Céline Dion

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Céline Dion
Céline Dion 2012.jpg
Céline Dion (tháng 11 năm 2012)
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Céline Marie Claudette Dion
Sinh 30 tháng 3 năm 1968 (44 tuổi)
Nguyên quán Flag of Canada.svg Charlemagne, Quebec, Canada
Nghề nghiệp Ca sĩ,[1] nhạc sĩ-sáng tác nhạc,[2] diễn viên[3]
Thể loại Pop, dance, R&B, pop rock, soft rock, adult đương đại
Nhạc cụ Giọng hát
Năm 1980–nay
Hãng đĩa Sony Music Canada, Epic, 550, Columbia
Website celinedion.com

Céline Marie Claudette Dion (Phát âm tiếng Pháp: [selin djɔ̃]); sinh ngày 30 tháng 3 năm 1968) là một ca sĩ người Canada. Được sinh ra từ một gia đình đông đúc tại Charlemagnetỉnh Québec,[4] Dion đã nổi lên trở thành một ngôi sao tuổi teen trong cộng đồng Pháp sau khi quản lý của cô, đồng thời là người chồng tương lai René Angélil cho vay nhà của anh ta để có tiền cung cấp cho đĩa nhạc đầu tiên của Dion.[5] Năm 1990, cô phát hành album tiếng Anh mang tựa đề Unison, giúp cô trở thành ngôi sao nhạc pop tại vùng đất Bắc Mỹ và các vùng nói tiếng Anh khác trên thế giới.[6]

Dion lần đầu được biết đến trên toàn cầu vào thập niên 1980 khi cô thắng cả hai giải World Popular Song Festival của Yamaha năm 1982 và Eurovision Song Contest năm 1988.[7][8] Sau một loạt album tiếng Pháp trong thập niên 1980, cô kí kết với hãng đĩa CBS Records Canada năm 1986. Xuyên suốt thập niên 1990, với sự giúp đỡ của Angélil, danh tiếng của cô lan rộng toàn cầu sau khi kí kết với hãng đĩa Epic Records và phát hành một vài album tiếng Anh cùng với các album tiếng Pháp, trở thành một trong những ngôi sao nhạc pop thành công nhất trong lịch sử âm nhạc.[9][10] Tuy nhiên, vào năm 1999, khi danh tiếng của cô đạt đến đỉnh cao, Dion thông báo sẽ nghỉ công tác trong ngành giải trí một thời gian và thu xếp công việc gia đình và giành thời gian chăm sóc người chồng đang bị chuẩn đoán căn bệnh ung thư của Dion.[10][11] Cô trở lại với ngành âm nhạc năm 2002 và kí kết hợp đồng 3 năm (sau này kéo dài tới 5 năm) biểu diễn hằng đêm trong chương trình âm nhạc tại Caesars Palace, Paradise, Nevada.[12][13][14]

Các ấn phẩm nhạc của Dion chịu ảnh hưởng của nhiều dòng nhạc, từ rock, R&B tới gospelcổ điển. Chúng thường nhận được các ý kiến trái chiều từ các nhà phê bình âm nhạc, và giọng ca của Dion được ca ngợi là điêu luyện và mạnh mẽ.[15][16][17] Dion cũng là nghệ sĩ người Canada có doanh số đĩa nhạc lớn nhất,[18][19] là nữ nghệ sĩ có doanh số đĩa nhạc lớn thứ hai tại Mỹ trong kỷ nguyên Nielsen SoundScan,[20] và là nữ nghệ sĩ duy nhất có hai đĩa đơn tiêu thụ hơn 1 triệu bản tại Liên hiệp Anh.[21] Ngoài ra, album tiếng Pháp năm 1995 của cô mang tựa đề D'eux là album tiếng Pháp bán chạy nhất mọi thời đại.[22] Năm 2004, sau khi đạt mốc 175 triệu bản album được bán ra, cô được trao Giải Chopard Diamond tại Giải Âm nhạc Thế giới cho việc trở thành nữ nghệ sĩ có doanh số đĩa nhạc lớn nhất mọi thời đại.[23][24] Theo Hãng Giải trí Sony, Dion đã bán được 200 triệu bản album trên toàn thế giới.[25]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

1968-1989: Thời thơ ấu và bắt đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Céline Dion năm 18 tuổi.

