong gia đình.[12] Đây quả thực là những áp lực rất lớn về mặt xã hội, tâm lý, sức khỏe, kinh tế đối với cuộc sống của những người chăm sóc.[13][14][15] Ở các nước phát triển, Alzheimer là một trong những bệnh tốn kém nhất cho xã hội.[13][14][15]

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Bệnh được chia thành bốn giai đoạn, với những thay đổi nhận thứcsuy yếu các chức năng.

Giai đoạn trước khi mất trí nhớ[sửa | sửa mã nguồn]

Các triệu chứng đầu tiên thường bị nhầm lẫn là có liên quan đến lão hóa hoặc stress.[3] Các kiểm tra tâm lý kỹ lưỡng có thể cho thấy những khó khăn nhỏ trong nhận thức có thể xảy ra từ tối đa 8 năm trước khi bệnh nhân có đầy đủ triệu chứng để được chẩn đoán là mắc bệnh Alzheimer.[16] Những triệu chứng sớm có thể ảnh hưởng đến những sinh hoạt hàng ngày phức tạp nhất.[17] Đáng chú ý nhất là giảm trí nhớ như khó khăn trong việc nhớ các sự kiện gần đây đã học được và không có khả năng để tiếp thu các thông tin mới.[16][18]

Một số triệu chứng thoáng qua với các chức năng điều hành não bộ về sự chú tâm, khả năng lập kế hoạch, tính linh hoạt, và tư duy trừu tượng, hoặc suy yếu trong bộ nhớ dữ liệu (semantic memory - bộ nhớ của ý nghĩa và mối quan hệ giữa các khái niệm) có thể thấy trong giai đoạn sớm của bệnh Alzheimer.[19] Sự thờ ơ cũng có thể thấy ở giai đoạn này, đồng thời cũng là đặc điểm thần kinh - tâm lý học kéo dài suốt quá trình tiến triển bệnh.[19] Giai đoạn tiền lâm sàng của bệnh còn được gọi là suy giảm nhận thức nhẹ,[18] nhưng liệu cách gọi đó có đúng cho các giai đoạn chẩn đoán khác hay việc xác định bước đầu tiên của bệnh Alzheimer hay không thì vẫn còn đang được tranh cãi.[20]

Giai đoạn nhẹ[sửa | sửa mã nguồn]

Ở bệnh nhân Alzheimer, sự suy giảm ngày càng tăng về trí nhớ và khả năng học hỏi là yếu tố để chẩn đoán xác định bệnh. Ở một phần nhỏ bệnh nhân, triệu chứng khó khăn về ngôn ngữ, khó khăn về chức năng điều hành, nhận thức (agnosia), hoặc chức năng thực hiện các hoạt động (apraxia) biểu hiện rõ hơn là suy giảm trí nhớ.[21] Bệnh không ảnh hưởng đến tất cả các chức năng ký ức đồng đều nhau. Những kỷ niệm xưa, những điều đã được học (ngữ nghĩa, khái niệm…), và tiềm thức (trí nhớ về cách làm một số việc, ví dụ như cách dùng dĩa để ăn) bị ảnh hưởng ở một mức độ ít hơn những sự kiện vừa mới diễn ra.[22][23]

Những vấn đề về ngôn ngữ chủ yếu là giảm vốn từ vựng và giảm sự lưu loát, dẫn đến suy giảm khả năng ngôn ngữ nói và viết.[21][24] Trong giai đoạn này, người bệnh Alzheimer vẫn có khả năng giao tiếp cơ bản.[21][24][25]. Mặc dù họ vẫn thực hiện được các chức năng vận động như viết, vẽ hoặc mặc quần áo, nhưng một số khó khăn bắt đầu xuất hiện trong việc phối hợp cử động và lên kế hoạch, song những biểu hiện đó thường không được để ý tới.[21] Khi bệnh tiến triển, bệnh nhân thường vẫn có thể tự làm được nhiều việc, nhưng có thể cần giúp đỡ hoặc giám sát khi thực hiện các chức năng cần suy nghĩ.[21]

Giai đoạn khá nặng[sửa | sửa mã nguồn]

Sự thoái hóa tiến triển dẫn đến giảm khả năng tự lập, người bệnh mất dần khả năng thực hiện những vận động sinh hoạt hàng ngày.[21] Khó khăn về ngôn ngữ rõ ràng hơn với những biểu hiện như không thể nhớ từ vựng, dẫn đến việc thường xuyên dùng sai từ thay thế (paraphasia). Khả năng đọc viết cũng mất dần.[21][25] Khả năng phối hợp những chuỗi cử động phức tạp cũng giảm dần theo thời gian bệnh tiến triển, vì thế nên khả năng bị ngã cũng tăng lên.[21] Trong giai đoạn này, các vấn đề ký ức trở nên kém dần đi, bệnh nhân có thể không nhận ra những người thân.[21] Trí nhớ dài hạn cũng bị giảm dần, dù trong giai đoạn trước vẫn còn chưa bị ảnh hưởng.[21]

Thay đổi trong hành vi và tâm lý cũng rõ hơn. Những biểu hiện thường gặp là đi lang thang, khó chịu và bất ổn, dẫn đến khóc, bùng nổ hoặc hung hăng một cách không chủ định, hoặc phản kháng lại sự chăm sóc của người thân.[21] Hội chứng thay đổi tính khí lúc hoàng hôn có thể xuất hiện.[26] Khoảng 30% bệnh nhân bị ảo giác.[21] Bệnh nhân cũng không nhận thức được bệnh tình của bản thân mình[21] và mất kiểm soát chức năng tiêu tiểu.[21] Những triệu chứng này gây stress cho người thân hoặc người chăm sóc bệnh nhân. Điều đó có thể giảm bớt nếu thay việc chăm sóc bệnh nhân tại nhà bằng việc chuyển bệnh nhân đến các cơ sở điều dưỡng dài hạn.[21][27]

Giai đoạn nặng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong giai đoạn cuối, bệnh nhân hoàn toàn phụ thuộc vào người chăm sóc.[21] Ngôn ngữ giảm thiểu chỉ còn các cụm từ đơn giản hoặc thậm chí là những từ đơn lẻ, cuối cùng dẫn đến hoàn toàn mất tiếng nói.[21][25] Dù đã mất khả năng ngôn ngữ bằng lời nói, bệnh nhân thường có thể hiểu và đáp lại các tín hiệu cảm xúc.[21] Mặc dù sự hung hăng còn xuất hiện, nhưng sự thờ ơkiệt sức hoàn toàn vẫn biểu hiện nhiều hơn.[21] Bệnh nhân cuối cùng không thể thực hiện ngay cả những công việc đơn giản nhất mà không cần trợ giúp.[21] Việc thoái hóa các khối và cử động dẫn đến việc người bệnh phải nằm liệt giường và mất khả năng tự ăn uống.[21] Người bệnh Alzheimer sau đó thường sẽ chết bởi các tác nhân bên ngoài như nhiễm trùng các vết loét do nằm lâu ngày, viêm phổi... chứ không phải do bản thân bệnh.[21]

