Céline Dion

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Céline Dion
Celine Dion vào năm 2012.
Sinh Céline Marie Claudette Dion
30 tháng 3, 1968 (46 tuổi)
Charlemagne, Quebec, Canada
Nơi cư trú Las Vegas, Nevada, Hoa Kỳ
Công việc
Năm hoạt động 1980–2000, 2002–nay
Tài sản 721 triệu đô-la Mỹ (số liệu ước tính tháng 1 năm 2014)[4]
Tín ngưỡng Giáo hội Công giáo
Vợ (hoặc chồng) René Angélil (k.hôn  1994–nay) «start: (1994-12-17)»"Hôn nhân: René Angélil đến Céline Dion" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A9line_Dion)
Con cái 3
Cha mẹ Adhémar-Charles Dion
Thérèse Tanguay Dion
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụ Hát chính, dương cầm
Hãng đĩa
Hợp tác Barbra Streisand, Bee Gees, Whitney Houston, Mariah Carey, David Foster, Elton John, Shania Twain, Andrea Bocelli, Ne-Yo, Jean-Jacques Goldman, Diana King, Gloria Estefan, Carole King, Stevie Wonder, Josh Groban, Luciano Pavarotti, Christina Aguilera, Prince
Website Trang mạng chính thức

Céline Marie Claudette Dion CC OQ ChLD ( /ˈdɒn/;[5] tiếng Pháp: [selin djɔ̃]  (Speaker Icon.svg listen); sinh ngày 30 tháng 3 năm 1968) là một nữ ca sĩ người Canada. Được sinh ra trong một đại gia đình tại Charlemagne, tỉnh Québec,[6] Dion nổi lên như một ngôi sao ở lứa tuổi thiếu niên trong cộng đồng Pháp sau khi người quản lý và đồng thời là chồng tương lai của cô, René Angélil cho vay nhà để chi trả cho đĩa nhạc đầu tiên của Dion.[7] Vào năm 1990, cô cho phát hành album tiếng Anh mang tựa đề Unison, giúp cô trở thành nghệ sĩ nhạc pop có triển vọng tại Bắc Mỹ và các khu vực sử dụng tiếng Anh khác trên thế giới.[8]

Dion lần đầu được biết đến trên toàn cầu vào thập niên 1980, khi cô giành chiến thắng tại hai cuộc thi World Popular Song Festival của Yamaha năm 1982 và Eurovision Song Contest năm 1988 được tổ chức tại Thụy Sĩ.[9][10] Sau khi phát hành một loạt album tiếng Pháp trong thập niên 1980, cô kí kết cùng hãng thu âm CBS Records Canada vào năm 1986. Trong xuyên suốt thập niên 1990, với sự giúp đỡ của Angélil, danh tiếng của cô lan rộng toàn cầu sau khi hợp tác với hãng thu âm Epic Records và phát hành một vài album tiếng Anh cùng với các album tiếng Pháp, giúp cô trở thành một trong những ngôi sao nhạc pop thành công nhất trong lịch sử âm nhạc.[11][12] Khi đang ở đỉnh cao của sự nghiệp vào năm 1999, Dion đột ngột tạm ngừng công tác trong ngành giải trí nhằm thu xếp công việc gia đình và giành thời gian chăm sóc người chồng được chuẩn đoán mắc bệnh ung thư.[12][13] Cô quay lại sự nghiệp âm nhạc vào năm 2002 và kí kết một hợp đồng 3 năm (sau này được kéo dài tới gần 5 năm) để tham gia biểu diễn hằng đêm trong chương trình kịch nghệ tại Caesars Palace, Paradise, Nevada.[14][15][16]

Âm nhạc của Dion chịu ảnh hưởng bởi nhiều thể loại trải dài từ rock và R&B cho đến nhạc Phúc âmcổ điển. Cô chủ yếu thu âm bằng tiếng Pháp và tiếng Anh, cho dù cô có thể hát được bằng tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý, tiếng Đức, tiếng La Tinh, tiếng Nhật và Quan thoại. Trong khi các tác phẩm của Dion thường nhận được các ý kiến trái chiều từ các nhà phê bình âm nhạc, thì giọng ca của cô lại được ca ngợi nhờ kỹ năng thanh nhạc điêu luyện và đầy nội lực.[17][18][19] Dion đã thắng 5 Giải Grammy, trong đó có giải "Album của năm" cho Falling into You và "Thu âm của năm" cho "My Heart Will Go On".[20] Cô là nữ nghệ sĩ có doanh số đĩa nhạc lớn thứ hai tại Mỹ trong kỷ nguyên Nielsen SoundScan,[21] với các album Falling into YouLet's Talk About Love đều nhận được chứng nhận Kim cương tại Hoa Kỳ,[22][23] và là nữ nghệ sĩ duy nhất có hai đĩa đơn tiêu thụ hơn 1 triệu bản tại Liên hiệp Anh.[24] Thêm vào đó, D'eux vào năm 1995 của cô là album tiếng Pháp bán chạy nhất mọi thời đại.[25] Vào năm 2004, sau khi đạt mốc 175 triệu bản album được bán ra trên toàn cầu, cô được trao Giải Chopard Diamond tại World Music Awards cho việc trở thành nữ nghệ sĩ có doanh số đĩa nhạc lớn nhất mọi thời đại.[26][27] Dion vẫn đang là nghệ sĩ gốc Canada có doanh số đĩa nhạc lớn nhất và là một trong những nghệ sĩ âm nhạc có số doanh thu lớn nhất mọi thời đại, với hơn 200 triệu bản album trên toàn thế giới.[28][29][30]

Tiểu sử và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1968-1989: Những năm thiếu thời và thưở đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Céline Marie Claudette Dion được sinh ra tại Charlemagne, Québec, Canada, là người con út trong một gia đình gồm 14 anh chị em. Cha mẹ của Dion đều là người mang dòng máu Pháp-Canada,[31] Thérèse (họ gốc là Tanguay) là một nhà nội trợ, còn cha của cô, Adhémar Dion là một người bán thịt.[32] Cô lớn lên theo đạo Thiên Chúa giáo La Mã trong cảnh thiếu túng nhưng vẫn sống hạnh phúc với mái ấm ngụ tại Charlemagne.[12][33] Âm nhạc luôn là một phần không thể thiếu trong gia đình của cô, khi tên của cô được đặt tên theo bài hát Céline, được thu âm bởi ca sĩ người Pháp Hugues Aufray hai năm trước khi cô ra đời.[34] Vào ngày 13 tháng 8 năm 1973, lúc chỉ mới 5 tuổi, Céline lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng khi biểu diễn bài hát Du fil des aiguilles et du coton của Christine Charbonneau tại đám cưới của anh trai Michel.[35] Sau đó, cô cùng các anh chị ruột tiếp tục trình diễn tại Le Vieux Baril, một quán rượu piano mà cha mẹ cô đứng ra làm chủ. Ngay từ lúc còn nhỏ, Dion đã mong muốn trở thành một người trình diễn.[17] Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí People năm 1994, cô chia sẻ việc "Tôi rất nhớ nhà và gia đình, tuy nhiên tôi không hề tiếc nuối tuổi xuân của mình. Tôi chỉ có một ước mơ: Đó là trở thành ca sĩ nổi tiếng".[36]

Dion năm 18 tuổi.

Năm 12 tuổi, Dion cùng mẹ và anh trai Jacques sáng tác ca khúc đầu tay của cô, "Ce n'était qu'un rêve" (tạm dịch: "Chỉ là một giấc mơ").[33] Anh trai Michel Dondalinger của cô gửi bản thu âm tới giám đốc âm nhạc René Angélil, tên của ông ấy được tìm thấy sau bìa album Ginette Reno.[7] Angélil đã tỏ ra xúc động bởi giọng hát của Dion, và quyết định giúp cô ấy trở thành một ngôi sao.[33] Vào năm 1981, ông thế chấp ngôi nhà của mình để gầy dựng nên album đầu tiên của Dion, La voix du bon Dieu (tạm dịch: "Giọng nói của Chúa nhân từ"), mà sau đó trở thành đĩa nhạc ăn khách đứng đầu ở địa phương và giúp Dion trở thành một ngôi sao tại tỉnh Québec. Một năm sau, độ nổi tiếng của cô lan rộng ra khắp thế giới khi cô tham gia vào Cuộc thi Yamaha World Popular Song Festival tại Tokyo, Nhật Bản, và giành chiến thắng ở hạng mục "Trình diễn xuất sắc nhất" và Huy chương Vàng cho hạng mục "Bài hát xuất sắc nhất" với ca khúc "Tellement j'ai d'amour pour toi" (tạm dịch: "Em yêu anh rất nhiều").[7]

Năm 1983, ngoài việc trở thành nghệ sĩ gốc Canada đầu tiên được cấp chứng nhận Vàng tại Pháp cho đĩa đơn "D'amour ou d'amitié" (tạm dịch: "Là tình hay bạn"), Dion cũng giành được một số Giải Felix, bao gồm hạng mục "Trình diễn nữ xuất sắc nhất" và "Khám phá của năm".[7][37] Thành công của cô còn lan ra cả Châu Á, Châu Âu và Úc khi Dion đại diện cho đoàn Thụy Sĩ trong cuộc thi Eurovision Song Contest năm 1988 với bài hát "Ne partez pas sans moi" (tạm dịch: "Đừng rời đi mà không có em") và giành chiến thắng tại Dublin, Ireland.[38] Tuy nhiên, Dion chưa thể đạt được thành công đáng kể tại Hoa Kỳ khi cô vẫn còn đang sử dụng tiếng Pháp là ngôn ngữ chính.[39] Năm 18 tuổi, sau khi xem một màn trình diễn của Michael Jackson, Dion thổ lộ với Angélil về việc mong muốn trở thành một ngôi sao như Michael.[40] Mặc dù tự tin với tài năng của Dion, Angélil nhận ra rằng hình tượng của cô cần phải được thay đổi trước khi đến được thị trường âm nhạc thế giới.[33] Dion tạm vắng bóng trong vài tháng trong lúc thực hiện việc phẫu thuật thẩm mỹ để cải thiện ngoại hình, và được gửi tới École Berlitz vào năm 1989 để trau dồi việc nói tiếng Anh của cô.[8]

Trong một đêm diễn thuộc Incognito Tour vào năm 1989, Dion gặp phải chấn thương ở giọng hát. Khi bàn bạc cùng bác sĩ chuyên khoa William Gould,[41][42] ông có đưa ra đề nghị giải phẫu dây thanh quản cho cô,[41] nhưng Dion lại chọn việc tạm ngừng ca hát trong vòng 3 tuần lễ và tham gia luyện giọng cùng William Riley.[41][42]

1990-92: Unison, Dion chante PlamondonCeline Dion[sửa | sửa mã nguồn]

2 năm sau khi hoàn thành việc trau dồi Anh ngữ, Dion lần đầu thử sức tại thị trường tiếng Anh bằng album phòng thu Unison (1990), với đĩa đơn đầu tiên được cô thể hiện lại từ bản thu âm gốc của Laura Branigan.[7] Album chịu ảnh hưởng lớn của dòng nhạc soft rock thập niên 1980 vốn thịnh hành trên các đài phát thanh đương đại trưởng thành, với sự trợ giúp bởi nhiều nhạc sĩ đi trước, gồm có Vito Luprano và nhà sản xuất nhạc người Canada David Foster.[17] Unison nhận được các đánh giá tích cực từ phía các nhà phê bình âm nhạc. Trong khi Jim Faber từ Entertainment Weekly cho rằng giọng hát của Dion "mộc mạc một cách trang nhã" và khẳng định việc cô không bao giờ cố gắng "đưa ra phong cách quá tầm",[43] thì Stephen Erlewine từ Allmusic nhìn nhận đây là "cú mở đầu tại Hoa Kỳ đầy tinh vi và khả quan".[44] Album cho phát hành 5 đĩa đơn, trong đó có đĩa đơn đầu tiên của cô đạt đến top 10 tại Billboard Hot 100 Hoa Kỳ, "Where Does My Heart Beat Now".[45] Album này đưa Dion trở thành một trong những tên tuổi có triển vọng tại Hoa Kỳ, xuyên khắp Châu Âu và Châu Á lúc bấy giờ. Cho đến nay, album đã tiêu thụ hơn 3 triệu bản toàn thế giới,[46][47] và được 7 lần chứng nhận Bạch kim tại quê nhà Canada của Dion.[48]

Vào năm 1991, Dion nằm trong số những giọng ca chính xuất hiện ở "Voices That Care", một ca khúc tôn vinh quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh. Dion thực sự tạo nên cú đột phá trên toàn cầu khi song ca cùng Peabo Bryson trong nhạc phẩm "Beauty and the Beast" nằm trong bộ phim hoạt hình Người đẹp và quái vật (1991) của hãng Walt Disney.[49] Bài hát mang âm điệu pop ballad lãng mạn,[50] với tính chất uyển chuyển, cổ điển với những nhạc cụ nhẹ nhàng mà Céline thường xuyên thực hiện ở thời gian sau này.[51] Bài hát đạt thành công vang dội khi trở thành bài hát thứ 2 của Dion đạt đến top 10 tại Hoa Kỳ, đồng thời giành nhiều giải thưởng lớn như "Ca khúc trong phim hay nhất" tại Lễ trao giải Oscar lần thứ 64,[52] "Bài hát gốc hay nhất" ở Lễ trao giải Quả cầu vàng lần thứ 49 vào tháng 1 năm 1992,[53] và 2 giải Grammy cho "Ca khúc sáng tác hay nhất cho các phương tiện nghe nhìn" và "Trình diễn đôi hay nhóm nhạc pop hay nhất".[54][55] Sau cùng, "Beauty and the Beast" được phát hành làm đĩa đơn đầu tiên trích từ album cùng tên mà Dion phát hành vào năm 1992, một sản phẩm tiếp tục mang những ảnh hưởng mạnh mẽ của dòng nhạc pop rock, soul và cổ điển, khi cô hợp tác với các tên tuổi lớn như David Foster và Diane Warren. Album đạt được những thành công nhất định, khi cho phát hành 6 đĩa đơn xuyên suốt đến năm 1993, có bao gồm đĩa đơn thứ 3 đạt top 10 Billboard Hot 100 của Dion, "If You Asked Me To".[45]

Cũng trong thời gian này, Dion cho phát hành album tiếng Pháp Dion chante Plamondon. Album chủ yếu bao gồm các bài hát thể hiện lại, với 4 bài hát gốc: "Des mots qui sonnent", "Je danse dans ma tête", "Quelqu'un que j'aime, quelqu'un qui m'aime" và "L'amour existe encore".[56] Album này ban đầu được phát hành riêng tại Canada và Pháp vào thời điểm năm 1991-92 trong sự đón nhận nồng nhiệt của khán giả, khi đều 2 lần được chứng nhận Bạch kim tại hai quốc gia trên.[48][57] Vào năm 1994, album được phát hành trên toàn cầu, đánh dấu lần ra mắt rộng rãi đầu tiên ở một album tiếng Pháp của Dion. Cho đến nay, album đã đạt mốc 2 triệu bản trên toàn cầu,[58][59] với 275,000 bản được tiêu thụ từ thị trường Hoa Kỳ.[60]

Vào năm 1992, nhờ vào hai album UnisonCeline Dion cùng tần suất xuất hiện dày đặc của Dion trên các phương tiện truyền thông mà cô gặt hái được thành công lớn ở khu vực Bắc Mỹ.[49] Tuy nhiên, khi Dion đang hưởng những thành công mà cô đạt được ở Bắc Mỹ, những người hâm mộ của cô ở Canada lại lên tiếng chỉ trích vì sao lãng họ.[17][61] Cô lấy lại được lòng yêu mến từ người hâm mộ địa phương tại lễ trao giải Félix, khi từ chối nhận giải "Nghệ sĩ Anh Quốc của năm" và khẳng định cô đã–và sẽ luôn–là nghệ sĩ người Pháp, không phải người Anh.[8][62] Cũng trong thời gian này, Dion giữ kín mối quan hệ tình cảm cùng quản lý René Angélil, người vốn lớn hơn Dion những 26 tuổi, khi cho rằng giới truyền thông có thể nhận định đây là một mối quan hệ không thích đáng.[63]

1993–95: The Colour of My LoveD'eux[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1993, Dion chính thức công bố về mối tình của cô cùng Angélil và đưa mối quan hệ của họ vào việc thực hiện album phòng thu tiếng Anh thứ ba mang tên The Colour of My Love. Trái với những lo lắng ban đầu về giới truyền thông, người hâm mộ lại tỏ ra ủng hộ cho cặp đôi của họ.[17] Sau cùng, Angélil và Céline đã cùng nhau tổ chức một đám cưới xa hoa vào tháng 12 năm 1994 tại Notre-Dame Basilica ở Montreal, tỉnh Quebec.[64][65]

