Rối loạn tâm thần

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Bệnh tâm thần)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Rối loạn tâm thần
Phân loại và tư liệu bên ngoài

* phụ nữ đại diện cho các chẩn đoán tâm thần nổi tiếng trong thế kỷ 19. (Armand Gautier)
ICD-10 F.
MeSH D001523

Rối loạn tâm thần hoặc rối loạn tinh thần là hình thức tâm lý hoặc hành vi cá biệt được cho là gây ra sự đau đớn, mất khả năng cư xử cũng như phát triển bình thường. Những người rối loạn tâm thần vẫn có những quyền nhất định và việc bắt giữ họ mà không có căn cứ pháp lývi phạm nhân quyền.[cần dẫn nguồn]

Có nhiều nhóm rối loạn tâm thần, và cũng có nhiều khía cạnh hành vi của con người và cá nhân có thể trở nên rối loại.[1][2][3][4][5]

Lo lắng hay sợ hãi cản trở các chức năng bình thường có thể được xếp vào rối loạn lo âu.[6] Nhóm thường gặp bao gồm ám ảnh, rối loạn lo âu tổng quát, rối loạn lo âu xã hội, rối loạn sợ hãi, sợ khoảng trống, rối loạn ám ảnh cưỡng chếrối loạn căng thẳng sau chấn thương.

Dịch tễ học[sửa | sửa mã nguồn]

Năm sống điều chỉnh theo khuyết tật với các bệnh thần kinh trên 100.000 dân năm 2004.

   <2200

   2200-2400

   2400-2600

   2600-2800

   2800-3000

   3000-3200

   3200-3400

   3400-3600

   3600-3800

   3800-4000

   4000-4200

   >4200

Rối loạn tâm thần là phổ biến. Trên thế giới cứ 3 người là có một người mắc bệnh (ở hầu hết các nước có tiêu chí đầy đủ) tại một thời điểm nào đó trong đời họ.[7] Ở Hoa Kỳ 46% thõa tiêu chí của một bệnh tâm thần tại cùng một thời điểm.[8] Một cuộc khảo sát đang diễn ra cho thấy rối loạn lo âu là phổ biến nhất trong tất cả các quốc gia trừ một quốc gia, theo sau là rối loạn tâm trạng trừ 2 quốc gia, trong khi rối loạn chất và rối loạn kiểm soát ít phổ biến.[9] Các tỉ lệ thay đổi theo khu vực.[10]

Một đánh giá về các khảo sát rối loạn lo âu ở nhiều đất nước khác nhau cho thấy khả năng xuất hiện trung bình trong đời họ ước tính 16,6%, ỏ nữ có khả năng cao hơn trung bình.[11] Đánh giá về các khảo sát rối tâm trạng ở những quốc gia khác nhau cho thấy tỉ lệ tuổi thọ là 6,7% đối với rối loạn trầm cảm chính (cao hơn một số nghiên cứu, và ở nữ) và 0,8% rối với rối loạn lưỡng cực I.[12]

Ở Hoa Kỳ, tuần suất của rối loạn: rối loạn lo âu (28,8%), rối loạn tâm trạng (20,8%), rối loạn kiểm soát xung (24,8%) hay rối loạn sử dụng chất (14,6%).[8][13][14]

Một nghiên cứu trên toàn châu Âu năm 2004 cho thấy rằng có khoảng 1 trong 4 người tại một thời điểm nào đó trong đời họ được cho là thõa các tiêu chí của ít nhất một trong các rối loạn DSM-IV, trong đó bao gồm rối loạn tâm trạng (13,9%), rối loạn lo âu (13,6%) hoặc rối loạn do cồn (5,2%). Có khoảng 1 trong 10 người thõa các tiêu chí trong một chu kỳ khảo sát 12 tháng. Nữ và người trẻ hơn của cả hai giới mắc nhiều chứng rối loạn hơn.[15] Một đánh giá về khảo sát năm 2005 ở 16 nước châu Âu cho thấy 27% người châu Âu trưởng thành bị ảnh hưởng bởi ít nhất một chứng rối loạn tinh thần trong thời gian 12 tháng.[16]

Một đánh giá quốc nghiên cứu về sự phổ biến của tâm thần phân liệt cho thấy trung bình chiếm 0,4% xảy ra trong cuộc đời; con số này thấp hơn ở những nước nghèo hơn.[17]