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà khoa học đã đưa ra một số giả thuyết để giải thích nguyên nhân của bệnh này. Giả thuyết cổ điển nhất là giả thuyết về hệ thống truyền đạt thần kinh bằng acetylcholin (cholinergic),[28] giả thuyết này là cơ sở cho đa số các loại thuốc điều trị hiện nay. Nó đề xuất rằng bệnh Alzheimer là do giảm tổng hợp của chất truyền đạt thần kinh acetylcholin. Tuy nhiên giả thuyết cholinergic đã không được ủng hộ gần đây, chủ yếu vì thuốc dùng để điều trị thiếu hụt acetylcholine thực sự không có hiệu quả đối với bệnh nhân. Các hiệu ứng liên quan đế hệ thống truyền đạt thần kinh bằng acetylcholin khác cũng được đề xuất, như việc tích tụ số lượng lớn các amyloid,[29] dẫn đến việc viêm thần kinh lan dần.[30]

Năm 1991, giả thuyết amyloid cho rằng sự tích tụ của amyloid beta (Aβ) là nguyên nhân cơ bản của bệnh.[31][32] Một cơ sở ủng hộ giả thuyết này là do vị trí của gen sản xuất protein tiền chất amyloid (APP) nằm trên nhiễm sắc thể 21 trong khi những người mắc hội chứng Down (có 3 nhiễm sắc thể 21) tức là có thêm 1 phiên bản của gen APP thì hầu hết đều mắc bệnh Alzheirmer ở độ tuổi trên 40.[33][34] Đồng thời, đột biến gen APOE4, một yếu tố nguy cơ di truyền của bệnh Alzheimer, gây ra việc tích tụ quá nhiều amyloid trong não trước khi có các biểu hiện của bệnh Alzheimer xuất hiện. Vì vậy sự tích tụ Aβ luôn có trước các biểu hiện bệnh Alzheimer trên lâm sàng.[35] Một bằng chứng nữa là ở chuột bị biến đổi gen để biểu hiện 1 dạng đột biến của gen APP ở người đã cho thấy có các đám rối sợi amyloid và các bệnh lý của não tương tự trong bệnh Alzheimer như sự suy giảm khả năng học hỏi về không gian.[36]

Một loại vắc-xin thử nghiệm đã cho thấy khả năng loại bỏ các mảng rối amyloid trong 1 giai đoạn thử nghiệm lâm sàng sớm trên con người, nhưng nó không có tác động đáng kể đến việc mất trí nhớ.[37] Các nhà nghiên cứu đã dẫn đến nghi ngờ những đoạn Aβ ngắn - tập hợp của một số đơn phân Aβ (không phải dạng mảng) là dạng Aβ gây bệnh chủ yếu. Những đoạn ngắn này có độc tính, còn được gọi là phối tử có nguồn gốc amyloid khuếch tán được (amyloid-derived diffusible ligands (ADDLs)). Chúng liên kết với thụ thể bề mặt của nơ-ron thần kinh và thay đổi cấu trúc của khớp thần kinh (xy-náp thần kinh), do đó ngăn cản dẫn truyền tín hiệu thần kinh.[38] Một thụ thể của Aβ có thể là protein prion, cùng loại protein có liên quan đến bệnh bò điên và 1 bệnh tương tự ở người là bệnh Creutzfeldt-Jakob, do đó có sự liên quan giữa các cơ chế của các bệnh thần kinh đó với cơ chế của bệnh Alzheimer.[39]

Trong năm 2009, lý thuyết này đã được cập nhật rằng một họ hàng gần của protein amyloid beta (không nhất thiết phải là chính amyloid beta) có thể là thủ phạm chính trong căn bệnh này. Lý thuyết này cho rằng một cơ chế liên quan với amyloid - có tác dụng cắt bỏ bớt các cầu nối thần kinh trong não bộ trong giai đoạn phát triển nhanh chóng ở trẻ con - có thể bị kích hoạt bởi quá trình lão hóa sau này, làm mất dần tế bào thần kinh ở bệnh Alzheimer.[40] N-APP, một đoạn ở phía đầu amine của protein APP, nằm cạnh đoạn amyloid beta và được cắt bỏ khỏi APP bởi cùng 1 loại enzyme. N-APP kích hoạt chuỗi phản ứng tự hủy bằng cách bám vào một thụ thể thần kinh gọi là thụ thể chết 6 (DR6, hay còn gọi là TNFRSF21).[40] DR6 được biểu hiện nhiều ở những vùng não bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi bệnh Alzheimer, vì vậy rất có thể chuỗi phản ứng N-APP/DR6 của quá trình lão hóa của não đã bị kích hoạt để gây bệnh. Trong mô hình này, amyloid beta đóng vai trò bổ sung, bằng cách làm giảm chức năng xy-náp.

Một nghiên cứu vào năm 2004 đã thấy rằng sự tích tụ các mảng amyloid không tương quan nhiều lắm với việc mất các nơ-ron.[41] Nghiên cứu đó hỗ trợ cho giả thuyết tau là các thể bất thường của protein tau khởi đầu cho chuỗi phản ứng gây bệnh.[32] Trong mô hình này, các protein tau bị photphorylate hóa quá nhiều sẽ bắt cặp với các sợi tau khác. Cuối cùng, chúng hình thành các đám rối sợi thần kinh (neurofibrillary tangles) bên trong thân tế bào thần kinh.[42] Khi điều đó xảy ra, các vi ống tế bào (microtubule - là thành phần cấu tạo của khung xương tế bào) bị tan rã, làm hỏng hệ thống vận chuyển của nơ ron.[43] Điều này đầu tiên sẽ làm hỏng các chức năng liên lạc hóa sinh giữa các nơ-ron và sau đó gây chết tế bào.[44] Virus Herpes simplex loại 1 cũng được cho là một nguyên nhân gây bệnh ở những người mạng gen apoE nhạy cảm với virus này.[45]

Một giả thuyết khác xác nhận rằng bệnh này là do sự phá hủy myelin trong não do lão hóa. Sự mất mát myelin dẫn đến giảm khả năng dẫn truyền trong trục thần kinh (axon), vì thế mất dần các nơ ron già cũ. Quá trình phân hủy myelin thải ra sắt cũng góp phần gây phá hủy thêm thần kinh. Quá trình sửa chữa myelin trong cân bằng nội môi góp phần vào sự tích tụ protein như các protein amyloid beta và tau.[46][47][48]