The Colour of my Love vẫn tiếp tục mang chủ đề về tình cảm lứa đôi giống như hầu hết các album khác của Dion, với sự hợp tác với các tên tuổi như David Foster, Ric Wake, Guy Roche, Walter Afanasieff, Christopher NeilDiane Warren.[66] Đây là một trong những album thành công nhất trong sự nghiệp của Dion, khi cán mốc 20 triệu bản trên toàn cầu,[67][68] với 6 triệu bản từ Hoa Kỳ,[69] 2 triệu bản từ Canada,[70] và 1,8 triệu bản tại Anh Quốc.[71] Album đã cho phát hành tổng cộng 8 đĩa đơn xuyên suốt từ năm 1993 đến năm 1995, trong đó có đĩa đơn đầu tiên của Dion đạt ngôi đầu bảng tại Hoa Kỳ "The Power of Love".[45] Đây là một bài hát được Dion thể hiện lại từ bản thu âm gốc ăn khách của Jennifer Rush vào năm 1985,[72] mà sau đó đã trở thành một trong những bài hát trứ danh của Dion cho đến khi cô đạt đến đỉnh cao của sự nghiệp vào cuối thập niên 1990. Đĩa đơn cũng đồng thời đạt ngôi đầu bảng tại Canada[73] và Úc.[74][39] Đĩa đơn "When I Fall in Love" mà Dion song ca cùng Clive Griffin nhận được thành công vừa phải tại Hoa Kỳ và Canada, đồng thời đem về giải Grammy cho "Phối khí hiệu quả nhất".[75] Một đĩa đơn khác được trích từ album này mang tên "Think Twice" đạt thành công lớn tại Anh Quốc, khi có 7 tuần không liên tiếp đứng ở ngôi đầu bảng, trở thành đĩa đơn thứ tư đạt ngưỡng 1 triệu bản bởi một nữ nghệ sĩ[76] và vẫn đang là một trong những đĩa đơn bán chạy nhất trong lịch sử.[77]

Trong thời điểm đạt thành công tại Hoa Kỳ, Dion vẫn tiếp tục cho phát hành xen kẽ nhiều bản thu âm tiếng Pháp,[78] khi mà chúng vẫn nhận được sự tín nhiệm hơn các sản phẩm tiếng Anh của cô.[61] Cô cho ra mắt một album trực tiếp mang tên À l'Olympia được thu lại từ một đêm diễn tại Paris Olympia vào năm 1994. Một phiên bản trực tiếp của "Calling You" được phát hành làm đĩa đơn quảng bá và đạt đến vị trí thứ 75 tại Pháp.[79] Cô còn thu âm một phiên bản song ngữ của Petit Papa Noël cùng Alvin and the Chipmunks, nằm trong album Giáng sinh A Very Merry Chipmunk (1994). Cô tiếp tục cho phát hành D'eux (còn được biết đến như The French Album tại Hoa Kỳ) vào năm 1995 và sau đó trở thành album tiếng Pháp bán chạy nhất mọi thời đại.[78] Hầu hết các bài hát trong album này được sáng tác và sản xuất bởi Jean-Jacques Goldman và nhanh chóng đạt được thành công lớn cùng các đĩa đơn "Pour que tu m'aimes encore" và "Je sais pas", khi "Pour que tu m'aimes encore" đạt ngôi quán quân tại Pháp trong vòng 12 tuần lễ và đạt chứng nhận Bạch kim.[80] Tại Anh và Ireland, bài hát tiếp tục giữ ngôi quán quân, một trường hợp hiếm thấy ở một bài hát tiếng Pháp. Đĩa đơn thứ hai "Je sais pas" tiếp tục đạt ngôi quán quân tại Pháp và được chứng nhận Bạc tại đó.[81] Hai bài hát này tiếp tục được tái phát hành và đổi tên thành "If That's What It Takes" và "I Don't Know" trong album phòng thu tiếng Anh kế tiếp của Dion, Falling into You.

Từ giữa thập niên 1990 trở đi, các album của Dion đều được chủ yếu gầy dựng từ nên tảng là các bản ballad cường điệu đương đại trưởng thành, xen kẽ với các bản nhạc pop tiết tấu nhanh và nhiều thể loại âm nhạc khác.[82] Cô cũng tham gia hợp tác với nhiều tác giả và nhà sản xuất kỳ cựu như Jim Steinman và David Foster, nhằm giúp cô phát triển dòng âm nhạc cho riêng mình.[17][83] Trong khi gặp phải những luồng đánh giá trái chiều, các sản phẩm của Dion lại gặt hái thành công tại thị trường quốc tế, giúp cô lần thứ 3 đoạt giải World Music Award trong hạng mục "Nữ nghệ sĩ thu âm bán chạy nhất thế giới của năm" vào năm 1996. Cũng trong thời gian này, cô được nhìn nhận là một trong những nghệ sĩ âm nhạc có số doanh thu lớn nhất mọi thời đại.[84]

1996–99: Falling into You, Let's Talk About LoveS'il suffisait d'aimer[sửa | sửa mã nguồn]

Album tiếng Anh thứ tư của Dion, Falling into You (1996) đã đưa tên tuổi cô đến đỉnh cao danh vọng và thể hiện một bước phát triển lớn trong âm nhạc của cô.[63] Nhằm tiếp cận được tới nhiều đối tượng người nghe hơn, album này tổng hòa nhiều yếu tố âm nhạc khác nhau, như những phần hợp diễn phức tạp của dàn nhạc, âm hưởng thánh ca châu Phi và các hiệu ứng âm thanh được dày công trau chuốt chi tiết. Thêm vào đó, một số nhạc cụ như vĩ cầm, ghi-ta Tây Ban Nha, trombone, cavaquinhosaxophone cũng được sử dụng nhằm góp phần tạo nên những hợp âm mới.[85] Ca khúc chủ đề "Falling into You" và "River Deep, Mountain High" (một bản thể hiện lại từ Tina Turner) sử dụng nhiều nhạc cụ bộ gõ, "It's All Coming Back to Me Now" (thể hiện lại từ bản gốc của Jim Steinman) và "All By Myself" (thể hiện lại từ bản gốc của Eric Carmen) vẫn duy trì được không khí nhạc soft rock, đồng thời kết hợp với âm thanh đàn piano cổ điển; và đĩa đơn đứng đầu "Because You Loved Me", được sáng tác bởi Diane Warren, là một khúc ballad lắng sâu từng được chọn làm nhạc nền trong bộ phim Up Close & Personal năm 1996.[84]

Falling into You là tác phẩm được khen ngợi về mặt chuyên môn nhất trong sự nghiệp của Dion. Trong khi Dan Leroy cho rằng album này không có nhiều khác biệt so với những nhạc phẩm trước đó của cô,[86] cũng như Stephen Holden của The New York Times và Natalie Nichols của The Los Angeles Times nhận xét rằng nó vẫn "theo khuôn mẫu cũ",[87][88] thì các nhà phê bình khác, như Chuck Eddy của Entertainment Weekly, Stephen Thomas Erlewine của AMG và Daniel Durchholz, khen ngợi album này "đầy sức thuyết phục", "nồng nàn", "độc đáo", "tinh tế" và "công phu một cách đáng kể".[85][89] Falling into You trở thành album thành công nhất của Dion về thương mại, khi đứng đầu bảng xếp hạng tại nhiều quốc gia trên thế giới và là một trong những album bán chạy nhất mọi thời đại.[90] Vào năm 2013, CBC Music xếp Falling into You vào vị trí thứ 33 trong danh sách 100 album Canada xuất sắc nhất mọi thời đại.[91] Tại Hoa Kỳ, album này vươn đến vị trí số 1,[92] và được chứng nhận 11 lần Bạch kim, tương đương hơn 11 triệu ấn bản được tiêu thụ.[93] Tại Canada, album được chứng nhận Kim Cương với hơn 1 triệu ấn bản.[94] Falling into You được chứng nhận 9 lần Bạch kim bởi Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế (IFPI), thành tích vốn chỉ có 2 album nữa đạt tới, mà một trong số đó là Let's Talk About Love, 1 album khác của Dion.[95] Album còn đem về cho Dion hai giải Grammy danh giá cho "Album giọng pop xuất sắc nhất" và "Album của năm" tại buổi lễ trao giải diễn ra vào ngày 26 tháng 2 năm 1997.[96] Vị thế của Dion trên trường quốc tế còn được khẳng định hơn nữa khi cô được đề nghị biểu diễn "The Power of the Dream" tại buổi lễ khai mạc Thế vận hội Olypic Atlanta 1996.[97] Từ tháng 3 năm 1996, cô bắt đầu chuyến lưu diễn Falling into You Tour để quảng bá thêm cho album mới và biểu diễn trên khắp thế giới trong vòng hơn một năm.[98]

Céline Dion trình diễn "River Deep – Mountain High" cùng các vũ công trong Taking Chances World Tour vào tháng 9 năm 2008.

Let’s Talk About Love (1997) được Dion công bố phát hành như là phần tiếp sau của Falling into You.[99] Quá trình thu âm diễn ra ở Luân Đôn, New YorkLos Angeles, cùng với sự góp mặt của nhiều khách mời đặc biệt như Barbra Streisand trong "Tell Him"; nhóm Bee Gees trong "Immortality"; ca sĩ tenorgiọng nam cao nổi tiếng thế giới Luciano Pavarotti trong "I Hate You Then I Love You".[63][100] Carole King, Sir George Martin, Bryan Adams cũng tham gia góp mặt trong album, cùng với ca sĩ người Jamaica Diana King, người mang đến âm hưởng reggae đến cho ca khúc "Treat Her Like a Lady".[101] Giống như Falling into You, Let's Talk About Love mang về thành công rực rỡ cho Dion, khi giữ ngôi quán quân trên các bảng xếp hạng xuyên khắp thế giới, đạt chứng nhận Bạch kim chỉ sau 24 giờ phát hành và trở thành album tiêu thụ nhanh nhất trong sự nghiệp của cô.[102] Tại Hoa Kỳ, album giành vị trí quán quân sau bảy tuần lên kệ,[103] và được 10 lần chứng nhận Bạch kim, tương đương với doanh số đạt mốc 10 triệu bản tại Hoa Kỳ.[104] Tại Canada, album đạt 230,212 bản ngay trong tuần đầu tiên ra mắt, lập nên kỷ lục vẫn còn kéo dài cho đến nay.[105] Album này sau cùng được chứng nhận Kim cương tại Canada với hơn 1 triệu ấn bản tiêu thụ.[106][107] Đĩa đơn thành công nhất trích từ album này là bản ballad mang ảnh hưởng sâu sắc từ nhạc cổ điển "My Heart Will Go On", do James HornerWill Jennings viết lời và soạn nhạc, trong khi được sản xuất bởi HornerWalter Afanasieff.[96] Được chọn làm ca khúc chủ đề cho bộ phim bom tấn Titanic, bài hát nhanh chóng dẫn đầu các bảng xếp hạng trên toàn cầu và trở thành bài hát trứ danh trong sự nghiệp của Dion;[108] đồng thời đem về chiến thắng lớn cho Dion tại nhiều giải thưởng, như giải Oscar cho "Bài hát gốc hay nhất",[109] Giải Quả cầu vàng cho "Ca khúc trong phim hay nhất"[110] và 4 giải Grammy danh giá, trong đó có lần giành giải đầu tiên của một nghệ sĩ gốc Canada cho "Thu âm của năm" và hạng mục "Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất".[111][112] Đây là đĩa đơn thành công nhất trong sự nghiệp của Dion và là một trong những đĩa đơn bán chạy nhất trong lịch sử, với lượng doanh số đã đạt ngưỡng 15 triệu bản trên toàn cầu.[113] Tại Anh Quốc, Dion là nữ nghệ sĩ duy nhất trong lịch sử có hai đĩa đơn đạt 1 triệu bản với "My Heart Will Go On" và "Think Twice".[114] Để tiếp tục quảng bá cho album, Dion khởi động chuyến lưu diễn Let’s Talk About Love Tour, kéo dài từ năm 1998 đến năm 1999.[115]

Dion kết thúc thập niên 90 bằng 3 album phòng thu đạt thành công lớn ở thị trường quốc tế.[11] These Are Special Times (1998) là một ấn phẩm dịp lễ Giáng Sinh mà Dion có đồng sáng tác cho bài hát "Don't Save It All For Christmas Day" cùng với Ric WakePeter Zizzo.[116] Đây là sản phẩm chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất từ dòng nhạc cổ điển của Dion, với sự góp mặt của những đoạn nhạc tấu bởi dàn nhạc thính phòng ở hầu hết các ca khúc.[117] Album cho phát hành đĩa đơn "I'm Your Angel", một bản song ca của Dion cùng R. Kelly, mà sau đó trở thành đĩa đơn quán quân tại Hoa Kỳ thứ tư của cô, cũng như đạt thành công lớn trên toàn cầu.[118][119] Cô tiếp tục cho phát hành All the Way... A Decade of Song (1999), một album tổng hợp những bài hát thành công nhất của Dion cùng 7 bài hát mới, có bao gồm các đĩa đơn "That's the Way It Is", bản thể hiện lại "The First Time Ever I Saw Your Face" từ Roberta Flack và phiên bản kết hợp cùng Frank Sinatra trong "All the Way".[11] All the Way... A Decade of Song trở thành một trong những album tuyển tập bán chạy nhất mọi thời đại và đạt ngôi đầu bảng tại Hoa Kỳ trong 3 tuần lễ.[92] Album sau đó được chứng nhận 7 lần Bạch kim tại Hoa Kỳ với 7 triệu bản được tiêu thụ,[120] trong khi dẫn đầu các bảng xếp hạng tại Anh Quốc,[121] Canada,[122] và Úc.[123] Album tiếng Pháp cuối cùng của Dion trong thập niên 1990, S'il suffisait d'aimer (1998) cũng đạt không kém thành công, khi đạt ngôi quán quân tại hầu hết các bảng xếp hạng âm nhạc có uy tín tại Pháp,[124] Thụy Sĩ,[125] miền Nam nước Bỉ,[126] Canada,[122] và các nước nói tiếng Pháp khác. Riêng tại Pháp, album được chứng nhận Kim cương với doanh số đạt 1.5 triệu bản.[127] Cho đến những năm cuối của thập niên 90, Céline Dion đã bán được hơn 100 triệu album trên toàn thế giới và đạt được vô số giải thưởng âm nhạc danh giá.[11] Vị thế của Dion như là một trong những diva nhạc pop thành công nhất của ngành công nghệp âm nhạc lại càng thêm vững chắc hơn, khi cô được mời biểu diễn trong chương trình đặc biệt Divas Live của VH1 vào năm 1998 cùng với những ngôi sao hàng đầu khác như Aretha Franklin, Gloria Estefan, Shania TwainMariah Carey.[128] Cũng trong năm đó, cô được phong tặng hai trong số những danh hiệu cao quý nhất tại quê nhà Canada: "Thành viên của Hiệp hội Canada dành cho Những đóng góp quan trọng cho thế giới âm nhạc đương đại" và "Thành viên của Hội Quốc gia Quebec".[129] Một năm sau, Dion được công nhận là thành viên trong Đại sảnh Danh vọng và được vinh danh bằng một ngôi sao khắc trên Đại lộ Danh vọng của Canada.[130]

Vào giữa thập niên 90, các ảnh hưởng từ dòng nhạc pop rock vốn rất nổi bật trong những nhạc phẩm trước đó của Dion lại được thay thế bởi các âm hưởng của đương đại trưởng thành.[99] Dù vậy, chủ đề tình cảm lứa đôi vẫn được cô sử dụng triệt để trong các tác phẩm của mình, khiến một số nhà phê bình cho rằng âm nhạc của cô đang dần trở nên vô vị.[131] Một số nhà phê bình khác như Elysa Gardner và Jose F. Promis, lại đặc biệt tán dương giọng hát của cô trong giai đoạn này, khi mô tả nó là "thành công kỳ diệu về mặt kĩ thuật [thanh nhạc]".[132][133] Trong bài đánh giá These Are Special Times, Steve Dollar tiếp tục khẳng định việc Dion là "đỉnh Olympus khổng lồ về thanh nhạc mà không có ngọn núi nào – hay kích thước nào – cao hơn thế."[134]

2000–03: Tạm vắng bóng, A New Day Has Come, One Heart1 fille & 4 types[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thời gian dài hoạt động trong ngành giải trí, Dion quyết định tạm ngưng ca hát để vun đắp cho gia đình, cùng lúc khi Angélil được chuẩn đoán mắc bệnh ung thư vòm họng vào đầu thập niên 2000.