Céline Dion sinh ra tại Charlemagne, Québec, Canada, trong một gia đình gồm 14 anh chị em và là con út. Cha mẹ của Dion là Adhémar Dion và Thérèse Tanguay, cả hai đều là người Pháp-Canada. Cô lớn lên trong gia đình nghèo theo Thiên Chúa giáo La Mã, tuy nhiên cô vẫn sống vui vẻ với gia đình tại Québec.[10][26] Âm nhạc luôn là một phần không thể thiếu trong gia đình của cô (tên của Céline Dion được đặt tên theo bài hát Céline, được thu âm bởi ca sĩ người Pháp Hugues Aufray hai năm trước khi cô ra đời).[27] Vào ngày 13 tháng 8 năm 1973 (lúc này Dion đã được 5 tuổi), Céline lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng khi biểu diễn bài hát của Christine Charbonneau tại đám cưới của anh trai Michel,[28] Du fil des aiguilles et du coton.[29] Sau đó, cô cùng các anh chị ruột ca hát tại quầy piano của cha mẹ được gọi là Le Vieux Baril. Ngay từ lúc còn nhỏ, Dion đã mong muốn trở thành một người trình diễn.[30] Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí People năm 1994, cô đã nói: "Tôi rất nhớ nhà và gia đình, tuy nhiên tôi không hề tiếc nuối tuổi xuân của tôi. Tôi chỉ có một ước mơ: Đó là trở thành ca sĩ nổi tiếng".[31]

Năm 12 tuổi, Dion cùng mẹ và anh trai Jacques sáng tác ca khúc đầu tay của cô, "Ce n'était qu'un rêve" ("Chỉ là một Giấc mơ").[26] Anh trai Michel gửi bản thu âm tới giám đốc âm nhạc René Angélil, tên của ông ấy được tìm thấy sau bìa album Ginette Reno.[5] Angélil đã thật sự xúc động khi nghe ca khúc đó của Dion, và quyết định giúp cho cô ấy trở thành một ngôi sao.[26] Năm 1981, ông thế chấp ngôi nhà của ông và tạo nên quỹ để thành lập nên album đầu tiên của Dion, La voix du bon Dieu ("Giọng nói của Chúa nhân từ"), và sau đó trở thành đĩa nhạc nổi tiếng trong địa phương và giúp Dion trở thành một ngôi sao tại tỉnh Québec. Năm 1982, độ nổi tiếng của cô lan rộng ra thế giới khi cô tham gia vào Cuộc thi Yamaha World Popular Song Festival tại Tokyo, Nhật Bản, và thắng ở hạng mục "Trình diễn tốt nhất" và huy chương vàng cho hạng mục "Bài hát tốt nhất" với ca khúc "Tellement j'ai d'amour pour toi" ("Em Yêu Anh Rất nhiều").[5]

Năm 1983, ngoài việc trở thành nghệ sĩ Canada đầu tiên được cấp chứng nhận vàng tại Pháp cho đĩa nhạc "D'amour ou d'amitié", Dion cũng giành được một vài Giải Felix, bao gồm hạng mục "Trình diễn nữ xuất sắc nhất" và "Khám phá của năm".[5][32] Thành công của cô vang dội ra cả Châu Á, Châu Âu và Úc khi Dion đại diện cho đoàn Thụy Sĩ trong cuộc thi Eurovision Song Contest năm 1988 với bài hát "Ne partez pas sans moi" ("Đừng Rời đi mà Không có Em") và chiến thắng tại Dublin, Ireland.[33] Tuy nhiên, danh tiếng của cô tại Mỹ chưa nổi cho lắm, một phần có lẽ là vì Dion là ca sĩ nói tiếng Pháp.[34] Ở tuổi 18, sau khi xem màn trình diễn của Michael Jackson, Dion nói với Angélil rằng cô muốn trở thành một ngôi sao lớn giống như Michael.[35] Mặc dù tự tin với tài năng của Dion, Angélil nhận ra rằng hình ảnh của cô cần phải lan rộng ra thị trường âm nhạc thế giới.[26] Dion tạm thời không ca hát trong một vài tháng, trong lúc phẫu thuật thẩm mỹ để cải thiện ngoại hình, và được gửi tới École Berlitz để cải thiện việc nói tiếng Anh của cô.[6]