Ứng kích ôxi hóa cũng là một nguyên nhân đáng kể trong việc hình thành bệnh.[49]

Các bệnh nhân AD cho thấy 70% bị giảm mất tế bào ở nhân lục (locus coeruleus), nơi sản sinh ra hooc môn norepinephrine (ngoài chức năng là 1 chất truyền đạt thần kinh) thường khuếch tán ở những chỗ giãn mạch như một chất kháng viêm nội sinh trong môi trường xung quanh nơ-ron, tế bào thần kinh đệm và các mạch máu trong các vùng vỏ não mới và hồi hải mã.[50] Các nghiên cứu đã cho thấy rằng norepinephrine kích thích các tế bào thần kinh đệm microglia ở chuột ngăn chặn sự sản xuất các cytokine do tác dụng của Aβ và sự thực bào của Aβ.[50] Điều đó cho thấy sự suy giảm nhân lục có thể là một nguyên nhân gây tăng sự tích tụ Aβ trong não bệnh nhân Alzheimer.[50]

Sinh lý bệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh của mô bệnh học hiển thị mảng vỏ não của một bệnh nhân Alzheimer khi bắt đầu giai đoạn tiền lão hóa. Hình ảnh nhuộm bạc.

Bệnh học thần kinh[sửa | sửa mã nguồn]

Bệnh Alzheimer đặc trưng bởi việc mất dần nơ ronxy-náp thần kinh trong vỏ não và một số vùng dưới vỏ não. Sự mất mát này dẫn đến chứng teo vùng bị ảnh hưởng, bao gồm thoái hóa thuỳ thái dươngthùy đỉnh, và một phần của thùy tránhồi đai.[30]. Các nghiên cứu dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ (MRI) và chụp positron cắt lớp (PET) đã cho thấy sự giảm kích cỡ não ở một số vùng nhất định ở bệnh nhân khi họ tiến triển từ suy giảm trí nhớ vừa sang giai đoạn bệnh Alzheimer và khi đem so sánh với hình ảnh của những người già bình thường.[51]

Có thể thấy cả các mảng amyloid (amyloid plaque) và đám rối sợi thần kinh (neurofibrillary tangle) ở hình ảnh hiển vi của não bệnh nhân AD.[9] Các mảng thường dày đặc, đa số là dạng tích tụ không tan được của các peptide amyloid beta và vật chất trong tế bào nằm bên ngoài và bao quanh các nơ-ron. Các đám rối (đám rối sợi thần kinh) là sự tích tụ của các protein tau có liên quan đến vi ống (microtubule) đã bị photphorylate hóa quá nhiều và đọng lại trong các tế bào. Mặc dù có nhiều người già có hình thành các mảng và đám rối do quá trình lão hóa, não của bệnh nhân AD thường có số lượng các mảng và đám rối nhiều hơn ở những vùng não nhất định, ví dụ như thùy thái dương.[52] Thể Lewy (Lewy body) cũng không hiếm gặp ở trong não bệnh nhân AD.[53]

Sinh hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Enzyme tác động lên APP (protein tiền chất của amyloid) và cắt nó ra thành các mảnh. Mảnh amyloid beta đóng vài trò quan trọng trong việc hình thành các mảng lão hóa ở bệnh AD.

Bệnh Alzheimer đã được xác định là một bệnh liên quan đến sự gấp cuộn protein (bệnh về protein), do sự tích tụ các protein amyloid beta và protein tau gấp cuộn sai trong não.[54] Các mảng được tạo thành từ một loại peptide nhỏ, dài từ 39–43 axit amin, gọi là amyloid beta (hay là A-beta hoặc Aβ). Amyloid beta là một đoạn của một loại protein lớn hơn gọi là protein tiền chất của amyloid (APP), một protein xuyên màng (transmembrane protein) nằm xuyên qua màng tế bào của nơ-ron. APP rất quan trọng cho quá trình phát triển, tồn tại và sửa chữa của nơ-ron.[55][56] Ở bệnh Alzheimer, một quá trình chưa được hiểu rõ làm cho APP bị chia thành các phần nhỏ hơn bởi enzym trong quá trình phân hủy (proteolysis).[57] Một trong các đoạn đó tạo ra các sợi amyloid beta, và tạo nên các cụm tích tụ bên ngoài nơ-ron dưới dạng dày đặc gọi là mảng lão hóa (senile plaques).[9][58]

Ở Bệnh Alzheimer, thay đổi cấu trúc protein tau làm tan rã các vi ống trong tế bào não.

AD còn được coi là bệnh do protein tau (tauopathy) do sự tích tụ bất thường của protein tau. Mỗi tế bào nơ-ron đều có một bộ khung xương tế bào, một cấu trúc đỡ bên trong góp phần tạo nên cấu trúc tế bào gọi là vi ống (microtubule). Các vi ống này hoạt động như các loại đường ống dẫn cho các chất dinh dưỡng và phân tử từ thân tế bào đến đầu kia của trục axon và quay ngược trở lại. Một protein gọi là tau giúp ổn định cấu trúc vi ống khi được photphorylate hóa, và vì thế được gọi là protein liên hệ với vi ống. Ở bệnh Alzheimer, tau bị thay đổi về mặt hóa học, trở nên photphorylate hóa quá nhiều; nó bắt cặp với các sợi khác, tạo thành các đám rối sợi thần kinh và làm tan rã hệ thống vận chuyển của nơ-ron.[59]

Cơ chế bệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Người ta vẫn chưa biết chính xác sự biến đổi trong việc sản xuất và tích tụ peptide amyloid beta đến mức độ nào thì gây ra bệnh Alzheimer.[60] Giả thuyết về amyloid chỉ ra sự tích tụ của peptide amyloid beta là sự kiện trọng tâm kích hoạt việc thoái hóa nơ ron. Sự tích tụ của các vi sợi (fibril) amyloid, được coi là dạng có độc tố làm ngăn cản cân bằng ion canxi trong tế bào, kích hoạt sự chết tế bào theo chương trình (apoptosis).[61] Đồng thời, Aβ cũng tích tụ nhiều hơn trong ti thể ở tế bào của não bệnh nhân Alzheimer, và nó cũng ức chế chức năng của một số enzym và việc sử dụng glucose trong nơ ron.[62]

Một số quá trình viêm và các cytokine có thể đóng vai trò trong bệnh học của AD. Viêm là dấu hiệu chung của việc hủy hoại ở bất cứ bệnh nào, và có thể là quá trình thứ cấp sau khi mô bị hủy hoại hoặc là 1 dấu hiệu của đáp ứng miễn dịch với bệnh.[63]