Sau khi phát hành và thực hiện quảng bá cho 13 album trong thập niên 1990, Dion khẳng định việc cô cần phải tìm một bến đỗ cho bản thân, muốn tạm rời khỏi ánh đèn sân khấu và tận hưởng cuộc sống riêng.[12][135] Cũng trong thời gian này, Angélil cũng được chuẩn đoán mắc bệnh ung thư vòm họng.[136] Sau khi tình hình sức khỏe của Angélil trở nên khả quan hơn, cả hai đã lấy nhau lần nữa vào năm 2000.[64] Vào tháng 5 cùng năm, Dion thực hiện hai ca tiểu phẫu tại một phòng khám chuyên khoa sản tại New York để cải thiện cơ hội có con, sau khi cô quyết định sử dụng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm để hỗ trợ sinh sản.[137] Đứa con trai đầu lòng của họ, René-Charles Angelil, được hạ sinh vào ngày 25 tháng 1 năm 2001 tại Florida.[138][139][140] Trong năm 2000, báo National Enquirer có xuất bản một câu chuyện sai lệch về cô, khi đưa ra một bức ảnh của vợ chồng Dion và cố ý trích sai lời của cô, với tựa đề "Tôi đang mang thai một cặp sinh đôi!".[141] Dion sau đó đã đâm đơn kiện tòa soạn về vụ việc này và yêu cầu bồi thường hơn 20 triệu đô-la Mỹ.[141] Các biên tập viên từ Enquirer đã phải in một văn bản xin lỗi và đính chính lại hoàn toàn những điều đã viết về Dion trong số tiếp theo, đồng thời ủng hộ cho Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ để thể hiện sự tôn trọng với Dion và chồng cô.[141] Sau sự kiện ngày 11 tháng 9, Dion quay trở lại với âm nhạc, mở đầu bằng màn biểu diễn bài hát "God Bless America" trong buổi hoà nhạc từ thiện America: A Tribute for Heroes. Chuck Taylor của Billboard cho rằng "màn trình diễn… gợi nhắc lại tất cả những gì giúp cô ấy trở thành một trong những giọng ca xuất sắc nhất của thời đại này: khả năng truyền cảm tuyệt vời có thể lay động cả tâm hồn. Xúc động, ý nghĩa và đầy uyển chuyển, đó chính là những cảm nhận bằng âm nhạc được chia sẻ với tất cả chúng ta, những người hãy còn đang tìm cách đối diện".[142] Cô cũng trình diễn lại ca khúc này trong các hoạt động lễ hội trước giải đấu Super Bowl XXXVII tại San Diego.[143] Trong tháng 12, Dion xuất bản cuốn tự truyện My Story, My Dream, kể lại câu chuyện cuộc đời cô đi từ nghèo khó đến danh vọng và sự giàu có ngày nay.[144]

Dion chính thức chấm dứt ba năm tạm lui khỏi ngành công nghiệp âm nhạc bằng album A New Day Has Come (2002).[145] Được nhìn nhận là sản phẩm mang tính riêng tư nhất của Dion, album bao gồm nhiều bài hát tập trung vào chủ đề làm mẹ và nét từng trải của một người phụ nữ, thể hiện rõ rệt ở bài hát "A New Day Has Come" và "Goodbye's (The Saddest Word)". Cô từng chia sẻ "A New Day Has Come, đối với tôi và Rene, chính là ở đứa bé. Tất cả đều hướng đến đứa bé... A New Day Has Come mô tả rất rõ tâm trạng tôi ngay lúc này. Bài hát đó đại diện cho toàn bộ album",[146] đồng thời cho rằng "làm mẹ khiến bạn thực sự trưởng thành".[135] A New Day Has Come đứng đầu tại hơn 17 quốc gia, trong đó có Anh Quốc và Canada.[147][148][149] Tại Hoa Kỳ, album giành vị trí đầu bảng trên Billboard 200 với doanh thu tuần đầu tiên chạm mốc 527,000 bản; trở thành album đầu tiên của Dion mở đầu tại ngôi quán quân, và là album có doanh thu mở đầu thành công nhất trong sự nghiệp của Céline tại Hoa Kỳ.[150] Sau cùng, album này được 3 lần chứng nhận Bạch kim tại Hoa Kỳ,[151] và 6 lần Bạch kim tại Canada.[152]

Dion trình bày "God Bless America" vào năm 2002.

Trong khi đạt thành công lớn về mặt thương mại, giới chuyên môn lại cho rằng album này "mờ nhạt" và chỉ trích phần ca từ "vô hồn".[153] Cả Rob Sheffield của tạp chí Rolling Stone, và Ken Tucker của Entertainment Weekly đều cho rằng âm nhạc của Dion không có thêm bước tiến đáng kể nào sau thời gian tạm nghỉ và liệt các nhạc phẩm của cô vào hạng nhàm chán và tầm thường.[154][155] Sal Cinquemani của tạp chí Slant gọi album này là "một bộ sưu tập dài hơi gồm những bản nhạc pop ủy mị, sướt mướt".[156] Đĩa đơn đầu tiên trích từ album, "A New Day Has Come" đạt đến vị trí số 22 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 trong khi chỉ được phát trên sóng truyền thanh. Trên Hot Adult Contemporary Tracks, bài hát có đến 21 tuần giữ vững ngôi vị quán quân, phá vỡ kỷ lục cho lần soán ngôi dài nhất trong 19 tuần của "You'll Be in My Heart" của Phil Collins và "Because You Loved Me" của chính Dion.[157] Trong năm 2002, cô tham gia nhiều buổi trình diễn ca nhạc từ thiện và chương trình hòa nhạc gây quỹ Save The Music Foundation của VH1 Divas Live cùng với Cher, Anastacia, Dixie Chicks, Mary J. Blige, Whitney Houston, Cyndi Lauper, ShakiraStevie Nicks.[158]

Cũng nằm trong hợp đồng cùng nhãn hàng Chrysler, Dion cho ra mắt One Heart (2003), một album thể hiện sự trân trọng đối với cuộc sống của cô.[159] Phần lớn album mang ảnh hưởng của dòng nhạc pop và dance – một sự chuyển đổi từ hơi hướng ballad cường điệu cao vút thường thấy ở cô. Cho dù One Heart đạt được những thành công nhất định về mặt thương mại, đây lại là một album nhận được nhiều luồng đánh giá trái chiều, với những từ ngữ như "dễ đoán trước" và "xoàng xĩnh" được xuất hiện ngay cả trong những bài đánh giá mang tính chiếu cố nhất.[160][161] Một phiên bản trình bày lại mang âm điệu kết hợp giữa dance-poprock and roll của "I Drove All Night" từ bản gốc ăn khách của Cyndi Lauper vào năm 1968 được phát hành để khởi động chiến dịch quảng bá mới với Chrysler.[162] Chiến dịch được diễn ra trong nhiều lời chỉ trích, với ý kiến cho rằng Dion chỉ đang cố làm vừa lòng các nhà tài trợ.[163] Tuy nhiên, một số người khác như Bonita Stewart, giám đốc bộ phận Truyền thông quảng bá của Chrysler, phát biểu rằng "Chrysler bị lay chuyển bởi cô ấy vượt qua cả những ranh giới về dân tộc". Stewart cũng nói thêm: "Cô ấy đem đến sự tinh tế, nét lãng mạn và đam mê đến cho nhãn hiệu của chúng tôi."[164]

Sau One Heart, Dion cho phát hành album phòng thu tiếng Anh tiếp theo, Miracle (2004). Miracle là một dự án đa phương tiện được Dion và nhiếp ảnh gia Anne Geddes ấp ủ từ trước, lấy đề tài về những đứa trẻ và bổn phận làm mẹ. Album bao gồm nhiều bài hát ru và các ca khúc viết về tình mẫu tử, với hai phiên bản trình bày lại từ của "What a Wonderful World" của Louis Armstrong và "Beautiful Boy" cỉa John Lennon. Miracle tiếp tục nhận được những phản hồi trái chiều,[165] khi Stephen Thomas Erlewine từ Allmusic phong tặng album này 3 trên 5 sao và cho rằng "Điều tệ nhất mà bạn có thể nói về album này là ở việc không có một bất ngờ nào, nhưng khán giả của bản thu âm này không cần đến những bất ngờ đó; điều họ muốn là sự thoải mái, dù là đến từ những ca từ thanh nhã hay những bức ảnh nghệ thuật của các bé sơ sinh. Miracle đã mang lại cả hai điều đó, khiến album này trở nên thật gần gũi và xúc động với những thính giả của Dion, nhất là những bà mẹ đang mang thai hay vừa chào đón đứa con của mình."[165] Chuck Taylor của tạp chí Billboard đánh giá đĩa đơn "Beautiful Boy" là "một viên ngọc quý không ngờ tới" và gọi Dion là "người nghệ sĩ tài năng phi thường và bất hủ";[166] Chuck Arnold từ People lại cho rằng bản thu âm này quá mức ủy mị,[167] trong khi đó Nancy Miller của Entertainment Weekly có phát biểu "Toàn bộ màn diễn đất mẹ thiêng liêng này chỉ là chủ nghĩa cơ hội, tái sinh trở lại".[168] Miracle đứng thứ 4 trên Billboard 200 trong lần đầu ra mắt và dẫn đầu tại Canada, sau đó được chứng nhận bạch kim bởi RIAA.[169]

Dion cho phát hành album tiếng Pháp 1 fille & 4 types (2003) (tạm dịch: 1 cô gái & 4 chàng trai), với âm điệu khác biệt hơn so với hai tác phẩm trước đó của cô và cho thấy Dion đang cố gắng tách mình ra khỏi hình tượng "diva". Cô tham gia hợp tác cùng Jean-Jacques Goldman, Gildas Arzel, Eric Benzi, và Jacques Veneruso,[170] những người từng giúp đỡ cô hoàn thành hai album tiếng Pháp rất thành công trước đó, S'il suffisait d'aimerD'eux.[171] Được chính Dion nhìn nhận là "album của niềm vui", với ảnh bìa là hình ảnh của cô trong phong thái giản dị mà ung dung, khắc hẳn với những tư thế chụp hình được chỉnh sửa cẩn thận bởi nhiếp ảnh gia trong những album cũ. Album này thu được thành công thương mại rộng khắp ở Pháp, Canada và Bỉ, những nơi mà nó đứng đầu trên các bảng xếp hạng. Tại Pháp, album giành ngôi quán quân ngay trong tuần đầu ra mắt và giữ vững trong 4 tuần không liên tiếp,[172] đồng thời được chứng nhận 2 lần Bạch kim sau khi tiêu thụ được hơn 700,000 ấn bản,[173] và là album bán chạy thứ 5 trong năm 2003.[174][175] Tại Canada, album nhảy lên ngôi quán quân lần thứ 2 trong chưa đầy 7 tháng,[176] với doanh số tuần đầu đạt 44,532 bản, bao gồm 42,500 bản tại tỉnh Quebec,[176][177] trở thành album phòng thu thứ 6 đạt ngôi đầu trong thời kỳ của SoundScan và là album thứ 4 của cô mở đầu tại ngôi vị số 1.[176] Album nhận được những phản hồi khả quan từ phía các nhà phê bình, khi cô được nhìn nhận "đã trở lại thời kì hoàng kim" và "đang dần trở về với căn bản nhạc pop và biểu diễn ở một trình độ mà chúng ta đã không được nghe trong suốt một thời gian dài."[178]

Mặc dù các album của cô đều có doanh thu đáng nể, chúng vẫn không thể vượt qua những sản phẩm trước kia của cô cả về thành công thương mại và sự đón nhận của thính giả. Các ca khúc cũng được phát truyền thanh ít hơn do chúng không còn chào đón những ca sĩ ballad như Dion, Houston hay Carey như trước, thay vào đó lại tập trung vào các ca khúc mang tiết tấu nhanh và thuộc thể loại Urban/Hip-hop.[179] Dù vậy, doanh số album đến năm 2004 của Dion đã tăng lên 175 triệu bản trên toàn thế giới và được trao tặng giải thưởng Chopard Diamond từ World Music Awards cho những thành tựu đã đạt được.[180] Theo trang mạng chính thức của giải thưởng, đây là một giải thưởng hiếm có, khi "không được trao tặng hàng năm" và chỉ dành cho những nghệ sĩ đạt "hơn 100 triệu album trong sự nghiệp của mình".[181]

2003–07: A New Day...[sửa | sửa mã nguồn]

Biển hiệu quảng bá cho đêm diễn của Dion tại Caesars Palace, Las Vegas.

Đầu năm 2002, Dion thông báo về hợp đồng kéo dài ba năm với 600 đêm diễn và tần suất năm ngày mỗi tuần trong chương trình nghệ thuật hoành tráng A New Day... được tổ chức tại đại khán phòng của Caesars Palace thuộc Las Vegas.[14] Hành động này được nhìn nhận là "một trong những quyết định lựa chọn công việc khôn ngoan nhất của các nghệ sĩ trong nhiều năm qua".[182] Cô ấp ủ ý tưởng cho chương trình này sau khi được xem chương trình O do Franco Dragone tổ chức dàn dựng trong khoảng thời gian tạm ngưng các hoạt động âm nhạc, và được chính thức mở cửa từ ngày 25 tháng 3 năm 2003 trong một vũ đài rộng lớn với hơn 4000 chỗ ngồi được thiết kế theo các Đấu trường La Mã.[14] Nhiều ngôi sao đã tới tham dự đêm diễn đầu tiên, trong đó có Dick Clark, Alan Thicke, Kathy Griffin, và người chủ trì đêm diễn đặc biệt trên truyền hình Justin Timberlake.[183] Buổi biểu diễn, được xây dựng và chỉ đạo bởi Dragone, là sự kết hợp của âm nhạc, các vũ điệu và hiệu ứng hình ảnh, mà ở đó Dion trình bày những ca khúc nổi tiếng nhất của mình, tương phản với một đoàn các vũ công nhảy múa trên nền những hiệu ứng đặc biệt. Nhà phê bình Mike Weatherford cho rằng Dion tỏ ra không thoải mái khi diễn vào lúc đầu, nhưng được cải thiện đáng kể nhờ có sự xuất hiện tự tin hơn của Dion trên sân khấu và đơn giản hóa các trang phục biểu diễn.[108]

Chương trình này được đón nhận nồng nhiệt bởi nhiều khán giả, mặc dù có vài lời phàn nàn về giá vé khá cao, trung bình khoảng 135.33 đô-la Mỹ;[184] vé vào cửa vẫn thường xuyên được bán hết trước khi bắt đầu công diễn, ngay cả ở những đêm diễn cuối cùng vào năm 2007.[185] Theo Pollstar, Dion đã bán hơn 322,000 vé và thu về 43.9 triệu đô-la Mỹ chỉ trong vòng 6 tháng đầu năm 2005, và đến tháng 7 cùng năm, cô đã bán hết toàn bộ 315 trên tổng số 384 buổi biểu diễn.[186] Tính đến cuối năm 2005, doanh thu của cô vượt hơn 76 triệu đô-la Mỹ, đứng thứ 6 trong "Danh sách nghệ sĩ kiếm tiền giỏi nhất năm" của Billboard.[187] Nhờ vào sự thành công của chương trình, hợp đồng của cô được kéo dài đến năm 2007 bởi tổng thu không được tiết lộ. Vào ngày 5 tháng 1 năm 2007, thông báo kết thúc chương trình ngày 15 tháng 10 năm 2007 được công bố, và vé cho giai đoạn từ tháng 10 cho đến ngày cuối cùng bắt đầu được bán ra từ ngày 1 tháng 3.[188] Trong suốt thời gian hoạt động, chương trình thu về tổng cộng 400 triệu đô-la Mỹ với hơn 3 triệu người hâm mộ đến xem.[189][190] DVD Live in Las Vegas - A New Day... được phát hành vào ngày 10 tháng 12 năm 2007 tại Châu Âu và một ngày sau đó tại Bắc Mỹ.[191]

2007–10: D'elles, Taking ChancesTaking Chances Tour[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 21 tháng 5 năm 2007, Dion cho ra mắt album tiếng Pháp D'elles (tạm dịch: Về họ), nhanh chóng mở đầu tại ngôi quán quân ở Canada với 72,200 bản trong tuần lễ đầu. Đây là album thứ 10 của cô giữ ngôi đầu bảng trong thời kì SoundScan, cũng là album thứ 8 đạt ngôi quán quân ngay trong những ngày đầu được phát hành, và đã được chứng nhận 2 lần Bạch kim tại đó. Chưa đầy một tháng ra mắt, D'Elles đã tiêu thụ nửa triệu bản trên toàn cầu,[192] đồng thời đứng đầu bảng xếp hạng tại Pháp và Bỉ. Đĩa đơn đầu tiên, "Et s'il n'en restait qu'une (je serais celle-là)" (tạm dịch: "Nếu như trên đời này chỉ còn duy nhất một người phụ nữ (Em sẽ chính là người phụ nữ ấy)") giành ngôi quán quân tại Pháp sau một tháng phát hành. Dion tiếp tục cho phát hành album tiếng Anh Taking Chances (2007) vào ngày 12 tháng 11 tại Châu Âu và ngày 13 tháng 11 tại Bắc Mỹ.[193] Với cương vị là đĩa thu âm tiếng Anh đầu tiên của Dion kể từ 'One Heart năm 2003, album này bao gồm các yếu tố của dòng nhạc pop, R&B, và rock,[194] với sự hợp tác cùng John Shanks, cựu thành viên Evanescence kiêm guitar Ben Moody, Kristian Lundin, Peer Astrom, Linda Perry, ca sĩ người Nhật Yuna Ito và ca sĩ kiêm sáng tác nhạc R&B Ne-Yo.[195][196] Dion phát biểu rằng "Tôi nghĩ album này thể hiện sự tiến triển tích cực trong sự nghiệp của tôi… Tôi cảm thấy bản thân mình mạnh mẽ, có cả một chút dũng cảm hơn so với tôi của quá khứ, và vẫn luôn tràn đầy đam mê với âm nhạc và cuộc sống như xưa…".[197]

Dion trong chuyến lưu diễn Taking Chances Tour tại Bell Centre, Montréal vào ngày 19 tháng 8 năm 2008.

