Ngôn ngữ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một bức tranh tường trong Teotihuacan, Mexico miêu tả mô phỏng ngôn ngữ: một người kéo ra một cuộn giấy từ miệng của mình.
Chữ hình nêm là hình thức được biết đến đầu tiên của ngôn ngữ viết, nhưng ngôn ngữ nói có trước ngôn ngữ viết ít nhất hàng chục ngàn năm.
Hai bé gái học ngôn ngữ bằng tay
Chữ nổi Braille thể hiện ngôn ngữ theo cách có thể sờ thấy được.

Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp con người sử dụng để liên lạc hay giao thiệp với nhau cũng như chỉ chính năng lực của con người có khả năng sử dụng một hệ thống như vậy. Ngành khoa học nghiên cứu khoa học về ngôn ngữ được gọi là ngôn ngữ học.

Ước tính số lượng ngôn ngữ trên thế giới khác nhau giữa 6000 và 7000. Tuy nhiên, bất cứ ước lượng chính xác nào phụ thuộc vào sự phân biệt khá tùy ý giữa các ngôn ngữ chính và ngôn ngữ địa phương. Ngôn ngữ tự nhiên được nói hoặc ghi lại, nhưng bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có thể được mã hóa thành phương tiện truyền thông sử dụng các giác quan thính giác, thị giác, xúc giác hoặc kích thích - ví dụ: bằng văn bản, đồ họa, chữ nổi, hoặc huýt sáo. Điều này là do ngôn ngữ của con người là độc lập với phương thức biểu đạt. Khi được sử dụng như là một khái niệm chung, "ngôn ngữ" có thể nói đến các khả năng nhận thức để học hỏi và sử dụng hệ thống thông tin liên lạc phức tạp, hoặc để mô tả các bộ quy tắc tạo nên các hệ thống này, hoặc tập hợp các lời phát biểu có thể được tạo thành từ ​​những quy tắc.

Tất cả ngôn ngữ dựa vào quá trình liên kết dấu hiệu với các ý nghĩa cụ thể. Ngôn ngữ truyền miệng và ngôn ngữ dùng dấu hiệu bao gồm một hệ thống âm vị học, hệ thống này điều chỉnh các biểu tượng được sử dụng để tạo các trình tự được gọi là từ hoặc hình vị, và một hệ thống ngữ pháp điều chỉnh cách thức lời nói và hình vị được kết hợp để tạo thành cụm từ và câu nói hoàn chỉnh.

Ngôn ngữ của con người có các tính tự tạo, tính đệ quy, tính di chuyển, và phụ thuộc hoàn toàn vào các nhu cầu của xã hội và học tập. Cấu trúc phức tạp của nó cho phép thể hiện cảm xúc rộng rãi hơn so với bất kỳ hệ thống thông tin liên lạc được biết đến của động vật. Ngôn ngữ được cho là có nguồn gốc khi loài người thượng cổ (homo sapiens) dần dần thay đổi hệ thống thông tin liên lạc sơ khai của họ, bắt đầu có được khả năng hình thành một lý thuyết về tâm trí của những người xung quanh và một chủ ý muốn chia sẻ thông tin.[1][2] Sự phát triển này đôi khi được cho là đã trùng hợp với sự gia tăng khối lượng của não, và nhiều nhà ngôn ngữ học coi các cấu trúc của ngôn ngữ đã phát triển để phục vụ các chức năng giao tiếp và xã hội cụ thể. Ngôn ngữ được xử lý ở nhiều vị trí khác nhau trong não người, nhưng đặc biệt là trong khu vực của Broca và Wernicke. Con người có được ngôn ngữ thông qua giao tiếp xã hội trong thời thơ ấu, và trẻ em thường nói lưu loát khi lên ba tuổi. Việc sử dụng ngôn ngữ đã định hình sâu sắc trong nền văn hóa của con người. Vì vậy, ngoài việc sử dụng cho mục đích giao tiếp, ngôn ngữ cũng có nhiều công dụng trong xã hội và văn hóa, chẳng hạn như tạo ra bản sắc nhóm, phân tầng xã hội, cũng như việc làm đẹp xã hội và giải trí.