Sự thay đổi trong việc phân bổ các neurotrophin (chất điều hòa sự sống, phát triển và chức năng của nơ-ron) và trong việc biểu hiện các thụ thể của chúng ví dụ như chất neurotrophin thu được từ não (brain derived neurotrophic factor - BDNF) cũng đã được mô tả trong bệnh Alzheimer.[64][65]

Di truyền[sửa | sửa mã nguồn]

Đa số các ca bệnh Alzheimer đều là ngẫu nhiên (sporadic), nghĩa là nhìn chung họ không bị di truyền mặc dù có 1 số gen là yếu tố nguy cơ của bệnh. Mặt khác, khoảng 0.1% là do di truyền gen trội và thường bắt đầu mắc bệnh trước tuổi 65.[66]

Đa số các dạng bệnh AD di truyền trội là do đột biến của 1 trong 3 gen: gen protein tiền chất amyloid (APP) và gen của protein presenilin 1 và 2.[67] Đa số các đột biến của gen APP và presenilin làm tăng sự sản xuất một loại protein nhỏ gọi là 42 là thành phần chính của mảng thoái hóa (mảng tích tụ amyloid ngoại bào ở chất xám của não).[68] Một số đột biến chỉ thay đổi tỉ lệ giữa Aβ42 và các dạng Aβ khác, ví dụ như Aβ40, mà không thay đổi mức độ Aβ42.[68][69] Điều đó cho thấy các đột biến presenilin có thể gây bệnh kể cả khi chúng làm giảm tổng số lượng Aβ và vì thế bệnh có thể do một chức năng khác của presenilin hoặc do việc thay đổi chức năng của APP và các phân đoạn của nó chứ không phải do chính bản thân Aβ.

Đa số các ca Alzheimer không biểu hiện di truyền trội và được gọi là AD ngẫu nhiên. Tuy nhiên một số thay đổi gen có thể là yếu tố nguy cơ. Yếu tố nguy cơ được biết rõ nhất là sự di truyền allele ε4 của gen apolipoprotein E (APOE).[70][71] Khoảng 40 đến 80% bệnh nhân có ít nhất 1 allele apoE4.[71] Allele APOE4 làm tăng nguy cơ mắc bệnh lên 3 lần ở thể dị hợp và 15 lần ở thể đồng hợp về allele này.[66] Các nhà di truyền học thống nhất rằng có rất nhiều gen khác là yếu tố nguy cơ hoặc có tác dụng ngăn ngừa sự phát triển của bệnh Alzheimer dạng phát bệnh muộn.[67] Có khoảng 400 gen đã được kiểm tra xem có liên quan đến dạng AD ngẫu nhiên - phát bệnh muộn hay không,[67] đa số đều có kết quả là không liên quan.[66]

Phòng chống[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt động trí tuệ như chơi cờ hoặc tương tác xã hội thường xuyên có liên quan đến giảm nguy cơ AD trong nghiên cứu dịch tễ, mặc dù không có mối quan hệ nhân quả được tìm thấy.

Các nghiên cứu dịch tễ đưa ra kết luận rằng các hoạt động như đánh cờ hoặc những mối tương tác xã hội có khả năng làm giảm nguy cơ mắc bệnh, mặc dù không tìm thấy được mối quan hệ nhân quả nào.[72]

Hiện nay không có bất kỳ một bằng chứng dứt khoát nào hỗ trợ đặc biệt hiệu quả cho các biện pháp ngăn chặn hoặc trì hoãn sự khởi đầu của bệnh, tuy nhiên các nghiên cứu dịch tễ học đã đề xuất mối quan hệ giữa các yếu tố nhất định, chẳng hạn mối liên hệ giữa chế độ ăn uống, nguy cơ tim mạch, các sản phẩm dược phẩm, sản phẩm công nghệ thông tin, với khả năng số bệnh nhân ngày một tăng.[73]

Mặc dù các yếu tố tim mạch, như tăng cholesterol, cao huyết áp, tiểu đường, và hút thuốc lá, được liên kết với một nguy cơ khởi phát và phát triển bệnh Alzheimer, nhưng statin là loại thuốc làm giảm cholesterol vẫn chưa chứng minh được hiệu quả trong việc ngăn ngừa hoặc cải thiện tiến trình phát triển bệnh.[74][75][76][77] Chế độ ăn kiêng của người vùng Địa Trung Hải, trong đó bao gồm trái cây và rau quả, bánh mì, lúa mì và ngũ cốc khác, dầu ô liu, cá, và rượu vang đỏ có thể làm giảm rủi ro mắc bệnh Alzheimer.[78]

Việc sử dụng vitamin không tìm thấy bằng chứng đủ hiệu quả để khuyến cáo trong việc phòng ngừa và chữa trị bệnh: như vitamin C[79], E[79][80], hoặc axit folic, có hoặc không có vitamin B12[81]. Thử nghiệm kiểm tra acid folic (B9) và vitamin B khác không cho thấy bất kỳ liên kết quan trọng với suy giảm nhận thức.[82]

Những người tham gia vào các hoạt động trí tuệ như đọc sách, chơi trò chơi hội đồng, hoàn thành câu đố ô chữ, chơi nhạc cụ, hoặc tương tác xã hội thường xuyên cho thấy giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer.[83][84] Điều này tương thích với các lý thuyết dự trữ nhận thức, trong đó nêu rằng một số kinh nghiệm đời sống cho kết quả hoạt động thần kinh hiệu quả hơn việc cung cấp dự trữ một nhận thức cá nhân trong sự trì hoãn việc khởi đầu của những biểu hiện mất trí nhớ.

Chăm sóc tại nhà[sửa | sửa mã nguồn]

Bệnh Alzheimer không thể chữa trị được và dần dần nó sẽ làm cho người bệnh không có khả năng đáp ứng những nhu cầu riêng của họ, cho nên việc chăm sóc phải được quản lý chặt chẽ trong quá trình của bệnh.

Trong giai đoạn đầu và giữa, sửa đổi môi trường sống và lối sống có thể tăng tính an toàn cho bệnh nhân và giảm gánh nặng cho người chăm sóc. Bệnh nhân có thể không có khả năng tự ăn uống, do đó, yêu cầu thực phẩm được cắt thành từng miếng nhỏ hoặc nghiền. Khi nuốt sẽ rất khó khăn, cho nên phải sử dụng các ống dẫn thức ăn. Trong trường hợp này, hiệu quả y tế và đạo đức của việc nuôi bệnh là một yếu tố quan trọng của những người chăm sóc và các thành viên trong gia đình.

Khi bệnh tiến triển, các vấn đề y tế khác nhau có thể xuất hiện, chẳng hạn như bệnh răng miệng, loét áp lực, suy dinh dưỡng, các vấn đề vệ sinh, da, hô hấp, hoặc nhiễm trùng mắt. Chăm sóc cẩn thận có thể ngăn chặn chúng.