Cô khởi động chuyến lưu diễn kéo dài cả năm, Taking Chances Tour từ ngày 14 tháng 2 năm 2008 tại Nam Phi, biểu diễn trong 132 ngày tại các sân vận độngkhán phòng lớn khắp năm châu.[198] Taking Chances Tour đạt được thành công vang dội tại Hoa Kỳ, khi giành vị trí quán quân tại Billboard Boxscore,[199] bán cháy vé tại tất cả các đêm diễn tại Canada và Hoa Kỳ.[199] Thêm vào đó, cô còn xuất hiện trong chiến dịch Idol Gives Back hai năm liên tiếp.[200] Dion được đề cử cho tám hạng mục của Giải Juno năm 2008, nâng tổng số đề cử của cô lên con số 53, là nghệ sĩ đứng đầu trong số các nghệ sĩ Canada được đề cử. Các hạng mục mà Dion được nhận có bao gồm "Nghệ sĩ của năm", "Album nhạc pop của năm" (cho Taking Chances), "Album tiếng Pháp của năm" (cho D’elles) và "Album của năm" (cả Taking ChancesD’elles).[201] Năm tiếp theo, Dion được đề cử thêm ba hạng mục nữa của Giải Juno, gồm có "Lựa chọn từ người hâm mộ", "Ca khúc của năm" (cho Taking Chances) và "DVD âm nhạc của năm" (cho Live in Las Vegas - A New Day...).[202] Vào ngày 22 tháng 8, Celine Dion tham gia biểu diễn trong một chương trình hoàn toàn bằng tiếng Pháp và miễn phí ở khu vực bên ngoài bình nguyên Abraham tại thành phố Quebec, Canada nhân kỉ niệm 400 năm thành phố Quebec.[203] Buổi lễ này thu hút khoảng 490,000 người xem. Buổi trình diễn có tên Céline sur les Plaines, được phát hành dưới dạng DVD ngày 11 tháng 11 năm 2008 tại Quebec vào ngày 20 tháng 5 năm 2009 tại Pháp.[204] Vào cuối tháng 10, album tuyển tập các ca khúc tiếng Anh nổi bật đầu tiên của cô mang tên My Love: Essential Collection (2008) được ra mắt trên phạm vi toàn cầu với hai định dạng album khác nhau.[205]

Trong tháng 5 năm 2009, Celine được vinh danh là nghệ sĩ có doanh thu cao thứ 20 trong thập kỷ và là nữ nghệ sĩ bán chạy thứ hai trong 10 năm tại Hoa Kỳ, với tổng lượng album bán ra đạt 17.57 triệu bản kể từ năm 2000.[206] 1 tháng sau, tạp chí Forbes đưa tin thu nhập trong năm 2008 của cô đạt 100 triệu đô-la Mỹ. Vào tháng 9 cùng năm, Pollstar thông báo việc Dion là nghệ sĩ đơn ca lưu diễn bán chạy nhất thập kỷ và là nghệ sĩ lưu diễn thành công thứ hai trong thập kỷ, chỉ đứng sau Dave Matthews Band.[207] Dion đem về 522.2 triệu đô-la Mỹ trong một thập kỷ, mà phần lớn có được từ 5 năm biểu diễn tại Caesars Palace.[207] Ngày 17 tháng 2 năm 2010, Dion cho ra mắt bộ phim tài liệu về chuyến lưu diễn Taking Chances Tour dưới nhan đề Celine: Through the Eyes of the World.[208] Bô phim hé lộ nhiều cảnh hậu trường của Dion cả trên sân khấu và ngoài đời, cùng với các đoạn tài liều về cô và gia đình của mình khi họ đi cùng với cô trong chuyến lưu diễn này.[208] Hot Ticket, công ty con của Sony Pictures, chịu trách nhiệm giới thiệu và quảng bá truyền hình. Bộ phim được phát hành dưới các định dạng Blu-rayDVD cùng với CD/DVD Taking Chances World Tour: The Concert về chuyến lưu diễn cùng tên vào ngày 4 tháng 5 năm 2010.[209][210] Trong giải Grammy lần thứ 52 tổ chức vào tháng 2 năm 2010, Dion cùng với Carrie Underwood, Usher, Jennifer HudsonSmokey Robinson biểu diễn ca khúc "Earth Song" để tưởng nhớ về Michael Jackson.[211]

Céline Dion trình diễn "Eyes On Me" trong Taking Chances Tour tại Montréal, Canada vào tháng 8 năm 2008.

Trong tháng 1 năm 2010, Dion xếp đầu tiên trong danh sách tổng kết về 10 người có thu nhập cao nhất toàn thập niên của The Los Angeles Times, với tổng cộng 747.9 triệu đô-la Mỹ từ năm 2000 đến năm 2009.[212] Nguồn thu lớn nhất đến từ tiền vé ca nhạc, chiếm đến 522.2 triệu đô-la Mỹ.[212] Hơn nữa, Dion được vinh danh là "Nghệ sĩ của Thập kỷ" tại quê nhà Quebec, Canada theo tin tức đăng trên báo Le Journal de Quebec trong số tháng 12 năm 2009.[213] Một cuộc khảo sát trực tuyến trên mạng Internet đã được tiến hành để lấy ý kiến những người tham gia về nghệ sĩ nào xứng đáng với danh hiệu nêu trên.[213] Thêm vào đó, trong cuộc bình chọn Harris Poll vào tháng 5 năm 2010, Dion là nghệ sĩ được yêu mến nhất tại Hoa Kỳ, vượt qua cả U2, Elvis PresleyThe Beatles chiếu theo giới tính, quan điểm chính trị, khu vực sinh sống theo vị trí địa lý và thu nhập.[214] Cụ thể, Dion là được yêu thích nhất theo bầu chọn của nữ giới, của những người ủng hộ Đảng Dân chủ, của những người sống ở Đông và Nam Hoa Kỳ và của những người có thu nhập hàng năm khoảng 35 nghìn đến 74.9 nghìn đô-la Mỹ.[215][216] Trong tháng 9 năm 2010, cô ra mắt đĩa đơn "Volder", song ca cùng ca sĩ người Pháp Michel Sardou. Ca khúc này sau đó được đưa vào album của Sardou.[217] Trong tháng 10 cùng năm, cô viết lời và soạn nhạc cho một ca khúc của ca sĩ người Canada Marc Dupré, với nhan đề "Entre deux mondes".[218]

Vào tháng 5 năm 2010, Angelil thông báo việc Dion đã mang thai một cặp sinh đôi được 14 tuần sau 6 tháng áp dụng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm. Vào thứ 7, ngày 23 tháng 10 năm 2010, lần lượt vào lúc 11:11 và 11:12 sáng, tại St. Mary's Medical Center thuộc West Palm Beach, Florida, Dion hạ sinh một cặp anh em sinh đôi bằng phương thức mổ lấy thai.[219] Hai đứa trẻ có tên là Eddy, được đặt theo tên của nhà sáng tác và đồng sản xuất album trực tiếp đầu tay của Dion, Eddy Marnay; và Nelson, được đặt theo cựu Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela.[220] Dion có xuất hiện cùng hai đứa con mới sinh của mình trên bìa tạp chí Hello! vào số ngày 9 tháng 12 năm 2010.[221]

2011 – nay: Celine, Sans attendreLoved Me Back to Life[sửa | sửa mã nguồn]

Trong bài phỏng vấn cùng tạp chí People đăng trên số tháng 2 năm 2010, Dion thông báo về việc quay trở lại biểu diễn tại Caesars Palace thuộc Las Vegas với Celine, một chương trình kịch nghệ kéo dài 3 năm gồm 70 đêm diễn một năm, bắt đầu từ ngày 15 tháng 3 năm 2011.[222] Cô còn khẳng định việc chương trình này có thể bao gồm "tất cả những bài hát trong sự nghiệp của cô mà mọi người muốn được nghe" và có một loạt các ca khúc được lựa chọn từ những bộ phim kinh điển của Hollywood.[222] Để chuẩn bị cho sự trở lại của mình tại Las Vegas, Dion xuất hiện trong mùa cuối cùng của chương trình The Oprah Winfrey Show, đánh dấu lần xuất hiện thứ 27 của cô tại đó.[223][224] Thêm vào đó, cô lần thứ 6 tham gia biểu diễn tại Lễ trao giải Oscar lần thứ 83, với ca khúc "Smile" trong phần "In Memoriam" của buổi lễ.[225] Ngày 4 tháng 9, Dion có mặt tại sự kiện 2011 MDA Labor Telethon và công chiếu đoạn phim thu lại phần trình diễn ca khúc "Open Arms" của cô trong chương trình ở Las Vegas.[226] Ngày 1 tháng 10 năm 2011, OWN Network công chiếu bộ phim tài liệu về Dion, Celine: 3 Boys and a New Show, khi thuật lại những năm tháng trước khi cô mang thai sinh đôi cho đến quá trình thực hiện chương trình diễn mới tại Las Vegas;[227] được đông đảo công chúng đón nhận và nhanh chóng giành được vị trí thứ hai trong số những chương trình ăn khách nhất của TV OWN Canada. Trong tháng 9 cùng năm, Dion cho phát hành sản phẩm nước hoa thứ 14 trích từ dòng Celine Dion Parfums với tên gọi "Signature".[228] Vào ngày 15 tháng 9, Dion xuất hiện ở một đêm diễn miễn phí của giọng ca nam cao nổi tiếng tại Công viên Trung tâm, New York.[229] Vào năm 2012, cô trình diễn tại Ngày hội Jazz & Blues lần thứ 16 tại Jamaica.[230]

Céline trình diễn trong năm 2013.

Vào tháng 10 năm 2012, hãng Sony Music Entertainment cho phát hành The Best of Celine Dion & David Foster tại Châu Á.[231] Dion bắt đầu thu âm cho album phòng thu tiếng Anh và tiếng Pháp của mình vào tháng 4 và tháng 5 năm 2012.[232] Đĩa nhạc tiếng Pháp Sans attendre (2012) (tạm dịch: Không chờ đợi) tiếp tục được phát hành với âm điệu pop quen thuộc.[233] Album này đạt thành công lớn tại hầu hết các thị trường nói tiếng Pháp, khi mở đầu đạt lần lượt 88,206 bản và 95,569 bản, đều là cú mở đầu xuất sắc thứ 2 trong năm tại Canada và Pháp.[234][235][236] Sau cùng, album lần lượt đạt chứng nhận 3 lần Bạch kim và Kim cương tại Canada và Pháp, với lượng doanh số đạt 300,000 bản và 800,000 bản.[237][238][239] Hiện album đã bán hơn 1.5 triệu bản trên toàn cầu.[240] Sans attendre nhận được phản hồi trái chiều đến tích cực, khi được nhìn nhận là album xuất sắc nhất của Dion sau nhiều năm, trong khi được mô tả là một "bộ sưu tập ủ rũ", giúp Dion có cơ hội "vực dậy những câu chuyện về tình yêu tan vỡ, sự già dặn, và cái chết."[241] Album tiếng Anh của cô bị hoãn lại đến ngày 1 tháng 11 năm 2013.[242] Mang nhan đề Loved Me Back to Life (2013), album bao gồm nhiều sản phẩm kết hợp cùng một đội ngũ các nhà sáng tác và sản xuất đặc biệt, với hai bản kết hợp cùng Ne-YoStevie Wonder.[243] Đây là một trong những album tiếng Anh hiếm hoi của Dion nhận được luồng đánh giá tích cực từ phía các nhà phê bình, khi được đề cao về phần sản xuất mang tính thử nghiệm ở dòng nhạc R&B đương đại và dance-pop.[244] Album tiếp tục đạt thành công cho Dion tại thị trường quốc tế, khi mở màn tại ngôi quán quân tại Canada với 106,000 bản, trở thành album có tuần lễ doanh số cao nhất kể từ năm 2008.[245] Album đồng thời đạt đến top 3 tại Anh Quốc,[246] Hoa Kỳ[247] và Pháp,[248] trong khi lần lượt đạt 4 lần Bạch kim tại Canada,[249] 224,000 bản tại Hoa Kỳ,[250] Bạch kim tại Anh Quốc[251] và 2 lần Bạch kim tại Pháp.[252] Trong đó, đĩa đơn đầu tiên "Loved Me Back to Life" có cú mở đầu xuất sắc nhất trong sự nghiệp của Dion tại Canadian Hot 100 ở vị trí thứ 26.[234][234][253] Đĩa đơn thứ hai, "Incredible" được NBC chọn làm bài hát chính thức cho Thế vận hội Mùa đông 2014.[254][255] Dion chính thức mở đầu chuyến lưu diễn Sans attendre Tour vào tháng 11 năm 2013 tại Bỉ và Pháp.[256] Chỉ kéo dài 9 đêm diễn, đây là chuyến lưu diễn ngắn ngày nhất của Dion, đồng thời là chuyến lưu diễn tiếng Pháp đầu tiên kể từ D'eux Tour vào năm 1996. Chuyến lưu diễn tiếp tục đạt thành công về thương mại cho cô, khi kịp thu về 17 triệu đô-la Mỹ trong 9 đêm bán cháy vé.[257][258] Vào ngày 16 tháng 5 năm 2014, Dion cho phát hành 3 bộ đĩa (2CD/DVD và 2CD/Blu-ray) mang tựa đề Céline une seule fois / Live 2013, đạt đến top 10 tại Pháp, Canada và miền Nam nước Bỉ.[259]

Vào ngày 13 tháng 8 năm 2014, Dion chính thức thông báo về việc tạm ngưng tất cả các hoạt động kinh doanh giải trí, bao gồm chương trình cố định Celine và chuyến lưu diễn Asia Tour, dựa theo tình trạng sức khỏe trầm trọng của Angélil sau khi trải qua việc phẫu thuật để cắt bỏ u trong cổ họng.[260][261]

Phong cách nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Dion từng được cộng tác cùng Barbra Streisand (trái) và The Bee Gees (phải), khi cả hai đều được cô liệt tên vào những nhân tố tạo cảm hứng trong sự nghiệp của mình. Dion từng được cộng tác cùng Barbra Streisand (trái) và The Bee Gees (phải), khi cả hai đều được cô liệt tên vào những nhân tố tạo cảm hứng trong sự nghiệp của mình.
Dion từng được cộng tác cùng Barbra Streisand (trái) và The Bee Gees (phải), khi cả hai đều được cô liệt tên vào những nhân tố tạo cảm hứng trong sự nghiệp của mình.

Dion lớn lên cùng với âm nhạc của Aretha Franklin, Charles Aznavour, Michael Jackson, Carole King, Anne Murray, Barbra Streisand và nhóm Bee Gees, những nghệ sĩ mà sau này cô đều từng cùng hợp tác.[262][263] Dion cũng từng phát biểu việc trưởng thành khi nghe nhạc của những nghệ sĩ như Janis Joplin, nhóm Doobie BrothersCreedence Clearwater Revival, nhưng chưa bao giờ có cơ hội hát dòng nhạc của họ. Cô cũng tỏ ra ngưỡng mộ Edith Piaf, Sir Elton John, Cher, Tina Turner cùng nhiều nghệ sĩ nhạc soul vào thập niên 60, 70 và 80 khác như Etta James, Roberta FlackPatti Labelle. Bạn đồng nghiệp Whitney Houston cũng là một người mà Dion đề cao, khi cả hai thường xuyên được giới truyền thông so sánh.[264] Âm nhạc của cô chịu ảnh hưởng của nhiều thể loại khác nhau, gồm pop, rock, gospel, R&Bsoul; lời bài hát thường hướng đến những chủ đề về sự nghèo khổ, nạn đói trên thế giới, và đời sống tinh thần của con người, đặc biệt nhấn mạnh đến tình yêu và những mối tình lãng mạn.[66][265] Sau khi sinh con đầu lòng, các nhạc phẩm của cô bắt đầu tập trung hơn vào tình mẫu tử và tình cảm anh em ruột thịt.[165][266][267][268]

Phong cách âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng sáp của Dion tại Musée Grévin Montreal.