Các nghiên cứu về tần suất của rối loạn nhân cách (PDs) thì ít hơn và ở quy mô nhỏ hơn, nhưng trong một cuộc khảo sát rộng rãi tại Na Uy thì thấy rằng tần suất trong 5 năm là 13,4%. Tỉ lệ các rối loạn đặc biệt dao động từ 0,8% đến 2,8%, khác nhau theo quốc gia, giới tính, mức độ giáo dục, và các yếu tố khác.[18] Một cuộc khảo sát ở Hoa Kỳ sàng lọc một cách tình cờ đối với rối loạn nhân cách thì thấy tỉ lệ là 14,79%.[19]

Khoảng 7% trong một mẫu trẻ em ở tuổi trước khi đến trường được chẩn đoán tâm thần trong một nghiên cứu lâm sàng, khoảng 10% trong số trẻ 1 tuổi và 2 tuổi được đánh giá và nhận thấy có các vấn đề về tình cảm/hành vi đáng quan tâm dựa trên những báo cáo của phụ huynh và bác sĩ nhi khoa.[20]

Trong khi tỉ lệ các rối loạn tâm lý thường bằng nhau giữa nam và nữ, thì nữ có khuynh hướng có tỉ lệ cao hơn ở nhóm trầm cảm. Mỗi năm có khoảng 73 triệu phụ nữa bị ảnh hưởng của trầm cảm nặng, và tự tử xếp hạng thứ 7 trong các nguyên nhân gây tử vong trong độ tuổi 20-59. Rối loạn trầm cảm chiếm gần 41,9% bệnh về rối loạn tâm thần ở phụ nữ so với nam là 29,3%.[21]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Gazzaniga, M.S., & Heatherton, T.F. (2006). Psychological Science. New York: W.W. Norton & Company, Inc.[cần số trang]
  2. ^ WebMD Inc (2005, July 01). Mental Health: Types of Mental Illness. Retrieved April 19, 2007, from http://www.webmd.com/mental-health/mental-health-types-illness
  3. ^ United States Department of Health & Human Services. (1999). Overview of Mental Illness. Retrieved April 19, 2007
  4. ^ NIMH (2005) Teacher's Guide: Information about Mental Illness and the Brain Curriculum supplement from The NIH Curriculum Supplements Series
  5. ^ Phillip W. Long M.D. (1995-2008). “Disorders”. Internet Mental Health. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2009. 
  6. ^ “Mental Health: Types of Mental Illness”. WebMD. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2009. 
  7. ^ “Cross-national comparisons of the prevalences and correlates of mental disorders. WHO International Consortium in Psychiatric Epidemiology”. Bulletin of the World Health Organization 78 (4): 413–26. 2000. doi:10.1590/S0042-96862000000400003 (không tích cực May 26, 2013). PMC 2560724. PMID 10885160. 
  8. ^ a ă Kessler, Ronald C.; Berglund, P; Demler, O; Jin, R; Merikangas, KR; Walters, EE (2005). “Lifetime Prevalence and Age-of-Onset Distributions of DSM-IV Disorders in the National Comorbidity Survey Replication”. Archives of General Psychiatry 62 (6): 593–602. doi:10.1001/archpsyc.62.6.593. PMID 15939837. 
  9. ^ “The World Mental Health Survey Initiative”. Harvard School of Medicine. 2005. 
  10. ^ Demyttenaere, Koen; Bruffaerts, Ronny; Posada-Villa, Jose; Gasquet, Isabelle; Kovess, Viviane; Lepine, Jean Pierre; Angermeyer, Matthias C.; Bernert, Sebastian và đồng nghiệp (2004). “Prevalence, Severity, and Unmet Need for Treatment of Mental Disorders in the World Health Organization World Mental Health Surveys”. JAMA 291 (21): 2581–90. doi:10.1001/jama.291.21.2581. PMID 15173149. 
  11. ^ Somers, Julian M; Goldner, Elliot M; Waraich, Paul; Hsu, Lorena (2006). “Prevalence and Incidence Studies of Anxiety Disorders: A Systematic Review of the Literature”. Canadian Journal of Psychiatry 51 (2): 100–13. PMID 16989109. 
  12. ^ Waraich, Paul; Goldner, Elliot M; Somers, Julian M; Hsu, Lorena (2004). “Prevalence and Incidence Studies of Mood Disorders: A Systematic Review of the Literature”. Canadian Journal of Psychiatry 49 (2): 124–38. PMID 15065747. 
