Thính giác

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Năm giác quan
Eyes lumen design.svg Gray904trans.png Class I nose.svg
Thị giác Thính giác Khứu giác
Measurements of the hand without the measurements.png Taste buds.svg
Xúc giác Vị giác

Thính giác là một trong năm giác quan. Đây là khả năng tiếp thu âm thanh bằng cách phát hiện các dao động qua một cơ quan ví dụ như tai. "Khiếm thính" hay "điếc" là khi không có khả năng nghe.

Ở con người và các động vật có xương sống khác, việc nghe được thực hiện chủ yếu bởi hệ thính giác: các dao động được tai phát hiện và chuyển thành các xung thần kinh mà bộ não thu nhận. Cũng như xúc giác, thính giác đòi hỏi sự nhạy cảm đối với chuyển động của các phân tử trong thế giới bên ngoài cơ thể. Cả thính giác và xúc giác đều là các loại cảm giác cơ học (mechanosensation)[1]

Không phải mỗi loài động vật đều nghe được tất cả các loại âm thanh. Mỗi loài có một khoảng nghe được của độ to (cường độ) và độ cao (tần số) của âm thanh. Nhiều động vật sử dụng âm thanh để giao tiếp với nhau, đối với các loài này, thính giác có vai trò đặc biệt quan trọng cho việc sống còn và sinh sản.

Con người có thể nghe được các tần số âm thanh trong khoảng từ 15 Hz đến 20.000 Hz.[2] Âm thanh với tần số cao hơn được gọi là siêu âm, thấp hơn là hạ âm. Một số loài dơi phát sóng siêu âm và nghe phản xạ để xác định địa hình và chướng ngại vật trong khi bay. Chó có thể nghe được siêu âm, đó chính là nguyên tắc hoạt động của còi chó mà con người không nghe thấy tiếng. Rắn nghe được hạ âm bằng bụng. Cá voi, hươu cao cổ, và voi giao tiếp bằng sóng hạ âm.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kung C. (2005 Aug 4). “A possible unifying principle for mechanosensation”. Nature 436 (7051): 647–654. 
  2. ^ “Frequency Range of Human Hearing”. The Physics Factbook.