Dion thường chịu khá nhiều chỉ trích từ các nhà phê bình, khi cho rằng âm nhạc của cô thường rời xa khỏi quy phạm của popsoul, đồng thời đặc trưng bởi sự biểu lộ cảm xúc một cách quá ủy mị.[8][131] Theo Keith Harris của tạp chí Rolling Stone, "sự đa cảm [của Dion] khoa trương và cố chấp hơn là ý tứ và lặng lẽ…[cô ấy] đứng cuối cùng trong một chuỗi những chuyển giao mạnh mẽ theo chiều Aretha-Whitney-Mariah. Thay vì trở nên khác thường, thực sự Dion là biểu tượng của một kiểu cảm nhận pop - càng lớn càng tốt, quá nhiều là không bao giờ đủ, và cảm xúc càng chín đượm càng thực hơn".[269] Các nhạc phẩm tiếng Pháp của cô, trái lại, dường như có chiều sâu hơn và đa dạng hơn so với các ca khúc tiếng Anh, chính vì vậy mà nhận được sự tin tưởng và yêu mến nhiều hơn.[61][270]

Các nhà phê bình cũng đánh giá rằng do Dion căn bản không tham gia nhiều vào quá trình sản xuất âm nhạc nên các ca khúc của cô có phần thừa thãi và quá khách quan,[270] thiếu nét riêng tư.[61] Tuy nhiên, với xuất thân từ một gia đình mà tất cả anh chị em đều hoạt động nghệ thuật, cô học chơi thành thạo một số nhạc cụ như dương cầmguitar, trong khi từng luyện tập với một cây guitar điện trong quá trình thu âm album Falling into You.[271] Đồng thời, cô cũng đóng góp ý kiến khi soạn một số ca khúc tiếng Pháp trong thời kì đầu sự nghiệp và luôn cố gắng tham gia vào quá trình sản xuất và thu âm các album, thậm chí đồng sáng tác nhiều bài hát cho các nghệ sĩ khác như Marc Dupre. Trong album tiếng Anh đầu tiên, cô thu âm trước khi có yêu cầu chắc chắn về năng lực tiếng Anh, cô cảm thấy không hài lòng; điều này đã có thể tránh được nếu cô chú ý bổ sung thêm những ý tưởng sáng tạo.[61] Trong album tiếng Anh thứ hai Celine Dion, cô tỏ ra quan tâm cẩn thận hơn đến các khâu sản xuất và thu âm để không lặp lại sai lầm và bác bỏ những lời phê bình trước đó. Cô phát biểu: "Trong album thứ hai tôi bảo, ‘Chà, tôi có thể chọn e ngại thêm một lần nữa và không thể vui mừng 100%, hoặc không sợ hãi và trở thành một phần của album.’ Đây là album của tôi."[61] Cô cũng tiếp tục đóng góp vào quá trình sản xuất các nhạc phẩm tiếp theo, tham gia viết lời một số bài hát trong Let's Talk About Love (1997) và These Are Special Times (1998).[2]

Dion thường là đối tượng cho sự chế giễu và các trò bông đùa của giới truyền thông,[272] và thường hay được thủ vai trên các chương trình giải trí như MADtv, Saturday Night Live, South Park, Royal Canadian Air FarceThis Hour Has 22 Minutes, do ngữ âm Anh-Pháp nặng và các cử chỉ hành động trên sân khấu của cô. Dù vậy, Dion lại chia sẻ việc cô không bị ảnh hưởng bởi những bình luận như thế, và thấy hân hạnh khi mọi người bỏ thời gian thủ vai cô.[135] Cô còn mời cả Ana Gasteyer, người châm biếm lại cô trên chương trình SNL, xuất hiện trên sân khấu trong một màn trình diễn tại New York. Trong khi Dion thường không hay đề cập đến các vấn đề chính trị, thì sau thảm họa cơn bão Katrina trong năm 2005, cô xuất hiện trên Larry King Live và tỏ ra đau buồn, trong khi phê phán Chính phủ Mỹ phản ứng quá chậm chạp khi hỗ trợ các nạn nhân của bão: "Còn rất nhiều người đang trông chờ sự cứu trợ. Đối với tôi điều đó không thể chấp nhận được… Vậy mà [chính phủ] lại có thể thật dễ dàng điều động máy bay đến các quốc gia khác và sát hại bao nhiêu sinh mạng. Chúng ta cần phục vụ đất nước của chúng ta."[273] Sau cuộc phỏng vấn, cô nói: "Khi tôi trả lời phỏng vấn với Larry King hay các chương trình truyền hình lớn, họ đem tôi làm tâm điểm, và điều này rất khó khăn. Tôi có quan điểm riêng của mình, nhưng tôi là một ca sĩ. Tôi không phải là một chính khách."[274]

Giọng hát và âm sắc[sửa | sửa mã nguồn]

Dion trình diễn tại Paris, Bercy vào năm 2013.

Dion thường được công nhận là một trong những giọng ca pop có sức ảnh hưởng mạnh mẽ nhất.[8][61][275] Theo Linda Lister từ Divafication: The Deification of Modern Female Pop Stars, cô được mô tả là một "Nữ hoàng nhạc Pop" tại vị, dựa vào những ảnh hưởng sâu sắc của cô tới ngành công nghiệp thu âm trong suốt thập niên 1990, cùng nhiều nhà hoạt động giải trí khác như Whitney HoustonMariah Carey.[276] Trong bảng tổng sắp đếm ngược "22 Giọng ca Vĩ đại nhất của nền âm nhạc" thực hiện bởi tạp chí BlenderMTV, cô đứng thứ 9 (thứ 6 nếu chỉ tính riêng ca sĩ nữ), và trong danh sách "100 Giọng ca Pop Xuất sắc nhất" của tạp chí Cove, cô đứng thứ 4. Dion thường bị so sánh với Mariah Carey về phong cách hát và với thần tượng của mình, Barbra Streisand, về chất giọng. Trong bảng tổng sắp đếm ngược "22 Giọng ca vĩ đại nhất của nền âm nhạc" thực hiện bởi tạp chí BlenderMTV, cô đứng thứ 9 (thứ 6 nếu chỉ tính riêng ca sĩ nữ), và trong danh sách "100 Giọng ca Pop xuất sắc nhất" của tạp chí Cove, cô đứng ở vị trí thứ 4.[19][277][278] Dion thường bị so sánh với Mariah Carey về phong cách hát và thần tượng của mình, Barbra Streisand, về chất giọng.[279]

Theo nhiều nguồn thông tin, Dion sở hữu giới hạn thanh nhạc trải dài 5 quãng tám[280][281][282] cho dù trên các bài thu âm của cô, các nốt trải từ B2 đến Eb6, với khoảng cách chỉ hơn 4 quãng tám.[283][284] Bản thân Dion tự nhận định mình là một người có phạm vi lên giọng nằm khoảng giữa giọng nữ trung.[285] Tuy nhiên, những cố gắng áp dụng các kiểu giọng hát cổ điển vào các thể loại âm nhạc khác vấp phải nhiều ý kiến trái chiều.[286] Trước khi phân loại chính xác chất giọng của mình, khi cô diễn thử hai bản đơn ca của Carmen, cô từng hỏi người nghệ sĩ tài ba Kent Nagano liệu cô có thể hát opera và nhận được câu trả lời: "Tất cả những gì cô vừa hát đều là giọng nữ cao".[285] Âm sắc của Dion được miêu tả là "mỏng, hơi một chút âm mũi, hầu như không rung",[287] với âm "đục" khi xuống thấp và "các nốt cao như tiếng chuông thủy tinh".[288]

Dion thường được ngợi khen về kĩ thuật thanh nhạc xuất sắc.[289] Stephen Holden của The New York Times từng viết "Cô Dion, … một ca sĩ xuất sắc với một giọng nữ cao mỏng, hơi một chút âm mũi, hầu như không rung và được hỗ trợ tốt bởi kĩ thuật hát. Cô ấy có thể thực hiện những quãng ngân và luyến láy phức tạp, tạo ra những đoạn thanh đầy sức biểu cảm và duy trì các nốt dài mà không hề suy suyển âm điệu. Còn các bản song ca […] đã chứng minh, cô ấy là một giọng hát có khả năng hòa âm đáng tin cậy."[287] Trong bài phỏng vấn với Libération, Jean-Jacques Goldman nhận xét rằng cô "không gặp bất cứ vấn đề gì về độ chính xác hay nhịp điệu." Theo Kent Nagano, nghệ sĩ thượng đẳng của Dàn nhạc giao hưởng München (Munich Symphony Orchestra), Dion là "một ca sĩ có đôi tai cảm thụ tốt, sự tinh tế và độ hoàn mỹ khiến người khác phải ghen tỵ.[285] Charles Alexander của TIME cũng đánh giá: "Giọng hát [của cô] vút lướt từ thì thầm sâu lắng đến những nốt rất cao chính xác mà không tốn một chút sức lực nào, một giọng ca quyến rũ đầy mê hoặc kết hợp bởi sức mạnh và sự thanh nhã."[39]

Trong các ca khúc tiếng Pháp, Dion tô điểm thêm cho giọng hát của mình với nhiều sắc thái, chuyển đổi tông giọng và cường độ cảm xúc "dịu dàng và thân mật hơn".[290] Thêm vào đó, Luc Plamondon, nhạc sĩ người Pháp từng sáng tác một vài ca khúc cho cô, khẳng định rằng có ba "con người" ca sĩ ta thấy ở Dion: người Québec, người Pháp và người Mỹ.[290] Album phòng thu đầu tay của cô được quảng bá với câu hiệu: "Hãy ghi nhớ đến tên vì bạn sẽ không bao giờ quên được giọng hát."

Các hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt động kinh doanh[sửa | sửa mã nguồn]

Les Productions Feeling Inc., còn được biết đến với tên gọi "Feeling Inc." hay chỉ là "Feeling" là hãng công ty quản lý của Dion tại Laval, tỉnh Québec, Canada và do chính Dion và chồng của cô, Rene Angelil làm chủ.[291] Dion cũng là người sáng lập nên chuỗi nhà hàng Nickels.[291] Dion và chồng của cô còn sở hữu một Câu lạc bộ Golf Le Mirage và Nhà hàng Schwartz's.[291] Liên hiệp cùng Andre Agassi, Steffi Graf và Shaquille O'Neal, cô đứng ra mở cửa cho một hộp đêm nổi tiếng với tên gọi Pure, tọa lạc tại Caesars Palace.[291]

Dion chính thức trở thành doanh nhân từ lần thành lập nên chuỗi nhà hàng Nickels vào năm 1990. Từ đó, cô tước bỏ niềm hứng thú với chuỗi nhà hàng này và đến năm 1997 thì không còn liên kết với Nickels. Vào năm 2003, Dion ký một hợp đồng cùng Coty, Inc. để phát hành dòng nước hoa Celine Dion Parfums.[292] Loại nước hoa gần đây nhất, Signature, được phát hành vào tháng 9 năm 2011[228] với chiến dịch quảng bá thực hiện bởi hãng Kraftworks NYC. Từ khi phát hành, Celine Dion Parfums đã đạt hơn 850 triệu đô-la Mỹ theo doanh thu bán lẻ.[293][294] Vào tháng 10 năm 2004, hãng Air Canada mời Dion thực hiện chiến dịch quảng bá cho sản phẩm dịch vụ mới. "You and I", bài hát chủ đề được Dion trình bày, được sáng tác bởi các nhà hoạt động quảng bá cho Air Canada.[295]

Hoạt động từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

Dion là một nhà từ thiện hoạt động tích cực cho nhiều tổ chức trên toàn cầu. Cô đã quảng bá cho Quỹ Xơ nang Canada (CCFF) từ năm 1982, và trở thành Chủ danh nhân Quốc gia của Quỹ từ năm 1993.[296] Cô có tình cảm gắn bó với quỹ; khi cháu gái Karine của Dion từng qua đời trong vòng tay của cô vì chứng bệnh Xơ nang lúc chỉ mới 16 tuổi. Vào năm 2003, cô gia nhập cùng nhiều người nổi tiểng, vận động viên và các nhà chính khách khác, có bao gồm Josh GrobanYolanda Adams để ủng hộ "Ngày trẻ em thế giới", một quỹ quyên góp toàn cầu được tài trợ bởi McDonald's. Quỹ gầy dựng tài chính từ hơn 100 quốc gia để ủng hộ các tổ chức sức khỏe và mái ấm cho các trẻ em nghèo. Bên cạnh đó, Dion còn là một nhà ủng hộ lớn với quỹ T.J. Martell Foundation, Quỹ tưởng nhớ Diana, Vương phi xứ Wales và nhiều chiến dịch về sức khỏe và ý tế khác. Vào thời điểm vừa xảy ra cơn bão Katrina, Dion đã quyên góp 1 triệu đô-la Mỹ cho các nạn nhân của cơn bão, và chủ trì một sự kiện quyên góp cho các nạn nhân của vụ Động đất và sóng thần Ấn Độ Dương 2004, mà sau cùng đã quyên góp được 1 triệu đô-la Mỹ.[297] Sau vụ Động đất Tứ Xuyên 2008, Dion tiếp tục quyên tặng 100,000 đô-la Mỹ cho Quỹ trẻ em & thiếu niên Trung Hoa, cũng như gửi thư thăm hỏi và động viên.[298] Kể từ năm 2004, cô cùng Angelil tham gia vào việc ủng hộ cộng đồng người đồng tính tại tỉnh Québec, cùng việc nâng cao hiểu biết về sức khỏe và ngăn chặn căn bệnh HIV cùng Gay Globe Magazine, do nhà báo Roger-Luc Chayer sở hữu.[299]

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôi sao của Céline Dion được khắc trên Đại lộ danh vọng Canada và Đại lộ Danh vọng Hollywood.

Celine Dion thường được công nhận là một trong những giọng ca pop có sức ảnh hưởng mạnh mẽ nhất.[8][61][300] Linda Lister mô tả cô là một "Nữ hoàng nhạc Pop" tại vị, dựa vào những ảnh hưởng sâu sắc của cô tới ngành công nghiệp thu âm trong suốt thập niên 1990.[301] Âm nhạc và phong cách giọng hát của cô, cùng với Mariah Carey và Whitney Houston, thường được xem là tiêu chuẩn cho cách hát của nữ ca sĩ đương đại. Cả 3 ca sĩ này đều được nhắc đến rộng rãi bằng việc hồi sinh lại dòng nhạc ballad đầy nội lực, cùng việc góp phần gầy dựng nên thể loại đương đại trưởng thành, giúp nó trở thành một trong những thể loại phổ biến nhất trong thập niên 1990 và đầu thập niên 2000. Theo các nhà sản xuất, nhạc sĩ và cựu giám khảo cuộc thi American Idol Randy Jackson, thì Celine Dion, Mariah Carey và Whitney Houston là những giọng ca tiêu biểu của thời kỳ đương đại.[302] Nhà phê bình văn hóa Carl Wilson chú ý đến việc "danh vọng và ảnh hưởng [của Dion] cũng đồng thời được hồi phục lại và thường xuyên xuất hiện trong ngày nay tại American Idol, hiện tượng âm nhạc rộng lớn nhất trong vòng một thập niên qua, nơi vị thế của Celine vẫn đứng vững trong thánh điện của những ca sĩ để lớp trẻ noi theo".[303] Nhiều thí sinh trong vô số các cuộc thi tìm kiếm tài năng được nổi lên vào đầu thiên niên kỷ mới, thường liệt Dion, Houston và Carey như những thần tượng của họ.[304]

Nhiều nghệ sĩ nổi danh từng đề cập đến Dion như là nhân tố ảnh hưởng chín hhoặc là ca sĩ mà họ yêu mến, có thể kể tên như Rihanna,[305] Rita Ora,[306] Christina Aguilera,[307] Frank Ocean,[308] Adele,[309] Josh Groban,[310] Delta Goodrem,[311] Jordin Sparks,[312] Charice,[313] Leona Lewis,[314] Jessie J,[315] Jojo,[316] Lea Michele,[317] Jennifer Hudson,[318] Ariana Grande,[319] Regine Velasquez, Taylor Swift,[320] Vanessa Hudgens,[321] The Canadian Tenors, Faith Hill, Katy Perry, Kelly Clarkson,[322] Helena PaparizouLara Fabian, cùng nhiều nghệ sĩ khác. Trên bìa ghi chú album Toutes les femmes en moi của Lara Fabian, cô chia sẻ cách mà cô thần tượng Dion từ khi cô còn ở lứa tuổi thiếu niên, thậm chí còn viết rằng "Tôi sẽ theo dõi con đường âm nhạc và đam mê của cô từng ly từng tí, hãy hát như chỉ có giọng hát của cô mới có thể tô điểm cho đoạn hòa âm ấy mà thôi." Nữ ca sĩ nhạc đồng quê Martina McBride được vinh danh rộng rãi bởi giới truyền thông như là Celine Dion của dòng nhạc Đồng quê.[323]

Nhiều nghệ sĩ khác cũng đồng thời tán dương chất giọng, khả năng ca hát của Dion hoặc chia sẻ niềm yêu thích hợp tác cùng cô như Placido Domingo,[324] Beyoncé,[325] Carlos Santana,[326] Elton John,[327] One Republic,[328] Coldplay,[329] Sharon Osbourne,[330] Nicole Scherzinger,[331] Ne-Yo,[332] Carole King,[333] Barbra Streisand,[334] Luciano Pavarotti,[335] Bee Gees,[336] Sir George Martin,[336] Justin Bieber,[337] Jean-Jacques Goldman[338]Cher.[339] Theo Timbaland, "Celine có một chất giọng tuyệt đẹp và đầy mê hoặc. Cô ấy rất tài năng. Tôi nghĩ chúng tôi có thể cùng nhau sáng tạo một thứ gì đó cổ điển như chính cô ấy vậy." Josh Groban cho rằng "Cô ấy là một giọng ca nội lực. Cho đến thời gian và ở độ tuổi này, khi nhiều sản phẩm được sản xuất kỹ lưỡng hơn, với những giọng ca yếu ớt được vinh danh... thì cô ấy lại có cho mình một loại nhạc khí siêu đẳng."[310] "Céline là ca sĩ xuất sắc nhất thế hệ cho đến nay" là ý kiến của Diane Warren,[340] và cũng được Quincy Jones,[341]David Foster đồng thuận.[342] Hơn nữa, Shania Twain[343]Jennifer Lopez đều đề cao khả năng trình diễn bùng nổ của Céline Dion, khi Jennifer có lần chia sẻ trên American Idol: "Mỗi lần Celine bước lên khán đài, cô ấy làm chủ nó."[344]

Ở cấp độ văn hóa, Dion được biết đến bởi việc giới thiệu âm nhạc Pháp đến nhiều quốc gia không nói tiếng Pháp trên toàn cầu. Album D'euxS'il suffisait d'aimer vẫn đang là hai trong số những album tiếng Pháp bán chạy nhất trong lịch sử, đạt được thành công chưa từng thấy tại các thị trường không nói tiếng Pháp như Anh Quốc, Ba Lan, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Áo, Nhật Bản và New Zealand. Theo RFI Musique, Céline "đã công hiến không ít cho dòng nhạc Pháp suốt nhiều năm, vững vàng đạt thành công cùng những bài hát tiếng Pháp có thể là điều mà không có một giới hạn tiếng Pháp nào có thể dừng bước cô... Nếu thiếu Celine thì doanh số thu âm tiếng Pháp có thể sẽ thấp hơn một cách thảm hại!"[345] Vào năm 2008, Dion giành giải Quân đoàn Danh dự từ Nicolas Sarkozy, phần nào củng cố thêm ảnh hưởng về văn hóa của cô.[346] Sarkozy có đề cao Céline và khẳng định: "Nước Pháp tạ ơn cô vì tài năng và sự thành công của cô đã góp phần mang ảnh hưởng của tiếng Pháp vượt xa biên giới lãnh thổ."