  13. ^ Kessler, Ronald C.; Chiu, WT; Demler, O; Merikangas, KR; Walters, EE (2005). “Prevalence, Severity, and Comorbidity of 12-Month DSM-IV Disorders in the National Comorbidity Survey Replication”. Archives of General Psychiatry 62 (6): 617–27. doi:10.1001/archpsyc.62.6.617. PMC 2847357. PMID 15939839. 
  14. ^ “The Numbers Count: Mental Disorders in America”. National Institute of Mental Health. 24 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2013. 
  15. ^ Alonso, J.; Angermeyer, M. C.; Bernert, S.; Bruffaerts, R.; Brugha, T. S.; Bryson, H.; Girolamo, G.; Graaf, R. và đồng nghiệp (2004). “Prevalence of mental disorders in Europe: Results from the European Study of the Epidemiology of Mental Disorders (ESEMeD) project”. Acta Psychiatrica Scandinavica 109 (420): 21–7. doi:10.1111/j.1600-0047.2004.00327.x. PMID 15128384. 
  16. ^ Wittchen, Hans-Ulrich; Jacobi, Frank (2005). “Size and burden of mental disorders in Europe—a critical review and appraisal of 27 studies”. European Neuropsychopharmacology 15 (4): 357–76. doi:10.1016/j.euroneuro.2005.04.012. PMID 15961293. 
  17. ^ Saha, Sukanta; Chant, David; Welham, Joy; McGrath, John (2005). “A Systematic Review of the Prevalence of Schizophrenia”. PLoS Medicine 2 (5): e141. doi:10.1371/journal.pmed.0020141. PMC 1140952. PMID 15916472. 
  18. ^ Torgersen, S.; Kringlen, E; Cramer, V (2001). “The Prevalence of Personality Disorders in a Community Sample”. Archives of General Psychiatry 58 (6): 590–6. doi:10.1001/archpsyc.58.6.590. PMID 11386989. 
  19. ^ Grant, Bridget F.; Hasin, Deborah S.; Stinson, Frederick S.; Dawson, Deborah A.; Chou, S. Patricia; Ruan, W. June; Pickering, Roger P. (2004). “Prevalence, Correlates, and Disability of Personality Disorders in the United States”. The Journal of Clinical Psychiatry 65 (7): 948–58. doi:10.4088/JCP.v65n0711. PMID 15291684. 
  20. ^ Carter, Alice S.; Briggs-Gowan, Margaret J.; Davis, Naomi Ornstein (2004). “Assessment of young children's social-emotional development and psychopathology: Recent advances and recommendations for practice”. Journal of Child Psychology and Psychiatry 45 (1): 109–34. doi:10.1046/j.0021-9630.2003.00316.x. PMID 14959805. 
  21. ^ “Gender disparities and mental health: The Facts”. World Health Organization. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2012. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Atkinson, J. (2006) Private and Public Protection: Civil Mental Health Legislation, Edinburgh, Dunedin Academic Press ISBN 1-903765-61-7
  • Hockenbury, Don and Sandy (2004). Discovering Psychology. Worth Publishers. ISBN 0-7167-5704-4. 
  • Fried, Yehuda and Joseph Agassi, (1976). Paranoia: A Study in Diagnosis. Boston Studies in the Philosophy of Science, 50. ISBN 90-277-0704-9. 
  • Fried, Yehuda and Joseph Agassi, (1983). Psychiatry as Medicine. The HAgue, Nijhoff. ISBN 90-247-2837-1. 
  • Porter, Roy (2002). Madness: a brief history. Oxford [Oxfordshire]: Oxford University Press. ISBN 0-19-280266-6. 
  • Weller M.P.I. and Eysenck M. The Scientific Basis of Psychiatry, W.B. Saunders, London, Philadelphia, Toronto etc. 1992
  • Wiencke, Markus (2006) Schizophrenie als Ergebnis von Wechselwirkungen: Georg Simmels Individualitätskonzept in der Klinischen Psychologie. In David Kim (ed.), Georg Simmel in Translation: Interdisciplinary Border-Crossings in Culture and Modernity (pp. 123–155). Cambridge Scholars Press, Cambridge, ISBN 1-84718-060-5

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]