Tiếng Ainu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tiếng Ainu (tiếng Ainu: アイヌ イタク aynu itak; tiếng Nhật: アイヌ語 ainu-go) là một ngôn ngữ được người Ainu (đôi khi người Việt trước gọi là Nụy Nô) sử dụng tại miền Bắc Nhật Bản, vùng viễn đông Nga và thậm chí ở Trung Quốc trong quá khứ. Năm 1991, tại Nhật Bản chỉ còn 15 người sử dụng ngôn ngữ này[1]. Số người này đang sinh sống tại các đảo nhỏ thuộc quần đảo Kuril (tên Nhật là Tsishima) và tại đảo Hokkaido. Trước đây, thứ tiếng này còn được dùng rải rác tại nam phần Sakhalin thuộc Nga. Việc xuất hiện thứ tiếng này tại nước Nga là điều có thể giải thích được vì đây là địa bàn mà người Ainu từng định cư trước cả khi người Nhật chiếm được một phần đảo này trong khoảng thế kỉ 89, cũng trước khi người Nga đưa vùng đất này vào bản đồ hành chính của họ.

Tuy số lượng người sử dụng rất hạn chế, nhưng do sự quá thiếu tiếp xúc giữa những người này mà tiếng Ainu có tới tận 19 phương ngữ.

Một số phương ngữ của tiếng Ainu là Itak Sakhalin (còn gọi là Saghilin), Taraika, Ezo và Yezo tại vùng Hokkaido, Shikotan và Tsishima tại vùng Kuril... Tuy vậy, giống như tình hình chung của ngôn ngữ Ainu, việc sử dụng các phương ngữ Ainu là rất hạn chế, điển hình là việc người cuối cùng có thể sử dụng tiếng Ainu tại Sakhalin đã qua đời từ năm 1994.

Một số người Ainu tại Trung Quốc cũng có thể sử dụng ngôn ngữ Ainu, tuy vậy thứ phương ngữ mà họ sử dụng dị biệt rất nhiều so với tiếng Ainu "chuẩn" tại Nhật Bản, thậm chí theo nhận xét của những chuyên gia đã tham gia khảo cứu thì gần như "không có liên hệ gì đáng kể".

Số lượng hiện thời của tộc người Ainu là khoảng một vạn rưỡi người. Tuyệt đại đa số họ chỉ có thể sử dụng tiếng Nhật trong mọi sinh hoạt thường ngày cũng như đang trải qua quá trình "tự tích hợp" vào nền văn hóa Nhật Bản.

Tiếng Ainu được các nhà ngôn ngữ học quan tâm trong quá trình tìm hiểu về nguồn gốc dân tộc cũng như ngôn ngữ của người Nhật. Tuy kết luận cuối cùng là dân Ainu không có can hệ gì trực tiếp về mặt nhân chủng và huyết thống với tổ tiên người Nhật, nhưng nhờ các nghiên cứu mà tiếng Ainu được tìm hiểu và khám phá với một mức độ rất đáng kể.

Tiếng Ainu được xếp vào các ngôn ngữ cô lập (hay ngôn ngữ phân lập), và đứng sau tiếng Triều Tiên trong nhóm này về số lượng nghiên cứu đã thực hiện.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ SIL Ethnologue, 15th edition (2005)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Số liệu do S. Wurm và S. Hattori công bố vào năm 1981
  • Số liệu do M. Shibatani công bố vào năm 1990
  • James Patric, Review of: The genetic relationship of the Ainu language, Academic Publications, Toba, Sueyoshi, 1983

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]