Ngôn ngữ phát triển và đa dạng hóa theo thời gian và lịch sử tiến hóa của ngôn ngữ có thể được tái tạo bằng cách so sánh ngôn ngữ hiện đại để xác định các tính trạng ngôn ngữ của tổ tiên họ phải có để cho các giai đoạn phát triển ngôn ngữ hiện đại xảy ra. Một nhóm các ngôn ngữ có chung một tổ tiên được biết đến như một gia đình ngôn ngữ. Các gia đình ngôn ngữ Ấn-Âu được sử dụng rộng rãi nhất và bao gồm tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Nga, và tiếng Hindi; gia đình ngôn ngữ Trung-Tây Tạng bao gồm tiếng Quan Thoại, tiếng Quảng Đông, và nhiều ngôn ngữ khác; gia đình Afro-Asiatic, trong đó bao gồm tiếng Ả Rập, tiếng Amharic, tiếng Somali, và tiếng Do Thái; các ngôn ngữ Bantu, trong đó bao gồm tiếng Swahili, tiếng Zulu, tiếng Shona, và hàng trăm ngôn ngữ khác trên khắp châu Phi; và các ngôn ngữ Malayo-Polynesian, bao gồm tiếng Indonesia, tiếng Malaysia, tiếng Tagalog, tiếng Malagasy, và hàng trăm ngôn ngữ khác trên khắp Thái Bình Dương. Các nhà khoa học đều đồng thuận cho rằng từ 50% đến 90% ngôn ngữ được sử dụng vào đầu thế kỷ 21 có thể sẽ tuyệt chủng vào năm 2100.

Từ nguyên học[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tiếng Anh từ "ngôn ngữ" - language bắt nguồn từ chữ Ấn-Âu dn̥ǵʰwéh₂s lưỡi, lời nói", tiếng Latin lingua, "lưỡi", tiếng Pháp cổ (language)[3] Từ này đôi khi được sử dụng để nói đến mật mã, và các loại khác của hệ thống thông tin liên lạc được xây dựng nhân tạo như các ngôn ngữ máy tính được sử dụng để lập trình. Không giống như ngôn ngữ của con người thông thường, một ngôn ngữ trong hàm nghĩa này là một hệ thống các dấu hiệu để mã hóa và giải mã thông tin. Bài viết này chỉ tập trung vào các tính chất của ngôn ngữ loài người tự nhiên, được nghiên cứu trong ngành ngôn ngữ học.

Trong tiếng Việt "ngôn ngữ" xuất phát từ chữ Hán-Việt ngôn, là lời nói và ngữ- cách diễn đạt, tổng hợp chung là cách diễn đạt lời nói.

Định nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Là một đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học, "ngôn ngữ" có hai nghĩa chính: một khái niệm trừu tượng, và một hệ thống ngôn ngữ cụ thể, ví dụ: "tiếng Việt". Nhà ngôn ngữ học Thụy Sĩ Ferdinand de Saussure, người định nghĩa phương pháp nghiên cứu hiện đại của ngôn ngữ học, trước tiên khẳng định một cách rõ ràng sự khác biệt bằng cách sử dụng language (từ tiếng Pháp) cho ngôn ngữ khi là một khái niệm; langue như là một ví dụ cụ thể của một hệ thống ngôn ngữ, và parole cho việc sử dụng cụ thể của lời nói trong một ngôn ngữ cụ thể.[4]

Khi nói về ngôn ngữ như là một khái niệm chung, định nghĩa có thể được sử dụng để nhấn mạnh khía cạnh khác nhau của hiện tượng này.[5] Những định nghĩa này cũng đòi hỏi cách tiếp cận khác nhau và sự hiểu biết về ngôn ngữ, và chúng trỏ đến các trường phái nghiên cứu khác nhau và thường không tương thích với nhau, của lý thuyết ngôn ngữ học.[6]

Trí tuệ hay bản năng[sửa | sửa mã nguồn]