Dion cũng được nhìn nhận trong việc hồi sinh và cách mạng hóa hiện trạng giải trí tại Las Vegas với những thành công to lớn bởi những đêm diễn cố định tại đó. Cô mong muốn các chương trình "cố định" tại Las Vegas được phổ biến trở lại, như một chặng đường đáng khát khao cho các nghệ sĩ hàng đầu có thể lưu diễn tại chỗ, để khán giả hâm mộ tìm đến họ. Sau nhiều năm, nhiều biểu tượng thành danh như Elton John, Bette Midler, Rod Stewart, CherShania Twain cũng đã tham gia cùng cô.[347] Theo Gary Bongiovanni, chủ tịch và chủ bút của tờ Pollstar cho rằng "Celine đã khẳng định lại được những gì mà người nghệ sĩ có thể thực hiện ở Las Vegas, khi giúp nó trở thành thành phố giải trí náo nhiệt nhất thế giới."[348] Vào năm 2013, ngay cả ngôi sao nhạc pop trẻ tuổi Britney Spears cũng thông báo về việc hoạt động ở Vegas, góp phần giữ vững ảnh hưởng của Dion tại thành phố như một trung tâm đầu não về giải trí.[349] Kurt Melien, phó chủ tịch giải trí tại Caesar's Palace khẳng định "Celine rõ ràng là một người tiên phong... 20 năm trước, chúng tôi không tài nào có được một ai sở hữu tầm vóc như Britney Spears xuất hiện tại Vegas. Những ngôi sao như cô ấy từng không bao giờ nghĩ đến việc này nếu Celine không là người soi đuốc mở đường. Cô ấy đã thay đổi bộ mặt của một Vegas hiện đại."[350] Dựa theo những ảnh hưởng về mặt tài chính của Dion đến Las Vegas, Stephen Brown, người phụ trách của Trung tâm Nghiên cứu Thuơng mại và Kinh tế tại Las Vegas, cho rằng "Người ta sẽ đổ đến thành phố này chỉ vì cô ấy và sẵn lòng móc hầu bao và như một hệ quả, cô ấy có một tác động vô cùng lớn đến nền kinh tế", và sau đó có nói thêm "Lớn hơn cả Elvis, SinatraLiberace gộp lại sao? Chắc chắn là thế rồi." Theo ước lượng, các buổi diễn của Dion có thể gián tiếp tạo thêm 7,000 việc làm và khoảng 114 triệu đô-la Mỹ cho hoạt động kinh tế mới trong mỗi 3 năm mà cô đã rút ngắn lại.[351]