Dịch tễ học[sửa | sửa mã nguồn]

Tỷ lệ người mắc bệnh
sau 65 tuổi
Tuổi Số ca nhiễm bệnh
trong 1000 người/năm
65–69  3
70–74  6
75–79  9
80–84 23
85–89 40
90–     69
Phân bố số người mắc bệnh Alzheimer và các chứng mất trí nhớ khác tính theo mẫu mỗi 100,000 người vào năm 2002.
  no data
  ≤ 50
  50-70
  70-90
  90-110
  110-130
  130-150
  150-170
  170-190
  190-210
  210-230
  230-250
  ≥ 250

Hai biện pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu dịch tễ học: tỷ lệ mắc và tỷ lệ nhiễm. Tỷ lệ mắc là số trường hợp người có nguy cơ nhiễm bệnh mới trên một đơn vị thời gian (thường đơn vị xét trong 1000 người trong 1 năm), trong khi tỷ lệ nhiễm là tổng số các trường hợp mắc bệnh ở bất kỳ thời điểm nào.

Về tỷ lệ mắc, nghiên cứu theo chiều dọc (các nghiên cứu mà một dân số nhiễm bệnh được theo sau trong những năm qua) cung cấp tỉ lệ từ 10 đến 15 người trong 1000 người trong 1 năm, có nghĩa là một nửa số trường hợp mất trí mới phát hiện mỗi năm là mắc bệnh Alzheimer. Tiến độ tuổi là một yếu tố nguy cơ chính cho tỷ lệ mắc bệnh: mỗi 5 năm sau tuổi 65, các nguy cơ nhiễm bệnh khoảng gấp đôi, tăng từ 3 đến 69 người trong 1000 trong 1 năm. Ngoài ra còn có sự khác biệt giới tính ở các mức tỷ lệ, phụ nữ có nguy cơ phát triển AD cao hơn nam.