Một định nghĩa coi ngôn ngữ chủ yếu là khả năng trí tuệ cho phép con người thực hiện hành vi ngôn ngữ: để học ngôn ngữ, để nói và hiểu lời nói của người khác. Định nghĩa này nhấn mạnh tính phổ quát của ngôn ngữ cho tất cả mọi người, và nó nhấn mạnh đến cơ sở sinh học về khả năng con người sử dụng ngôn ngữ như là một sự phát triển độc đáo của bộ não con người. Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng các động cơ để học ngôn ngữ là bẩm sinh ở người, lập luận rằng điều này được chứng minh vì thực tế là tất cả trẻ em nhận thức bình thường lớn lên trong một môi trường có tiếp xúc với ngôn ngữ đều có thể học được ngôn ngữ mà không cần hướng dẫn. Ngôn ngữ thậm chí có thể phát triển một cách tự nhiên trong môi trường con người sống hoặc lớn lên cùng nhau mà không có một ngôn ngữ chung; ví dụ, ngôn ngữ Creole và phát triển một cách tự nhiên ngôn ngữ ký hiệu như ngôn ngữ ký hiệu Nicaragua. Quan điểm này có thể được bắt nguồn từ các triết gia KantDescartes, coi ngôn ngữ là bẩm sinh, ví dụ, trong lý thuyết về ngữ pháp phổ thông của Chomsky, hoặc lý thuyết cực đoan innatist của nhà triết học Mỹ Jerry Fodor. Các loại định nghĩa này thường được áp dụng trong các nghiên cứu của ngôn ngữ trong một khuôn khổ nhận thức khoa học và trong neurolinguistics.[7][8]

Hệ thống biểu tượng hình thức[sửa | sửa mã nguồn]

Một định nghĩa khác coi ngôn ngữ là một hệ thống hình thức của các dấu hiệu được điều chỉnh bởi các quy tắc kết hợp theo ngữ pháp để truyền tải ý nghĩa. Định nghĩa này nhấn mạnh rằng ngôn ngữ con người có thể được mô tả như hệ thống kết cấu khép kín bao gồm các quy tắc ánh xạ các dấu hiệu đặc biệt tới các ý nghĩa đặc biệt.[9] Cách nhìn ngôn ngữ có cấu trúc như thế này lần đầu tiên được Ferdinand de Saussure giới thiệu,[10] và cấu trúc cơ bản của ông trở thành cấu trúc cơ bản của nhiều cách tiếp cận ngôn ngữ. [11]

Một số những người ủng hộ quan điểm của Saussure về ngôn ngữ đã ủng hộ một cách tiếp cận chính thức nhằm nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ bằng cách xác định các yếu tố cơ bản của nó và sau đó trình bày các quy tắc để kết hợp các yếu tố nhằm hình thành các từ và câu hoàn chỉnh. Noam Chomsky là người ủng hộ nhiệt tình lý thuyết trên, và ông đã viết ra các lý thuyết ngữ pháp sản sinh. Chomsky đã xác định ngôn ngữ như việc xây dựng các câu có thể được tạo ra bằng cách sử dụng ngữ pháp mang tính chuyển đổi.[12] Chomsky cho rằng những quy định này là một đặc điểm bẩm sinh của tâm trí con người và tạo thành các nguyên lý cơ bản của ngôn ngữ.[13] Trái lại, ngữ pháp chuyển đổi như vậy cũng thường được sử dụng để cung cấp các định nghĩa chính thức của ngôn ngữ, mà thường được sử dụng trong logic hình thức, trong các lý thuyết chính thức về ngữ pháp, và áp dụng ngôn ngữ học máy tính.[14][15]

Nhiều ngôn ngữ sử dụng điệu bộ, âm thanh, ký hiệu, hay chữ viết, và cố gắng truyền khái niệm, ý nghĩa, và ý nghĩ, nhưng mà nhiều khi những khía cạnh này nằm sát quá, cho nên khó phân biệt nó. Ngôn ngữ không phải là một bộ "quy tắc và ngữ pháp". Ngôn ngữ là công cụ người ta dùng để biểu đạt ý nghĩa và tình cảm của mình đối với người khác, qua đó để người ta hiểu nhau.