Vào năm 1999, Dion nhận được một ngôi sao trên Đại lộ danh vọng Canada, và một ngôi sao khác trên Đại lộ Danh vọng Hollywood vào tháng 1 năm 2004.[352][353] Cô dành tặng ngôi sao của mình cho người cha quá cố, khi vừa mất một tháng trước khi hoàn thành ngôi sao. Vào năm 2007, Dion được Forbes xếp ở vị trí thứ 5 trong danh sách phụ nữ giàu nhất trong ngành giải trí, với tổng tài sản ước tính 250 triệu đô-la Mỹ, cho dù việc xếp hạng đã bỏ qua các danh nhân nghỉ hưu hoặc không còn làm việc.[354][355][356] Vào tháng 8 năm 2008, cô được vinh danh ở cương vị tiến sĩ âm nhạc từ trường [[Université Laval] thuộc Quebec.[357] Vào tháng 10 năm 2010, Dion được xướng danh là một Đại sứ Thiện chí, một chương trình được tạo dựng bởi UN vào năm 1999, khi cùng nhận giải thưởng này cùng người từng đoạt giải Grammy Susan Sarandon.[358] Dion còn nhận được nhiều huân chương nổi bật. Cô từng được nhận huân chương Bắc Đẩu Bội tinh cao quý nhất của Pháp, bởi Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy vào tháng 5 năm 2008.[359][360] Vào ngày 26 tháng 7 năm 2013, Dion được vinh danh bằng danh hiêu "Thành viên của Hiệp hội Canada" trao bởi Toàn quyền Canada và buổi lễ phong chức được diễn ra tại Citadelle of Quebec.[129]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Celine Dion (Canadian Singer)”. Encyclopædia Britannica. Encyclopædia Britannica, Inc. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2013. 
  2. ^ a ă “Céline Dion signe le single de Marc Dupré : Ecoutez 'Entre deux mondes'”. Evous.fr. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  3. ^ Beaunoyer, Jean (2004). René Angélil: The Making of Céline Dion: the Unauthorized Biography. Dundurn. tr. 233. ISBN 978-1-55002-489-0. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2013. 
  4. ^ “Rich 100 2014 full list”. Canadian Business. Rogers Media. 9 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2014. 
  5. ^ "Dion, Celine". Collins English Dictionary – Complete and Unabridged 10th Edition, 2009.
  6. ^ Glatzer, Jenna (2005). Celine Dion: For Keeps. Andrews McMeel Pub. tr. 13. ISBN 0-7407-5559-5. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2011. 
  7. ^ a ă â b c “Dion, Celine”. Jam!. Canoe.ca. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2013. 
  8. ^ a ă â b c d “Céline Dion”. The Canadian Encyclopedia. Historica-Dominion. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2013. 
  9. ^ Bliss, Karen (1 tháng 3 năm 2004). “25 years of Canadian artists”. Canadian Musician. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2014. 
  10. ^ “Eurovision Song Contest 1988”. Eurovision Song Contest. European Broadcasting Union. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2014. 
  11. ^ a ă â b Taylor, Chuck (6 tháng 11 năm 1999). Epic/550's Dion offers Hits. Billboard. tr. 1. 
  12. ^ a ă â b “The 'ultimate diva'”. People in the News (CNN). 22 tháng 10 năm 2002. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2013. 
  13. ^ Celine Dion. "Interview with Celine Dion." Peter Nansbridge. The National. With Alison Smith. CBC-TV. 28 tháng 3 năm 2002. Transcript.
  14. ^ a ă â Helligar, Jeremy (31 tháng 3 năm 2003). “Céline Dion livin' la vida Vegas!”. Us. tr. 56. 
  15. ^ “Celine Dion Releases 1st CD Since 1997”. Digital Journal. 15 tháng 4 năm 2002. Truy cập 12 tháng 10 năm 2009. 
  16. ^ Hilburn, Robert (11 tháng 4 năm 2002). “Ashanti Displaces Dion at Top”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2014. 
  17. ^ a ă â b c d Alexander, Charles P. (7 tháng 3 năm 2004). “The Power of Celine Dion”. Time. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2013. 
  18. ^ Gardner, Elysa (16 tháng 11 năm 1997). “Review: Falling Into You”. Los Angeles Times. tr. 68. 
  19. ^ a ă “Cove Magazine”. The 100 Outstanding Pop Vocalists. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2006. 
  20. ^ “Past Winners Search (Celine Dion)”. Grammy.com. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013. 
  21. ^ Up for Discussion Jump to Forums. “The Emancipation of Mimi – Mariah Carey”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2010. 
  22. ^ Trust, Gary (2 tháng 6 năm 2010). “20/20 'Vision': Mariah Marks Milestone”. Billboard. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2013. 
  23. ^ “Ask Billboard: Battle of the Divas, Round 3”. Billboard. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013. 
  24. ^ “Featured Artists Celine Dion”. Officialcharts.com. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  25. ^ “The real Céline: Céline Dion's new French album shows her personal side”. CBC. 29 tháng 5 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2009. 
  26. ^ “Celine Dion honoured by World Music Awards”. Canada.com. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2010. 
  27. ^ “World Music Awards to honor Celine Dion”. CTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2010. 
  28. ^ Villarreal, Yvonne (23 tháng 6 năm 2010). “Hollywood Star Walk: Celine Dion”. Los Angeles Times (Tribune Company). Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2013. 
  29. ^ “Dion Named All-time Best-selling Canadian Act”. Allbusiness. 6 tháng 1 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2009. 
  30. ^ Josh Learn (3 tháng 10 năm 2010). “High Fidelity: Top Selling Canadian Artists”. The Brock Press. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2014. 
  31. ^ “Celine Dion Biography (1968-)”. Filmreference.com. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  32. ^ “Céline Dion from the Perche to Las Vegas”. Perche-quebec.com. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2014. 
  33. ^ a ă â b Paula Zahn, Charles Molineaux, Gail O'Neill. "Profiles of Celine Dion, Enrique Iglesias, Moby". People in the News. 18 tháng 5, 2002. Bản dịch lại.
  34. ^ Germain, Georges-Herbert (1998). Céline: The Authorized Biography. translated by David Homel and Fred Reed. Dundurn Press. tr. 16. ISBN 1-55002-318-7. 
  35. ^ jmaster. “Portrait of a Star French Site, Céline Dion Biography, (Céline Dion, ''Du fil des aiguilles et du coton, a song by Christine Charbonneau)”. Portrait-star.fr. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  36. ^ Sanz, Cynthia (13 tháng 6 năm 1994). “North Star”. People. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2012. 
  37. ^ “Celine Dion Biography”. The Biography Channel. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2014. 
  38. ^ O'Connor, John Kennedy (2 tháng 4 năm 2007). The Eurovision Song Contest — The Official History. UK: Carlton Books. ISBN 978-1-84442-994-3. .
  39. ^ a ă â Alexander, Charles P. "The Arts & Media/Music: At Age Five She Belted Out French pop tunes standing atop tables." Time International. 28 tháng 2, 1994. tr. 44.
  40. ^ Céline Dion. VH1. Truy cập 16 tháng 8 năm 2005. 
  41. ^ a ă â Bombardier, Denise (2009). L'énigmatique Céline Dion (bằng French). Albin Michel, XO éditions. tr. 172–173. ISBN 978-2-84563-413-8. 
  42. ^ a ă Germain, Georges-Hébert (2010). René Angélil: Derrière le conte de fées. Michel Lafon. tr. 279–280. 
  43. ^ “Review—Céline Dion Unison”. Entertainment Weekly. 25 tháng 1 năm 1991. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2012. 
  44. ^ “Allmusic”. Review—Céline Dion Unison. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2005. 
  45. ^ a ă â “Celine Dion Album & Song Chart History”. Billboard Hot 100 cho Celine Dion. Truy cập 19 tháng 12 năm 2014. 
  46. ^ David Ball. “This Week in History: December 12 to 18”. Canadian Music Hall of Fame. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2014. 
  47. ^ “On This Day”. Five Star Feeling Inc. 5 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  48. ^ a ă “Gold & platinum certification searchable database”. Canadian Recording Industry Association. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2009. 
  49. ^ a ă Bliss, Karen (1 tháng 3 năm 2004). “25 Years of Canadian Artists”. Canadian Musician. tr. 34. ISSN 0708-9635. 
  50. ^ Smith, Damon (5 tháng 3 năm 2012). “FILM REVIEW: Beauty and the Beast”. Chichester Observer. Johnston Publishing Ltd. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2013. 
  51. ^ Maslin, Janet (13 tháng 11 năm 1991). “Beauty and the Beast (1991)”. The New York Times. The New York Times Company. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2013. 
  52. ^ “64th Academy Award Winners | Oscar Legacy”. The Academy of Motion Picture Arts and Sciences. Academy of Motion Picture Arts and Sciences. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2012. 
  53. ^ “HFFPA – Awards Search”. Golden Globe Awards. Hollywood Foreign Press Association. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2012. 
  54. ^ McEachran, Leigh (9 tháng 1 năm 2012). “Will Celine Dion be even more popular in 2012?”. Leigh McEachran. North Stars, Yahoo! Canada Co. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  55. ^ “Celine Dion”. Sony Music Entertainment. Sony Music. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2012. 
  56. ^ “Celine Dion - Dion Chante Plamondon”. Allmusic. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2014. 
  57. ^ “Certifications albums double platine - année 1999”. Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 1999. 
  58. ^ Juan Rodriguez (25 tháng 11 năm 2010). “A soundtrack of Quebec history”. The Gazette. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  59. ^ “Dans l'univers de Luc Plamondon / 4 décembre 2010” (bằng French). Société Radio-Canada. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  60. ^ Charles des Portes (20 tháng 6 năm 2014). “Vidéos. Stromae en concert à New York : peut-il rejoindre le club très fermé des stars mondiales francophones?”. Le Huffington Post (bằng French). Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2014. 
  61. ^ a ă â b c d đ e "Celine Dion." Newsmakers 1995, Ấn hành thứ 4. Gale Research, 1995.
  62. ^ “Céline Dion”. Céline Dion Biography. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2006. 
  63. ^ a ă â "Celine Dion." Contemporary Musicians, Volume 25. Gale Group, 1999.
  64. ^ a ă M.Khuê (9 tháng 11 năm 2013). “Celine Dion không muốn mở nhạc phim “Titanic” trong đám tang của mình”. Người Lao Động. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2014. 
  65. ^ “'We've had tough times': Celine Dion candidly opens up about her rocky 18-year marriage to Rene Angelil”. MailOnline. 23 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2014. 
  66. ^ a ă “Celine Dion The Colour of My Love”. Plugged In. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2013. 
  67. ^ David Ball. “This Week in History: December 12 to 18”. Canadian Music Hall of Fame. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  68. ^ Jonathan Hamard (12 tháng 9 năm 2010). “Série de l'été : la carrière de Céline Dion” (bằng French). PureMédias. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010. 
  69. ^ “American album certifications – Celine Dion – The Colour of My Love”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ Nếu cần, nhấn Advanced, rồi nhấn Format, rồi nhấn Album, rồi nhấn SEARCH'. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2014. 
  70. ^ “Gold/Platinum - Music Canada”. Music Canada. 13 tháng 11 năm 1994. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2014. 
  71. ^ “IFPI Platinum Europe Awards: 1996 Awards”. IFPI. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2014. 
  72. ^ “Chart Archive - 1980s Singles”. everyHit.com. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2014. 
  73. ^ “Top Singles - Volume 59, No. 5, February 21 1994”. RPM. 21 tháng 2 năm 1994. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 1994. 
  74. ^ “CÉLINE DION - THE POWER OF LOVE (SONG)”. ARIA. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2014. 
  75. ^ “Past Winners Search-1993”. Giải Grammy. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2014. 
  76. ^ “The Journey so Far”. Celinedion.com. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2005. 
  77. ^ “UK Top 10 Best Selling Singles from”. ukcharts.20m.com. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2014. 
  78. ^ a ă "Celine Dion." Compton's by Britannica. Encyclopædia Britannica. 2005.
  79. ^ “À l'Olympia”. Celine Dion. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2014. 
  80. ^ “Les disques d'or”. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2014. 
  81. ^ “Les disques d'or” (bằng French). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2013. 
  82. ^ Erlewine, Stephen Thomas. “Let's Talk About Love: Album review”. Allmusic. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2009. 
  83. ^ “Falling into You:Album Review”. Allmusic. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2009. 
  84. ^ a ă Jerome, Jim. "The Dream That Drives Her. (Singer Celine Dion) (Interview)." Ladies Home Journal. 1 November 1997. 146(4).
  85. ^ a ă “Entertainment Weekly”. Review --Falling into You. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2006. 
  86. ^ Leroy, Dan (12 tháng 3 năm 1996). “Album Review: Falling into You”. Yahoo Music. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2012. 
  87. ^ Stephen, Holden. Review: Falling into you. New York Times. (Late Edition (East Coast)). New York, N.Y.: 14 April 1996. pp. 2.30, 2 pgs
  88. ^ Nichols, Natalie. Pop music review: The Grammy Winner is Charming At the Universal Amphitheatre But Her Singing Still Lacks Emotional Connection. Los Angeles Times. Los Angeles: 27 March 1997. p. 47
  89. ^ “Allmusic”. Review --Falling into You. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2005. 
  90. ^ “Angelfire.com”. Céline Dion Discography. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2005. 
  91. ^ CBC Music. “CBC Music - Free Streaming Radio, Videos, Songs, Concerts & Playlists”. Music.cbc.ca. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  92. ^ a ă Basham, David (5 tháng 4 năm 2002). “Got Charts? Wrestling With WWF LPs; Breaking Records With Celine”. MTV News. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2013. 
  93. ^ “Retrieved December 31, 2009”. Riaa.com. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2010. 
  94. ^ “Gold/Platinum - Falling into You - Diamond Certification”. CRIA Search Certification Database. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2009. 
  95. ^ “IFPI Platinum Europe Awards” (PDF). IFPI. 2009. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2010. 
  96. ^ a ă “Celine Dion Biography”. ARTISTdirect. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2013. 
  97. ^ Carwell, Nikea. "Over the Years." Variety. 13 November 2000. p. 66. Volume: 380; Number: 13. ISSN: 00422738.
  98. ^ “My Love: Essential Collection press release”. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2008. 
  99. ^ a ă “Review- Let's Talk About Love”. AllMusic Guide. 2007. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2010. 
  100. ^ “Celine Dion, Let's Talk About Love”. plugged in.com. Focus on the Family. 2009. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2010. 
  101. ^ Dion, Celine. Junior Canadian Encyclopedia (2002). Historica Foundation of Canada. 2002.
  102. ^ Sandler, Kevin S.; Studlar, Gaylyn (2009). Titanic: anatomy of a blockbuster (Digitized online by Google Books). Rutgers University Press. ISBN 978-0-8135-2669-0. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2010. 
  103. ^ “Let's Talk About Love – Celine Dion”. Billboard music charts. 2009. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2010. 
  104. ^ “GOLD & PLATINUM certification”. Recording Industry Association of America (RIAA). 2009. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2010. 
  105. ^ Billboard 26 Dic 1998 – 2 Ene 1999 (Digitized online by Google Books). Billboard music charts. 2009. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2010. 
  106. ^ “Gold/Platinum - Let's Talk About Love - Diamond Certification”. CRIA Search Certification Database. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2009. 
  107. ^ Billboard Magazine. Books.google.com. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  108. ^ a ă Weatherford, Mike (2004). “Show review: As Dion feels more comfortable, her show improves”. Reviewjournal.com. 
  109. ^ “Academy Awards Database”. Oscars.org. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2010. 
  110. ^ “My heart will go on”. Céline Dion. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  111. ^ “That thing: Lauryn Hill sets Grammy record”. CNN. 24 tháng 2 năm 1999. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2013. 
  112. ^ “All Past Winners Search with Query: Title: My Heart Will Go On; Year: 1998 - 41st Annual Grammy Awards”. Grammy.com. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2014. 
  113. ^ “The Richest 20 Women In Entertainment”. Forbes Magazine. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2011. 
  114. ^ Iley, Chrissy (10 tháng 12 năm 2007). “'People are jealous'”. theguardian.com. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2013. 
  115. ^ “Babs, Pavarotti, Others May Sing With Celine”. Rolling Stone. 6 tháng 8 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2008. 
  116. ^ “These Are Special Times Review”. AllMusic. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  117. ^ Lewis, Randy. "Album Review / Pop; Celine Dion Aims to Be the Christmas Star; These Are Special Times. Los Angeles Times. October 1998. F-28.
  118. ^ “Top 100 Music Hits, Top 100 Music Charts, Top 100 Songs & The Hot 100”. Billboard.com. 4 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2012. 
  119. ^ “Gold & Platinum - November 26, 2010”. RIAA. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2010. 
  120. ^ “GOLD & PLATINUM ''RIAA'' Retrieved December 31, 2009”. Riaa.org. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2010. 
  121. ^ “UK Top 40 Hit Database”. Everyhit.co.uk. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  122. ^ a ă “Jam! Showbiz”. Jam.canoe.com. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  123. ^ Hung, Steffen. “CÉLINE DION – ALL THE WAY... A DECADE OF SONG (ALBUM) ''Australian-Charts'' Retrieved December 31, 2009”. Australian-charts.com. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2010. 
  124. ^ “CÉLINE DION - S'IL SUFFISAIT D'AIMER (ALBUM) - French Albums Chart”. LesCharts. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  125. ^ “CÉLINE DION - S'IL SUFFISAIT D'AIMER - Swiss Albums Chart”. Hit Parade. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  126. ^ “CÉLINE DION – S'IL SUFFISAIT D'AIMER (ALBUM)”. Ultra Top. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2009. 
  127. ^ “LES CERTIFICATIONS”. SNEP. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2009. 
  128. ^ Macdonald, Patrick (8 tháng 10 năm 1998). “The Unsinkable Celine Dion – Pop Diva Is On Top Of The World, And Not Even An Iceberg Could Stop Her Now”. Seattle Times. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2009. 
  129. ^ a ă “Order Of Canada Investiture For Celine and René”. CelineDion.com. 24 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2013. 
  130. ^ “canadaswalkoffame.com”. Canada's Walk of Fame. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2006. 
  131. ^ a ă The unsinkable Céline Dion— French-Canadian singer— Interview. tr. 1. 
  132. ^ Gardner, Elysa. Review (16 tháng 11 năm 1997). Falling Into You. Los Angeles Times Los Angeles, Calif. tr. 68. 
  133. ^ “A l'Olympia - Celine Dion”. Allmusic. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  134. ^ Dollar, Steve (3 tháng 11 năm 1998). These Are Special Times. The Atlanta Constitution. Atlanta, Georgia. tr. C.01. 
  135. ^ a ă â “VH1”. Céline Dion: Let's Talk About Success: The Singer Explains Her Career High-Points. VH1. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2005. 
  136. ^ King, Larry Larry King Live (26 tháng 3 năm 2002). Personal Interview - Interview With Celine Dion. CNN. 
  137. ^ STEPHEN M. SILVERMAN (9 tháng 11 năm 1998). “Celine Resting After Operations”. People. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  138. ^ “Céline Dion Biography”. People. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  139. ^ “Celine Dion Gives Birth to Baby Boy”. CNN. 25 tháng 1 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2007. 
  140. ^ Pappas, Ben (22 tháng 4 năm 2002). "Celine fights for her marriage.". Us. tr. 30. 
  141. ^ a ă â “Celine sues US tabloid for $20m”. BBC News. 1 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  142. ^ Taylor, Chuck (6 tháng 10 năm 2001). Céline Dion: God Bless America 113 (40). New York: Billboard. tr. 22. 
  143. ^ “Dion Officially Added To Super Bowl Lineup”. Billboard. 10 tháng 1 năm 2003. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  144. ^ “Celine Dion: My Story, My Dream (Mass Market Paperback)”. Amazon.com. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2009. 
  145. ^ Erlewine, Stephen Thomas. “A New Day Has Come > Overview”. AllMusic. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2012. 
  146. ^ Celine Dion. "Interview with Celine Dion." Peter Nansbridge. The National. With Alison Smith. CBC-TV. 28 March 2002. Bản sao lại.
  147. ^ “Celine Dion”. Columbia Records. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2009. 
  148. ^ “Celine's 'One Heart' debuts at No. 1”. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2009. 
  149. ^ “Dion's CD can crash PCs”. BBC. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2009. 
  150. ^ Basham, David (5 tháng 4 năm 2002). “Got Charts? Wrestling With WWF LPs; Breaking Records With Celine: A weekly tale of the tape for the statistically obsessed”. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2009. 
  151. ^ “Ashanti Album, Single Dominate Charts”. Billboard. 11 tháng 4 năm 2002. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  152. ^ “Gold and Platinum Certification - A New Day Has Come”. CRIA. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2009. 
  153. ^ Tyrangiel, Josh (8 tháng 4 năm 2002). "Heart, No Soul." . TIME. tr. 61. 
  154. ^ “Rolling Stone”. Review—A New Day has come. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2005. 
  155. ^ “Entertainment Weekly”. EW.com. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  156. ^ “Slant Magazine”. Review—A New Day Has Come. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2006. 
  157. ^ “Adult Programming Boosts Pop Vets”. Yahoo!. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2009. 
  158. ^ “VH1: Divas Las Vegas - A Concert to Benefit the VH1 Save the Music Foundation (2002)”. The New York Times. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  159. ^ Flick, Larry (29 tháng 3 năm 2003). “One Heart115 (13). New York: Billboard. tr. 30. 
  160. ^ “Allmusic”. Review—One Heart. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2006. 
  161. ^ Durchholz, Daniel (24 tháng 4 năm 2003). “One Heart:Céline's a Diva Who Still Goes On and On”. Dispatch. St. Louis, Mo.: St.Louis Post. tr. F.3. 
  162. ^ Stein, Jason (24 tháng 11 năm 2003). Celine Dion sings flat for Chrysler 78. Automotive News. 
  163. ^ Murray, Sonia (25 tháng 3 năm 2003). Céline Dion's latest takes easy, well-worn route. Atlanta, Georgia: The Atlanta Journal–Constitution. tr. C.1. 
  164. ^ Kiley, David (8 tháng 6 năm 2003). “Chrysler bets big on Dion's auto endorsement deal”. USA Today. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2009. 
  165. ^ a ă â [“Miracle: A Celebration of New Life”. Allmusic. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2009. 
  166. ^ Taylor, Chuck (16 tháng 10 năm 2004). Céline Dion: "Beautiful Boy" 116 (42). New York: Billboard. tr. 33. 
  167. ^ Arnold, Chuck (22 tháng 11 năm 2004). Review: Celine Dion, Miracle. People Magazine. tr. 48. 
  168. ^ “Entertainment Weekly”. Review: Miracle. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2005. 
  169. ^ “American album certifications – Celine Dion – Miracle”. Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  170. ^ “Céline In Studio”. celinedion.com. 7 tháng 5 năm 2003. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2013. 
  171. ^ “Celine Dion will release, 1 fille & 4 types - her first French album in five years on October 14, 2003”. celinedion.com. 27 tháng 8 năm 2003. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2013. 
  172. ^ “Céline Dion - 1 fille & 4 types”. lescharts.com (bằng French). Hung Medien. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2012. 
  173. ^ Benjamin Jacquot (30 tháng 9 năm 2013). “Céline Dion et Jean-Jacques Goldman : 20 ans d'amitié”. France Bleu. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2014. 
  174. ^ “Certifications albums double platine – année 2003”. snepmusique.com (bằng French). SNEP. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2012. 
  175. ^ “Classement Albums - année 2003”. snepmusique.com (bằng French). SNEP. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2012. 
  176. ^ a ă â “Celine, Clay rule top of charts”. Jam!. Canoe Inc. 22 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  177. ^ “1 fille & 4 types: déjà 150 000 copies vendues”. Le Droit. La Presse, ltée. 24 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  178. ^ “Allmusic”. Review—1 Fille & 4 Types. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2005. 
  179. ^ Gardner, Elysa (28 tháng 11 năm 2002). “Mariah Carey, 'standing again'”. USA Today. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2005. 
  180. ^ “Dion 'to get World Music honour'”. BBC News. 12 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  181. ^ “Diamond Award”. World Music Awards. 2010. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  182. ^ Di Nunzio, Miriam (20 tháng 3 năm 2009). “'A New Day': Vegas gamble pays off for Celine Dion”. Chicago Sun-Times. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2009. 
  183. ^ Gardner, Elysa (26 tháng 3 năm 2003). “Celine Dion's 'New Day' dawns with a TV preview”. USA Today. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2009. 