Tổ chức Y tế Thế giới ước tính rằng trong năm 2005, 0,379% người trên thế giới mắc bệnh, và tỷ lệ sẽ tăng lên 0,441% vào năm 2015 và 0,556% vào năm 2030. Các nghiên cứu khác cũng cho kết luận tương tự.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Maurer, Konrad; Maurer, Ulrike (2003). Alzheimer: the life of a physician and the career of a disease. New York: Columbia University Press. ISBN 0-231-11896-1. 
  2. ^ a ă Brookmeyer R., Gray S., Kawas C. (September năm 1998). “Projections of Alzheimer's disease in the United States and the public health impact of delaying disease onset”. American Journal of Public Health 88 (9): 1337–42. doi:10.2105/AJPH.88.9.1337. PMC 1509089. PMID 9736873. 
  3. ^ a ă â Waldemar G, Dubois B, Emre M, et al. (January năm 2007). “Recommendations for the diagnosis and management of Alzheimer's disease and other disorders associated with dementia: EFNS guideline”. Eur J Neurol 14 (1): e1–26. doi:10.1111/j.1468-1331.2006.01605.x. PMID 17222085. 
  4. ^ “Alzheimer's diagnosis of AD”. Alzheimer's Research Trust. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2008. 
  5. ^ Tabert MH, Liu X, Doty RL, Serby M, Zamora D, Pelton GH, Marder K, Albers MW, Stern Y, Devanand DP (2005). “A 10-item smell identification scale related to risk for Alzheimer's disease”. Ann. Neurol. 58 (1): 155–160. doi:10.1002/ana.20533. PMID 15984022. 
  6. ^ “Understanding stages and symptoms of Alzheimer's disease”. National Institute on Aging. 26 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2008. 
  7. ^ Mölsä PK, Marttila RJ, Rinne UK (August năm 1986). “Survival and cause of death in Alzheimer's disease and multi-infarct dementia”. Acta Neurol Scand 74 (2): 103–7. doi:10.1111/j.1600-0404.1986.tb04634.x. PMID 3776457. 
  8. ^ Mölsä PK, Marttila RJ, Rinne UK (March năm 1995). “Long-term survival and predictors of mortality in Alzheimer's disease and multi-infarct dementia”. ActaNeurol Scand 91 (3): 159–64. PMID 7793228. 
  9. ^ a ă â Tiraboschi P, Hansen LA, Thal LJ, Corey-Bloom J (June năm 2004). “The importance of neuritic plaques and tangles to the development and evolution of AD”. Neurology 62 (11): 1984–9. PMID 15184601. 
  10. ^ a ă “Alzheimer's Disease Clinical Trials”. US National Institutes of Health. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2008. 
  11. ^ “Can Alzheimer's disease be prevented” (PDF). National Institute on Aging. 29 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2008. 
  12. ^ “The MetLife study of Alzheimer's disease: The caregiving experience” (PDF). MetLife Mature Market Institute. August năm 2006. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2011. 
  13. ^ a ă Thompson CA, Spilsbury K, Hall J, Birks Y, Barnes C, Adamson J (2007). “Systematic review of information and support interventions for caregivers of people with dementia”. BMC Geriatr 7: 18. doi:10.1186/1471-2318-7-18. PMC 1951962. PMID 17662119. 
  14. ^ a ă Schneider J, Murray J, Banerjee S, Mann A (August năm 1999). “EUROCARE: a cross-national study of co-resident spouse carers for people with Alzheimer's disease: I—Factors associated with carer burden”. International Journal of Geriatric Psychiatry 14 (8): 651–661. doi:10.1002/(SICI)1099-1166(199908)14:8<651::AID-GPS992>3.0.CO;2-B. PMID 10489656. 
  15. ^ a ă Murray J, Schneider J, Banerjee S, Mann A (August năm 1999). “EUROCARE: a cross-national study of co-resident spouse carers for people with Alzheimer's disease: II—A qualitative analysis of the experience of caregiving”. International Journal of Geriatric Psychiatry 14 (8): 662–667. doi:10.1002/(SICI)1099-1166(199908)14:8<662::AID-GPS993>3.0.CO;2-4. PMID 10489657. 
  16. ^ a ă Bäckman L, Jones S, Berger AK, Laukka EJ, Small BJ (Sep năm 2004). “Multiple cognitive deficits during the transition to Alzheimer's disease”. J Intern Med 256 (3): 195–204. doi:10.1111/j.1365-2796.2004.01386.x. PMID 15324363. 
  17. ^ Nygård L (2003). “Instrumental activities of daily living: a stepping-stone towards Alzheimer's disease diagnosis in subjects with mild cognitive impairment?”. Acta Neurol Scand. Suppl (179): 42–6. doi:10.1034/j.1600-0404.107.s179.8.x. PMID 12603250. 
  18. ^ a ă Arnáiz E, Almkvist O (2003). “Neuropsychological features of mild cognitive impairment and preclinical Alzheimer's disease”. Acta Neurol. Scand., Suppl. 179: 34–41. doi:10.1034/j.1600-0404.107.s179.7.x. PMID 12603249. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2008. 
  19. ^ a ă Landes AM, Sperry SD, Strauss ME, Geldmacher DS (Dec năm 2001). “Apathy in Alzheimer's disease”. J Am Geriatr Soc 49 (12): 1700–7. doi:10.1046/j.1532-5415.2001.49282.x. PMID 11844006. 
  20. ^ Petersen RC (February năm 2007). “The current status of mild cognitive impairment—what do we tell our patients?”. Nat Clin Pract Neurol 3 (2): 60–1. doi:10.1038/ncpneuro0402. PMID 17279076. 
  21. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r Förstl H, Kurz A (1999). “Clinical features of Alzheimer's disease”. European Archives of Psychiatry and Clinical Neuroscience 249 (6): 288–290. doi:10.1007/s004060050101. PMID 10653284. 
  22. ^ Carlesimo GA, Oscar-Berman M (June năm 1992). “Memory deficits in Alzheimer's patients: a comprehensive review”. Neuropsychol Rev 3 (2): 119–69. doi:10.1007/BF01108841. PMID 1300219. 
  23. ^ Jelicic M, Bonebakker AE, Bonke B (1995). “Implicit memory performance of patients with Alzheimer's disease: a brief review”. International Psychogeriatrics 7 (3): 385–392. doi:10.1017/S1041610295002134. PMID 8821346. 
  24. ^ a ă Taler V, Phillips NA (Jul năm 2008). “Language performance in Alzheimer's disease and mild cognitive impairment: a comparative review”. J Clin Exp Neuropsychol 30 (5): 501–56. doi:10.1080/13803390701550128. PMID 1856925. 
  25. ^ a ă â Frank EM (September năm 1994). “Effect of Alzheimer's disease on communication function”. J S C Med Assoc 90 (9): 417–23. PMID 7967534. 
  26. ^ Volicer L, Harper DG, Manning BC, Goldstein R, Satlin A (May năm 2001). “Sundowning and circadian rhythms in Alzheimer's disease”. Am J Psychiatry 158 (5): 704–11. doi:10.1176/appi.ajp.158.5.704. PMID 11329390. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2008. 
  27. ^ Gold DP, Reis MF, Markiewicz D, Andres D (January năm 1995). “When home caregiving ends: a longitudinal study of outcomes for caregivers of relatives with dementia”. J Am Geriatr Soc 43 (1): 10–6. PMID 7806732. 
  28. ^ Francis PT, Palmer AM, Snape M, Wilcock GK (February năm 1999). “The cholinergic hypothesis of Alzheimer's disease: a review of progress”. J. Neurol. Neurosurg. Psychiatr. 66 (2): 137–47. doi:10.1136/jnnp.66.2.137. PMC 1736202. PMID 10071091. 