Ngôn ngữ có thể cấu tạo bởi hình thức biểu ý, cũng tức là âm thanh (tiếng nói), nét mặt, hoặc là điệu bộ bằng tay, hoặc động tác cụ thể! Nó cũng có thể là thể tổng hợp của tất cả những cái đó. Khi ta cần nói về một sự việc gì đó, ta không những chỉ nói bằng miệng, mà còn có thể làm điệu bộ, ra hiệu bằng tay hoặc bằng nét mặt.

Để kiểm tra xem ta có nắm được một ngôn ngữ hay không thì chỉ cần xem ta có thể làm cho người khác hiểu ý mình nói hay không. Nếu em phát minh ra một thứ ngôn ngữ độc đáo mà chẳng ai hiểu được ý em muốn nói, thì tức là em chưa nắm được ngôn ngữ thực sự.

Theo đà phát triển của văn minh, con người bắt đầu sống trong những quần thể cộng đồng lớn, cuộc sống trở nên phức tạp hơn, tri thức nắm được cũng ngày một nhiều hơn, mà ngôn ngữ cũng trở nên phức tạp và phát triển mạnh mẽ.

Đến nay, chúng ta chưa thực sự hiểu được ngôn ngữ bắt đầu như thế nào. Có người cho rằng ngôn ngữ bắt đầu từ việc người ta gọi nhau một cách tự nhiên, người ta dùng nó để diễn đạt sự kinh ngạc, vui hoặc buồn của mình. Cũng có người cho rằng, ngôn ngữ bắt đầu từ việc người ta bắt chước những âm thanh trong thiên nhiên. Có thể là mỗi nhận định kể trên đều là một phần của nguồn gốc ngôn ngữ, nhưng nhận định nào chiếm một tỷ lệ bao nhiêu thì ta chưa biết.

Chúng ta chỉ biết rằng, tất cả mọi ngôn ngữ mà loài người trên thế giới sử dụng đều có thể truy tìm về cùng một nguồn gốc chung: Một ngôn ngữ ban đầu, từ đó đẻ ra nhiều ngôn ngữ khác. Loại ngôn ngữ ban đầu ấy cùng với tất cả những ngôn ngữ phát triển từ đó mà ra, gọi là "ngữ hệ".

Chức năng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ có 3 chức năng chính: để chỉ nghĩa, để thông báo và để khái quát hóa (có quan hệ với tư duy). Chức năng chỉ nghĩa: để chỉ chính bản thân sự vật hiện tượng, để gắn với một biểu tượng nào đó của sự vật hiện tượng và có chức năng làm phương tiện cho sự tồn tại, truyền đạt và nắm vững các kinh nghiệm xã hội, lịch sử loài người.

  • Để chỉ nghĩa
  • Chức năng thông báo: dùng để truyền đạt và tiếp nhận thông tin, để biểu cảm qua đó thúc đẩy điều chỉnh hành động con người.
  • Chức năng khái quát hóa. Ví dụ:
    • Từ: là một khái niệm chỉ chung cho nhiều sự vật hiện tượng.
    • Hoạt động trí tuệ phải dùng ngôn ngữ làm công cụ.

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Các ngôn ngữ có số lượng người nói nhiều nhất trên thế giới:

  1. Tiếng Quan Thoại 874 triệu [16]
  2. Tiếng Hindi 366 triệu
  3. Tiếng Anh 341 triệu
  4. Tiếng Tây Ban Nha 322-358 triệu
  5. Tiếng Bengal 207 triệu
  6. Tiếng Bồ Đào Nha 176 triệu
  7. Tiếng Nga 167 triệu
  8. Tiếng Pháp 130 triệu
  9. Tiếng Nhật 125 triệu
  10. Tiếng Đức 120 triệu

Còn lại 40 % dân số thế giới nói các ngôn ngữ khác.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]