  184. ^ Hau, Louis (19 tháng 9 năm 2007). “The Top-Earning Musicians”. Forbes. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2009. 
  185. ^ Ryzik, Melena (17 tháng 12 năm 2007). “Celine Dion, she went on and on”. The New York Times. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2009. 
  186. ^ “Dion extends long Las Vegas stint”. BBC. 19 tháng 9 năm 2004. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010. 
  187. ^ “Billboard.com”. U2 Tops Billboard's Money Makers Chart. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2006. 
  188. ^ “Céline Dion is leaving Las Vegas”. BBC News. 5 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2007. 
  189. ^ Serpe, Gina (17 tháng 12 năm 2007). “Celine Dion Leaves Las Vegas”. E! Online. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2009. 
  190. ^ “Celine Dion and A New Day... Cast to Make Final Curtain Call Tonight”. Reuters. 15 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2009. 
  191. ^ “Celine Dion debuts new single, "Taking Chances"... new Album and Worldwide tour, to come!”. Sony Music Entertainment Canada Inc. 12 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. 
  192. ^ “Celine's 'D'elles' Debuted #1 on the Charts and Certified 2X Platinum in Canada!”. Celinedion.com. 1 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2007. 
  193. ^ “'Taking Chances' – Celine's New English Album”. Celinedion.com. 24 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2007. 
  194. ^ Eva Simpson, Caroline Hedley (30 tháng 7 năm 2007). "3AM: Celine Dion.". Daily Mirror. tr. 17. 
  195. ^ Johnson, Kevin C. (21 tháng 6 năm 2007). Ne-Yo Rides His R&B Vision to the Top. Saint Louis Post-Dispatch. tr. 5. 
  196. ^ Taylor, Chuck (11 tháng 9 năm 2007). “Celine Ready To Take 'Chances' On New Album]"”. Billboard. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2007. 
  197. ^ "“Coming attractions: Dion channels cool, fiesty 'Woman'”. USA Today. 13 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  198. ^ “"Concert Dates"”. Celinedion.com. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2007. 
  199. ^ a ă Ray Waddell (23 tháng 1 năm 2008). “Celine's 'Taking Chances' Sales Strong”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  200. ^ “Elvis on 'Idol:' How It Was Done”. ABC News. 27 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  201. ^ “Céline Dion Garners Six JUNO Award Nominations Avril Lavigne, Feist and Michael Bublé Follow Closely with Five Nods Each”. Juno Awards. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  202. ^ Collins, Leah (3 tháng 2 năm 2009). “Nickelback leads Juno nominations”. Canada.com. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2009. 
  203. ^ Richer, Jocelyne (2008). “Céline Dion à Québec vendredi le 400e promet un spectacle mémorable”. Yahoo! news. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2010. 
  204. ^ “Céline sur les Plaines : Un moment rempli d'émotions”. LCN. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2008. 
  205. ^ “New Greatest Hits Album : TeamCeline Exclusive Sneak Peek!”. Celinedion.com. 26 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2008. 
  206. ^ “Chart Watch Extra: The Top 20 Album Sellers Of The 2000s”. music.yahoo.com. 29 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2009. 
  207. ^ a ă “Dave Matthews Band rocks to the top in concert revenue”. Chicago Tribune. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2009. 
  208. ^ a ă “'Eyes of the World': Part Dion concert film, part family album”. UsaToday. 3 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2009. 
  209. ^ “Celine: Through the Eyes of the World, an Expanded DVD Edition of the Acclaimed Documentary & Taking Chances World Tour: The Concert, a New Live DVD/CD, Available Tuesday, May 4”. Prnewswire.com. 22 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  210. ^ “Celine Dion store”. Sonymusicdigital.com. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  211. ^ Reid, Shaheem (31 tháng 1 năm 2010). “Michael Jackson 'Earth Song' Grammy Tribute Focuses On His Love Of The Planet”. MTV. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2011. 
  212. ^ a ă “Celine Dion reaches peak of the decade's Ultimate Top 10”. Latimesblogs.latimes.com. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  213. ^ a ă “Les artistes québécois de la décennie”. Le Journal de Québec. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  214. ^ “Celine Dion Is Americans' Musical Fave”. AdWeek. 6 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2012. 
  215. ^ “Celine Dion is America's Favorite Singer/Musician Followed by U2”. Bw.newsblaze.com. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  216. ^ “Harris Poll: Celine Dion is America's Favorite Singer/Musician Followed by U2”. The Financial. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2010. 
  217. ^ “VOLER Michel Sardou en duo avec Céline Dion”. Canoe.com. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  218. ^ “Marc Dupre: un nouvel extrait compose par Celine Dion”. Branchez-vous!'. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2010. 
  219. ^ “Celine Gives Birth to Twins!!”. Celinedion.com. 25 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010. 
  220. ^ JESSICA DERSCHOWITZ. “Celine Dion's Twins Named Nelson and Eddy”. BBC News. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2010. 
  221. ^ Home. “HELLO! – The place for daily celebrity news”. hellomagazine.ca. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2011. 
  222. ^ a ă “Celine Dion Confirms Her Return to Vegas Stage”. PEOPLE.com. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  223. ^ “Celine Dion Retrospective - 1996”. Oprah.com. 21 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2011. 
  224. ^ “Celine Dion discusses Las Vegas show, gives away tickets on 'Oprah'”. LasVegasSun.com. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  225. ^ “We Know Céline Dion's Post-Baby Plans (Hint: Think Oscar!)”. E! Online. 15 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  226. ^ “Celine on MDA Labor Day Telethon Tonight | The Official Celine Dion Site”. Celinedion.com. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2011. 
  227. ^ “'Celine: 3 Boys and a New Show' On OWN This Weekend! | The Official Celine Dion Site”. Celinedion.com. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2011. 
  228. ^ a ă “Signature – Celine's New Fragrance, Coming Soon To The Boutique | The Official Celine Dion Site”. Celinedion.com. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2011. 
  229. ^ “Celine To Appear At Andrea Bocelli's Concert in Central Park | The Official Celine Dion Site”. Celinedion.com. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2011. 
  230. ^ “VIDEOS: Celine Dion performing LIVE at 2012 Jamaica Jazz and Blues! | Jay Blessed Media”. Jayblessed.com. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2012. 
  231. ^ “The Best of Celine Dion & David Foster” (bằng Taiwanese). Five Music. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2012. 
  232. ^ “Celine's New Albums”. celinedion.com. 7 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2012. 
  233. ^ “Exclusive Celine Interview In Le Parisien”. celinedion.com. 5 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2012. 
  234. ^ a ă â Tuch, Paul (14 tháng 11 năm 2012). “Celine Dion Scores No. 1 Album Debut”. Nielsen SoundScan. Prometheus Global Media, LLC and The Nielsen Company. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2012. 
  235. ^ “#CelineDion fait un HIT avec son nouveau cd...88,206 ventes au Québec seulement! 92,135 Canada....impressionnant!!!!”. Denis Fortin's Twitter Account. Twitter. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2012. 
  236. ^ “Top Albums : Céline Dion écrase Biolay, Françoise Hardy et Patricia Kaas devant Robbie Williams”. chartsinfrance.net (bằng French). Webedia. 15 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  237. ^ “Céline Une chanson à la fois”. Le Journal de Montréal. 27 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2013. 
  238. ^ Sandra Godin (15 tháng 11 năm 2013). “Deux disques platine remis par Julie Snyder”. Le Journal de Montréal. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2013. 
  239. ^ “Céline Dion dévoile son nouveau single "Loved Me Back to Life"”. chartsinfrance.net (bằng French). Webedia. 3 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2013. 
  240. ^ “Céline Une chanson à la fois”. Le Journal de Montréal. 27 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2013. 
  241. ^ Erlewine, Stephen Thomas. “Celine Dion > Sans attendre > Overview > Review”. AllMusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2012. 
  242. ^ “Release Dates For 'Loved Me Back To Life'”. celinedion.com. 4 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013. 
  243. ^ “Celine Dion: Loved Me Back to Life”. celinedion.com. 4 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013. 
  244. ^ Caramanica, Jon; Chinen, Nate (4 tháng 11 năm 2013). “Cds from Celine Dion and Midlake”. The New York Times. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2013. 
  245. ^ Tuch, Paul (13 tháng 11 năm 2013). “Celine Dion Scores 13th Number One Album”. Nielsen SoundScan. Prometheus Global Media, LLC and The Nielsen Company. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2013. 
  246. ^ Jones, Alan (18 tháng 11 năm 2013). “Official Charts Analysis: Lady Gaga hits No.1 with 65k sales”. Music Week. Intent Media. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2013. 
  247. ^ Caulfield, Keith (13 tháng 11 năm 2013). “Eminem Debuts at No. 1 on Billboard 200, Celine Dion and Avril Lavigne in Top Five”. Billboard. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2013. 
  248. ^ Decant, Charles (15 tháng 11 năm 2013). “Top Albums : Florent Pagny devant Eminem et Céline Dion, James Arthur plus fort qu'Avril Lavigne”. Pure Charts (bằng French). Webedia. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2013. 
  249. ^ “Canadian album certifications – Celine Dion – Loved Me Back to Life”. Music Canada. 5 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2013. 
  250. ^ “Music's Top 40 Money Makers 2014: The Rich List”. Billboard. 10 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2014. 
  251. ^ “British album certifications”. British Phonographic Industry. 6 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2013. 
  252. ^ “Certifications Albums – Année 2013” (bằng French). Syndicat National de l'Édition Phonographique. 30 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2014. 
  253. ^ Hampp, Andrew (29 tháng 10 năm 2013). “Celine Dion Shows Edge, and Tries Out New Characters, on 'Loved Me Back to Life'”. Billboard. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2013. 
  254. ^ “Nomination for worlds best song”. worldmusicawards.com. 16 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2013. 
  255. ^ “Celine Dion and Ne-Yo Team Up for "Incredible" Olympic Duet”. KBFF. 30 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2014. 
  256. ^ “Celine Dion Returns to Europe for 7 Exceptional shows”. celinedion.com. 23 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2013. 
  257. ^ “2013 Top 100 Worldwide Tours”. Pollstar. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  258. ^ “2013 Top 200 North American Tours”. Pollstar. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  259. ^ “Celine Dion releases 'Céline une seule fois / Live 2013' May 19th”. celinedion.com. 22 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2014. 
  260. ^ Lesley Messer (13 tháng 8 năm 2014). “Celine Dion Cancels Tour Because of Husband Rene Angelil's Illness”. ABC News. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2014. 
  261. ^ Joe Lynch (13 tháng 8 năm 2014). “Celine Dion Puts Career on Hold 'Indefinitely' to Deal With Husband's Health”. Billboard. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2014. 
  262. ^ “Celine Dion Bio”. All Music Guide. 2009. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2010. 
  263. ^ “Celine Dion Remembers Her Idol, Michael Jackson”. Fox News. 30 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2010. 
  264. ^ “From Beyonce to Gaga: 8 Singers Influenced by Whitney Houston – Celine Dion”. ABC News. ABC News Internet Ventures. 16 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012. 
  265. ^ “Celine Dion, Let's Talk About Love. Plugged in. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2007. 
  266. ^ “Celine Dion”. plugged in.com. Focus on the Family. 2009. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2010. 
  267. ^ “Celine Dion-- One Heart”. plugged in.com. Focus on the Family. 2009. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2010. 
  268. ^ “A new Day Has Come”. plugged in.com. Focus on the Family. 2009. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2010. 
  269. ^ The New Rolling Stone Album Guide 2004.
  270. ^ a ă “The real Céline: Céline Dion's new French album shows her personal side”. CBC. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2010. [liên kết hỏng]
  271. ^ Depalma, Anthony (23 tháng 2 năm 1997). “Quebec's Little Girl, Conquering the Globe”. The New York Times. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2010. 
  272. ^ Joel Selvin (23 tháng 2 năm 2009). Celine Dion in full force at HP Pavilion. San Francisco Chronicle. tr. E2. “"Bạn muốn phô mát ư? Cô ấy là một núi lửa Velveeta 
  273. ^ “Canadian Broadcasting Corporation”. Céline Dion takes swipe at Iraq war; donates $1 m to Katrina victims. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2006. 
  274. ^ Glatzer, Jenna (2005). Céline Dion: For Keeps. Andrews McMeel Publishing. ISBN 0-7407-5559-5. 
  275. ^ Andersson, Eric (12 tháng 3 năm 2007). "Who Inspired the Idols?". Us. tr. 104. 
  276. ^ "If Ella Fitzgerald is the queen of jazz, Billie Holiday first lady of the blues, and Aretha Franklin the queen of soul, then who is the queen of pop? In the 1990s, it would seem to be a three-way tie between Whitney Houston, Mariah Carey, and Celine Dion. Certainly all three have their devotees and detractors, but their presence has been inescapable." trong Lister, Linda (2001). “Divafication: The Deification of Modern Female Pop Stars”. Popular Music and Society 25 (3/4). tr. 1. ISSN 03007766 
  277. ^ “MTV's 22 Greatest Voices in Music”. mtv's 22. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2007. 
  278. ^ “22 Greatest Voices in Music”. Amiannoying.com. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  279. ^ Depalma, Anthony (23 tháng 2 năm 1997). “POP/JAZZ – Quebec's Little Girl, Conquering the Globe”. The New York Times (Quebec Province (Canada)). Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2010. 
  280. ^ “Celine Dion is 'Taking Chances' with her latest show stopper”. Usatoday30.usatoday.com. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  281. ^ “Quebec's Little Girl, Conquering the Globe”. New York Times. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2009. 
  282. ^ “People to Watch”. Nl.newsbank.com. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  283. ^ “Celine Dion - Live Vocal Range (B2 - Eb6) 3.2 Octaves”. youtube.com. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2014. 
  284. ^ “Celine Dion's Live Vocal Range: B2-C#6 (3.4 Octaves)”. youtube.com. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2014. 
  285. ^ a ă â “Alain de Repentigny : Céline Dion chante de l'opéra pour Kent Nagano | Musique”. Cyberpresse.ca. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2010. 
  286. ^ Vocal workouts for the contemporary singer.. Boston: Berklee Press. tr. 117. ISBN 0-87639-047-5.  Đã bỏ qua tham số không rõ |uuthor= (trợ giúp)
  287. ^ a ă Holden, Stephen (2 tháng 3 năm 1994). “Review/Pop – The International Sound of Celine Dion – Review”. The New York Times. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2010. 
  288. ^ Hazera, Hélène (21 tháng 6 năm 1999). “Dion dans les grandes largeurs : Samedi et dimanche, l'idole canadienne a rempli le Stade de France”. Libération. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2011. 
  289. ^ “Celine Dion Takes Chances in Latest Album”. News.google.com. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  290. ^ a ă Denise Bombardier (2009). L'énigmatique Céline Dion, Albin Michel . tr. 179. 
  291. ^ a ă â b “Céline Dion”. BornRich. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  292. ^ Davis, Mari (16 tháng 4 năm 2003). “Celine Dion Promotes Her Eponymous Perfume”. Fashion Windows. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2009. 
  293. ^ “Celine Dion to Launch Pure Brilliance Fragrance”. WWD. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  294. ^ “Celine Dion to Launch New Perfume – Pure Brilliance”. AOL Style List. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2010. 
  295. ^ Alberts, Sheldon (20 tháng 6 năm 2007). A Canadian liftoff; Dion 'flattered' her Air Canada ad chosen as Clinton's campaign song. National Post. tr. A3. 
  296. ^ McLellan, Stephanie Simpson (1 tháng 5 năm 2004). Celebrating the Mother-Child Bond. Today's Parent. tr. 32. 
  297. ^ Wray, James (12 tháng 1 năm 2005). “Celine Dion to Raise One Million for Tsunami Victims”. Monsters & Critics. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2008. 
  298. ^ “Her letter to China Children & Teenagers' Fund”. Celine Dion. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2009. 
  299. ^ “Céline contre le SIDA | LE POINT - Le fil de presse du Groupe National / Newswire”. Gayglobe.us. 9 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  300. ^ Andersson, Eric (12 tháng 3 năm 2007). "Who Inspired the Idols?". Us. tr. 104. 
  301. ^ Lister, Linda. “Divafication: The Deification of Modern Female Pop Stars” (PDF). Linda Lister. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2013. 
  302. ^ Harp, Justin (23 tháng 2 năm 2012). “'American Idol' Randy Jackson: Whitney Houston was voice of generation”. Digital Spy. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2013. 
  303. ^ Hiebert, Paul (12 tháng 5 năm 2010). “Why Celine Dion Will Always Be Popular — At Least While You're Alive”. Flavorwire. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2013. 
  304. ^ Bản mẫu:Cú thích báo
  305. ^ “ARTISTdirect's Exclusive Interview With Rihanna!”. ARTISTdirect. 12 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2013. 
  306. ^ By GORDON SMART, Showbiz Editor (14 tháng 5 năm 2012). “R.I.P. singer Rita Ora has revealed she is a massive fan of Celine Dion | The Sun |Showbiz|Bizarre”. The Sun. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  307. ^ “Christina Aguilera talks about Celine Dion”. YouTube. 26 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  308. ^ “Frank Ocean Gets Up Close in i-D Magazine”. Rap-Up.com. 23 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2014. 
  309. ^ Patterson, Sylvia (27 tháng 1 năm 2008). “Mad about the girl”. The Observer. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2014. 
  310. ^ a ă “Josh Groban Defends Celine Dion”. Groban Archives. 9 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  311. ^ “No Cookies”. Perth Now. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  312. ^ “Jordin Sparks Shares Her Admiration For Mariah Carey, Celine Dion and Christina Aguilera”. YouTube. 3 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  313. ^ “13.Charice_-_Sep_19_2008__HQ_.mp4”. YouTube. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  314. ^ “Lewis To Meet Pop Idol Celine Dion”. Contactmusic.com. 28 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  315. ^ “Twitter / JessieJ: Celine Dion is a DON! #justsaying”. Twitter.com. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  316. ^ “Twitter / JoJoistheway: I really have to learn French”. Twitter.com. 2 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  317. ^ “Lea Michele & Cory Monteith Get Sinful With Celine Dion!”. PerezHilton.com. 27 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  318. ^ “Jennifer Hudson”. American Idol. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2013. 
  319. ^ “Ariana Grande talking about celine dion”. YouTube. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  320. ^ “Celine Dion - At Seventeen (LIVE in HDTV)”. YouTube. 7 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  321. ^ Apr 18, 2011 00:00 (18 tháng 4 năm 2011). “Vanessa Hudgens wants to work with Celine Dion - 3am & Mirror Online”. Mirror.co.uk. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  322. ^ [http://www.americanidol.com/contestants/season_1/kelly_clarkson%7Ctitle=Kelly Clarkson|accesdate=12/21/2014|archiveurl=https://web.archive.org/web/20131202230018/http://www.americanidol.com/contestants/season_1/kelly_clarkson%7Carchivedate=12/2/2013%7Cpublisher=American Idol}}
  323. ^ Business Wire (11 tháng 10 năm 2011). “Martina McBride, Target Exclusive Deluxe Edition Of "Eleven" (Photo: Business Wire)”. TheStreet. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  324. ^ “Unlikely fan: Why opera's biggest star Placido Domingo is crazy for Lady Gaga”. Daily Mail. London. 
  325. ^ “Beyoncé got parenting tip from Celine Dion: 'I use a mommy voice' - Showbiz News”. Digital Spy. 17 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  326. ^ “Legendary Santana lets his guitar fly solo”. Canada.com. 4 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  327. ^ “Celine Dion & Elton John - H.E.A.R.T. Concert (Entertainment Tonight 21-02-2006)”. YouTube. 2 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  328. ^ “OneRepublic - Hey Everyone, tell us your secrets and we'll...”. Facebook. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  329. ^ Monday, October 10, 2005 - 05:34 PM (10 tháng 10 năm 2005). “Martin eyes Coldplay duet with Dion”. Irish Examiner. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  330. ^ “Twitter / MrsSOsbourne: There is no better female artist”. Twitter.com. 10 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  331. ^ “Twitter / NicoleScherzy: Such an honour to meet”. Twitter.com. 10 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  332. ^ “Ne-Yo Teams With Celine Dion for Duet: 'It Definitely Made Me Question My Vocal Ability'”. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  333. ^ “Celine Dion - The Reason (The Sessions)”. YouTube. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  334. ^ “YouTube”. YouTube. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  335. ^ “Celine Dion - Making Album Let's Talk About Love”. YouTube. 7 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  336. ^ a ă “Celine Dion - Making Album Let's Talk About Love”. YouTube. 7 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  337. ^ “Indiscrétions : Justin Bieber en duo avec Céline Dion pour Believe?”. Nerienlouper.fr. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  338. ^ “Céline Dion et Jean-Jacques Goldman "S'il suffisait d'aimer" - Archive INA”. YouTube. 9 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  339. ^ “Cher talks about Celine Dion's voice”. YouTube. 16 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  340. ^ “Unfinished Songs New Celine Dion & Diane Warren Song from the Film Unfinished Song”. YouTube. 28 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  341. ^ Bản mẫu:Chú thíchweb
  342. ^ “David Foster :Interview Mid 90s Pt2”. YouTube. 10 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  343. ^ “Shania Twain in the footsteps of Celine Dion in Las Vegas | The Official Celine Dion Site”. Celinedion.com. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  344. ^ “J.Lo talking about celine dion on American idol 2011 (Pia Toscano)”. YouTube. 4 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  345. ^ “Céline Dion”. RFI Musique. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  346. ^ 8:00AM (18 tháng 5 năm 2008). “Celine To Receive the French Legion of Honor Medal | The Official Celine Dion Site”. Celinedion.com. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  347. ^ “Celine Dion: The Queen of Las Vegas”. VegasMagazine. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2014. 
  348. ^ “Celine Dion: The Queen of Las Vegas”. Vegasmagazine.com. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  349. ^ “Britney Spears - Vegas Contract Is TITANIC ... But She Can't Touch Celine”. TMZ.com. 16 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  350. ^ Music. “Why is Las Vegas gambling $15 million on Britney Spears?”. Telegraph. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014. 
  351. ^ Goddard, Jacqui (19 tháng 3 năm 2011). “Celine Dion promises to bring the sparkle back to Las Vegas”. The Daily Telegraph (London). 
  352. ^ “Céline Don”. Đại lộ danh vọng Canada. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2014. 
  353. ^ “Celine Dion to join Hollywood's star set”. ABC News. 7 tháng 1 năm 2004. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2014. 
  354. ^ Lea Goldman and Kiri Blakeley (18 tháng 1 năm 2007). “The 20 Richest Women In Entertainment”. Forbes. 
  355. ^ “Forbes Top 20 Richest Women In Entertainment”. All Women Stalk. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2011. 
  356. ^ “Oprah tops celebrity women list”. BBC News. 19 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2008. 
  357. ^ “She's Dr. Dion now, courtesy of Laval U”. Canada.com. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2008. 
  358. ^ “Susan Sarandon, Celine Dion named hunger goodwill ambassadors”. USATODAY.COM. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  359. ^ “Céline Dion décorée de la Légion d'honneur par Nicolas Sarkozy”. Liberation.fr. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013. 
  360. ^ “Dion receives French Legion of Honour”. Canada.com. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng và thành tích
Tiền vị:
Ireland Johnny Logan
cùng "Hold Me Now"
Nhà quán quân Eurovision Song Contest
1988
Kế vị
Nam Tư Riva
cùng "Rock Me"
Tiền nhiệm:
Carol Rich
Thụy Sĩ tại Eurovision Song Contest
1988
Kế nhiệm:
Furbaz