  29. ^ Shen ZX (2004). “Brain cholinesterases: II. The molecular and cellular basis of Alzheimer's disease”. Med Hypotheses 63 (2): 308–21. doi:10.1016/j.mehy.2004.02.031. PMID 15236795. 
  30. ^ a ă Wenk GL (2003). “Neuropathologic changes in Alzheimer's disease”. J Clin Psychiatry. 64 Suppl 9: 7–10. PMID 12934968. 
  31. ^ Hardy J, Allsop D (October năm 1991). “Amyloid deposition as the central event in the aetiology of Alzheimer's disease”. Trends Pharmacol. Sci. 12 (10): 383–88. doi:10.1016/0165-6147(91)90609-V. PMID 1763432. 
  32. ^ a ă Mudher A, Lovestone S (January năm 2002). “Alzheimer's disease-do tauists and baptists finally shake hands?”. Trends Neurosci. 25 (1): 22–26. doi:10.1016/S0166-2236(00)02031-2. PMID 11801334. 
  33. ^ Nistor M, Don M, Parekh M, et al. (October năm 2007). “Alpha- and beta-secretase activity as a function of age and beta-amyloid in Down syndrome and normal brain”. Neurobiol Aging 28 (10): 1493–1506. doi:10.1016/j.neurobiolaging.2006.06.023. PMID 16904243. 
  34. ^ Lott IT, Head E (March năm 2005). “Alzheimer disease and Down syndrome: factors in pathogenesis”. Neurobiol Aging 26 (3): 383–89. doi:10.1016/j.neurobiolaging.2004.08.005. PMID 15639317. 
  35. ^ Polvikoski T, Sulkava R, Haltia M, et al. (November năm 1995). “Apolipoprotein E, dementia, and cortical deposition of beta-amyloid protein”. N Engl J Med 333 (19): 1242–47. doi:10.1056/NEJM199511093331902. PMID 7566000. 
  36. ^ Transgenic mice:
    • Games D, Adams D, Alessandrini R, et al. (February năm 1995). “Alzheimer-type neuropathology in transgenic mice overexpressing V717F beta-amyloid precursor protein”. Nature 373 (6514): 523–27. doi:10.1038/373523a0. PMID 7845465. 
    • Masliah E, Sisk A, Mallory M, Mucke L, Schenk D, Games D (September năm 1996). “Comparison of neurodegenerative pathology in transgenic mice overexpressing V717F beta-amyloid precursor protein and Alzheimer's disease”. J Neurosci 16 (18): 5795–811. PMID 8795633. 
    • Hsiao K, Chapman P, Nilsen S, et al. (October năm 1996). “Correlative memory deficits, Abeta elevation, and amyloid plaques in transgenic mice”. Science (journal) 274 (5284): 99–102. doi:10.1126/science.274.5284.99. PMID 8810256. 
    • Lalonde R, Dumont M, Staufenbiel M, Sturchler-Pierrat C, Strazielle C. (2002). “Spatial learning, exploration, anxiety, and motor coordination in female APP23 transgenic mice with the Swedish mutation.”. Brain Research (journal) 956 (1): 36–44, year=2002. doi:10.1016/S0006-8993(02)03476-5. PMID 12426044. 
  37. ^ Holmes C, Boche D, Wilkinson D, et al. (July năm 2008). “Long-term effects of Abeta42 immunisation in Alzheimer's disease: follow-up of a randomised, placebo-controlled phase I trial”. Lancet 372 (9634): 216–23. doi:10.1016/S0140-6736(08)61075-2. PMID 18640458. 
  38. ^ Lacor PN,et al.; Buniel, MC; Furlow, PW; Clemente, AS; Velasco, PT; Wood, M; Viola, KL; Klein, WL (January năm 2007). “Aß Oligomer-Induced Aberrations in Synapse Composition, Shape, and Density Provide a Molecular Basis for Loss of Connectivity in Alzheimer's Disease”. Journal of Neuroscience 27 (4): 796–807. doi:10.1523/JNEUROSCI.3501-06.2007. PMID 17251419. 
  39. ^ Lauren J, Gimbel D, et al. (February năm 2009). “Cellular prion protein mediates impairment of synaptic plasticity by amyloid-beta oligomers”. Nature 457 (7233): 1128–32. doi:10.1038/nature07761. PMC 2748841. PMID 19242475. 
  40. ^ a ă Nikolaev, Anatoly; Todd McLaughlin, Dennis O'Leary, Marc Tessier-Lavigne (19 tháng 2 năm 2009). “N-APP binds DR6 to cause axon pruning and neuron death via distinct caspases”. Nature 457 (7232): 981–989. doi:10.1038/nature07767. ISSN 0028-0836. PMC 2677572. PMID 19225519. Truy cập tháng 5 năm 2009. 
  41. ^ Schmitz C, Rutten BP, Pielen A, et al. (April năm 2004). “Hippocampal neuron loss exceeds amyloid plaque load in a transgenic mouse model of Alzheimer's disease”. Am J Pathol 164 (4): 1495–1502. doi:10.1016/S0002-9440(10)63235-X. PMC 1615337. PMID 15039236. 
  42. ^ Goedert M, Spillantini MG, Crowther RA (July năm 1991). “Tau proteins and neurofibrillary degeneration”. Brain Pathol 1 (4): 279–86. doi:10.1111/j.1750-3639.1991.tb00671.x. PMID 1669718. 
  43. ^ Iqbal K, Alonso Adel C, Chen S, et al. (January năm 2005). “Tau pathology in Alzheimer disease and other tauopathies”. Biochim Biophys Acta 1739 (2–3): 198–210. doi:10.1016/j.bbadis.2004.09.008. PMID 15615638. 
  44. ^ Chun W, Johnson GV (2007). “The role of tau phosphorylation and cleavage in neuronal cell death”. Front Biosci 12: 733–56. doi:10.2741/2097. PMID 17127334. 
  45. ^ Itzhaki RF, Wozniak MA (May năm 2008). “Herpes simplex virus type 1 in Alzheimer's disease: the enemy within”. J Alzheimers Dis 13 (4): 393–405. ISSN 1387-2877. PMID 18487848. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2011. 
  46. ^ PMID 19775776 (19775776&dopt=Abstract PubMed)
    Citation will be completed automatically in a few minutes. Jump the queue or expand by hand
  47. ^ PMID 15665415 (15665415&dopt=Abstract PubMed)
    Citation will be completed automatically in a few minutes. Jump the queue or expand by hand
  48. ^ PMID 18596894 (PubMed)
    Citation will be completed automatically in a few minutes. Jump the queue or expand by hand
  49. ^ PMID 19075578 (PubMed)
    Citation will be completed automatically in a few minutes. Jump the queue or expand by hand
  50. ^ a ă â Heneka MT, Nadrigny F, Regen T, Martinez-Hernandez A, Dumitrescu-Ozimek L, Terwel D, Jardanhazi-Kurutz D, Walter J, Kirchhoff F, Hanisch UK, Kummer MP. (2010). Locus ceruleus controls Alzheimer's disease pathology by modulating microglial functions through norepinephrine. Proc Natl Acad Sci U S A. 107:6058–6063 doi:10.1073/pnas.0909586107 PMID 20231476
  51. ^ Moan R (20 tháng 7 năm 2009). “MRI software accurately IDs preclinical Alzheimer's disease”. Diagnostic Imaging. 
  52. ^ Bouras C, Hof PR, Giannakopoulos P, Michel JP, Morrison JH (1994). “Regional distribution of neurofibrillary tangles and senile plaques in the cerebral cortex of elderly patients: a quantitative evaluation of a one-year autopsy population from a geriatric hospital”. Cereb. Cortex 4 (2): 138–50. doi:10.1093/cercor/4.2.138. PMID 8038565. 
  53. ^ Kotzbauer PT, Trojanowsk JQ, Lee VM (Oct năm 2001). “Lewy body pathology in Alzheimer's disease”. J Mol Neurosci 17 (2): 225–32. doi:10.1385/JMN:17:2:225. PMID 11816795. 
  54. ^ Hashimoto M, Rockenstein E, Crews L, Masliah E (2003). “Role of protein aggregation in mitochondrial dysfunction and neurodegeneration in Alzheimer's and Parkinson's diseases”. Neuromolecular Med. 4 (1–2): 21–36. doi:10.1385/NMM:4:1-2:21. PMID 14528050. 
  55. ^ Priller C, Bauer T, Mitteregger G, Krebs B, Kretzschmar HA, Herms J (July năm 2006). “Synapse formation and function is modulated by the amyloid precursor protein”. J. Neurosci. 26 (27): 7212–21. doi:10.1523/JNEUROSCI.1450-06.2006. PMID 16822978. 
  56. ^ Turner PR, O'Connor K, Tate WP, Abraham WC (May năm 2003). “Roles of amyloid precursor protein and its fragments in regulating neural activity, plasticity and memory”. Prog. Neurobiol. 70 (1): 1–32. doi:10.1016/S0301-0082(03)00089-3. PMID 12927332. 
  57. ^ Hooper NM (April năm 2005). “Roles of proteolysis and lipid rafts in the processing of the amyloid precursor protein and prion protein”. Biochem. Soc. Trans. 33 (Pt 2): 335–8. doi:10.1042/BST0330335. PMID 15787600. 
  58. ^ Ohnishi S, Takano K (March năm 2004). “Amyloid fibrils from the viewpoint of protein folding”. Cell. Mol. Life Sci. 61 (5): 511–24. doi:10.1007/s00018-003-3264-8. PMID 15004691. 
  59. ^ Hernández F, Avila J (September năm 2007). “Tauopathies”. Cell. Mol. Life Sci. 64 (17): 2219–33. doi:10.1007/s00018-007-7220-x. PMID 17604998. 
  60. ^ Van Broeck B, Van Broeckhoven C, Kumar-Singh S (2007). “Current insights into molecular mechanisms of Alzheimer disease and their implications for therapeutic approaches”. Neurodegener Dis 4 (5): 349–65. doi:10.1159/000105156. PMID 17622778. 
  61. ^ Yankner BA, Duffy LK, Kirschner DA (October năm 1990). “Neurotrophic and neurotoxic effects of amyloid beta protein: reversal by tachykinin neuropeptides”. Science (journal) 250 (4978): 279–82. doi:10.1126/science.2218531. PMID 2218531. 
  62. ^ Chen X, Yan SD (December năm 2006). “Mitochondrial Abeta: a potential cause of metabolic dysfunction in Alzheimer's disease”. IUBMB Life 58 (12): 686–94. doi:10.1080/15216540601047767. PMID 17424907. 
  63. ^ Greig NH, Mattson MP, Perry T, et al. (December năm 2004). “New therapeutic strategies and drug candidates for neurodegenerative diseases: p53 and TNF-alpha inhibitors, and GLP-1 receptor agonists”. Ann. N. Y. Acad. Sci. 1035: 290–315. doi:10.1196/annals.1332.018. PMID 15681814. 
  64. ^ Tapia-Arancibia L, Aliaga E, Silhol M, Arancibia S (Nov năm 2008). “New insights into brain BDNF function in normal aging and Alzheimer disease”. Brain Research Reviews 59 (1): 201–20. doi:10.1016/j.brainresrev.2008.07.007. PMID 18708092. 
  65. ^ Schindowski K, Belarbi K, Buée L (Feb năm 2008). “Neurotrophic factors in Alzheimer's disease: role of axonal transport”. Genes, Brain and Behavior 7 (Suppl 1): 43–56. doi:10.1111/j.1601-183X.2007.00378.x. PMC 2228393. PMID 18184369. 
  66. ^ a ă â Blennow K, de Leon MJ, Zetterberg H (July năm 2006). “Alzheimer's disease”. Lancet 368 (9533): 387–403. doi:10.1016/S0140-6736(06)69113-7. PMID 16876668. 
  67. ^ a ă â Waring SC, Rosenberg RN (March năm 2008). “Genome-wide association studies in Alzheimer disease”. Arch Neurol 65 (3): 329–34. doi:10.1001/archneur.65.3.329. PMID 18332245. 
  68. ^ a ă Selkoe DJ (June năm 1999). “Translating cell biology into therapeutic advances in Alzheimer's disease”. Nature 399 (6738 Suppl): A23–31. doi:10.1038/19866. PMID 10392577. 
  69. ^ Shioi J, Georgakopoulos A, Mehta P, et al. (May năm 2007). “FAD mutants unable to increase neurotoxic Aβ 42 suggest that mutation effects on neurodegeneration may be independent of effects on Abeta.”. J Neurochem. 101 (3): 674–81. doi:10.1111/j.1471-4159.2006.04391.x. PMID 17254019. 
  70. ^ Strittmatter WJ, Saunders AM, Schmechel D, et al. (March năm 1993). “Apolipoprotein E: high-avidity binding to beta-amyloid and increased frequency of type 4 allele in late-onset familial Alzheimer disease”. Proc. Natl. Acad. Sci. USA 90 (5): 1977–81. doi:10.1073/pnas.90.5.1977. PMC 46003. PMID 8446617. 
  71. ^ a ă Mahley RW, Weisgraber KH, Huang Y (April năm 2006). “Apolipoprotein E4: a causative factor and therapeutic target in neuropathology, including Alzheimer's disease”. Proc. Natl. Acad. Sci. U.S.A. 103 (15): 5644–51. doi:10.1073/pnas.0600549103. PMC 1414631. PMID 16567625. 
  72. ^ Prevention recommendations not supported:
  73. ^ Szekely CA, Breitner JC, Zandi PP (2007). “Prevention of Alzheimer's disease”. Int Rev Psychiatry 19 (6): 693–706. doi:10.1080/09540260701797944. PMID 18092245. 
  74. ^ Patterson C, Feightner JW, Garcia A, Hsiung GY, MacKnight C, Sadovnick AD (February năm 2008). “Diagnosis and treatment of dementia: 1. Risk assessment and primary prevention of Alzheimer disease”. CMAJ 178 (5): 548–56. doi:10.1503/cmaj.070796. PMC 2244657. PMID 18299540. 
  75. ^ Rosendorff C, Beeri MS, Silverman JM (2007). “Cardiovascular risk factors for Alzheimer's disease”. Am J Geriatr Cardiol 16 (3): 143–9. doi:10.1111/j.1076-7460.2007.06696.x. PMID 17483665. 
  76. ^ Reiss AB, Wirkowski E (2007). “Role of HMG-CoA reductase inhibitors in neurological disorders: progress to date”. Drugs 67 (15): 2111–20. doi:10.2165/00003495-200767150-00001. PMID 17927279. 
  77. ^ Kuller LH (August năm 2007). “Statins and dementia”. Curr Atheroscler Rep 9 (2): 154–61. doi:10.1007/s11883-007-0012-9. PMID 17877925. 
  78. ^ Solfrizzi V, Capurso C, D'Introno A, et al. (January năm 2008). “Lifestyle-related factors in predementia and dementia syndromes”. Expert Rev Neurother 8 (1): 133–58. doi:10.1586/14737175.8.1.133. PMID 18088206. 
  79. ^ a ă Boothby LA, Doering PL (December năm 2005). “Vitamin C and vitamin E for Alzheimer's disease”. Ann Pharmacother 39 (12): 2073–80. doi:10.1345/aph.1E495. PMID 16227450. 
  80. ^ Isaac MG, Quinn R, Tabet N (2008). “Vitamin E for Alzheimer's disease and mild cognitive impairment”. Cochrane Database Syst Rev (3): CD002854. doi:10.1002/14651858.CD002854.pub2. PMID 18646084. 
  81. ^ Malouf R, Grimley Evans J (2008). “Folic acid with or without vitamin B12 for the prevention and treatment of healthy elderly and demented people”. Cochrane Database Syst Rev (4): CD004514. doi:10.1002/14651858.CD004514.pub2. PMID 18843658. 
  82. ^ Wald DS, Kasturiratne A, Simmonds M (tháng 6 năm 2010). “Effect of folic acid, with or without other B vitamins, on cognitive decline: meta-analysis of randomized trials”. The American Journal of Medicine 123 (6): 522–527.e2. doi:10.1016/j.amjmed.2010.01.017. PMID 20569758. 
  83. ^ Ringman JM, Frautschy SA, Cole GM, Masterman DL, Cummings JL (April năm 2005). “A potential role of the curry spice curcumin in Alzheimer's disease”. Curr Alzheimer Res 2 (2): 131–6. doi:10.2174/1567205053585882. ISSN 1567-2050. PMC 1702408. PMID 15974909. 
  84. ^ Aggarwal BB, Harikumar KB (January năm 2009). “Potential therapeutic effects of curcumin, the anti-inflammatory agent, against neurodegenerative, cardiovascular, pulmonary, metabolic, autoimmune and neoplastic diseases”. Int J Biochem Cell Biol 41 (1): 40–59. doi:10.1016/j.biocel.2008.06.010. PMC 2637808. PMID 18662800. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]