1990-1995: Những thành công lớn đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Hai năm sau khi hoàn tất việc học tiếng Anh, Céline Dion ra mắt album phòng thu đầu tay trên thị trường nói tiếng Anh có tên Unison vào năm 1990.[5] Cô đã được trợ giúp bởi sự hợp tác của các nhạc sĩ đi trước, gồm có Vito Luprano và nhà sản xuất nhạc người Canada David Foster.[36] Phần lớn album chịu ảnh hưởng của dòng nhạc soft rock thập niên 1980 vốn phù hợp với trên các đài phát adult đương đại. Unison chủ yếu nhận được các đánh giá tích cực từ phía phê bình âm nhạc.[37][38] Nhìn chung, album là một thành công khá lớn của Dion, đạt vị trí thứ 18 ở Canada, thứ 74 ở Mỹ và đã tiêu thụ hơn 3 triệu bản toàn thế giới.[39][40] Có năm đĩa đơn trích từ album, trong đó đĩa hát "Where Does My Heart Beat Now" là bài hát xếp hạng cao nhất từ Unison, đạt vị trí thứ 4 tại Mỹ và thứ 6 tại Canada.

Năm 1991, Dion được chọn làm một trong những người hát chính trong ca khúc "Voices That Care" để tôn vinh quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh. Céline Dion thực sự trở nên nổi tiếng toàn cầu khi cô cùng với Peabo Bryson thu âm bài hát "Beauty and the Beast" cho bộ phim Người đẹp và quái vật (1991) của hãng Walt Disney.[41] Bài hát mang tính chất uyển chuyển, cổ điển với những nhạc cụ nhẹ nhàng mà sau này Céline hay thực hiện những ca khúc có tính chất như thế. "Beauty and the Beast" đã giúp Dion giành được một giải Oscar cho Bài hát xuất sắc nhất và một giải Grammy cho Trình diễn giọng pop theo cặp song ca xuất sắc nhất.[15] Sau này, bài hát có mặt trong album mang chính tên cô phát hành năm 1992. Giống với Unison, Celine Dion có giai điệu của tình yêu và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ dòng nhạc rock kết hợp với soul và cổ điển. Đĩa đơn xếp hạng cao nhất từ album là "If You Asked Me To", một bản cover lại của nữ diva Patti LaBelle, xếp hạng thứ 4 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Cũng trong khoảng thời gian này, Céline tiếp tục phát hành album tiếng Pháp mới có tên Dion chante Plamodon (Dion hát những bản nhạc Plamodon) vào năm 1991.

Các album Unison, Celine Dion cùng những xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đã giúp Dion trở thành một ngôi sao lớn ở vùng Bắc Mỹ. Cô đã đạt được mục đích là dấn thân vào thị trường nói tiếng Anh và gặt hái thành công.[41] Tuy nhiên, khi Dion đang hưởng những thành công mà cô đạt được ở Bắc Mỹ, những người hâm mộ của cô ở Canada đã chỉ trích Dion vì bỏ qua họ.[15][42] Sau đó, cô đã lấy lại được niềm tin của những người hâm mộ tại lễ trao giải Félix. Tại đó, mặc dù Dion đã thắng giải cho hạng mục "Nghệ sĩ người Anh của năm", cô đã từ chối nhận giải. Céline khẳng định cô đã–và sẽ luôn luôn–là nghệ sĩ người Pháp, không phải người Anh.[6][43] Trong thời gian này, quản lý René Angélil, vốn già hơn Dion 26 tuổi, nảy sinh mối quan hệ tình cảm với cô. Mối quan hệ này đã được họ giữ bí mật vì Dion lo rằng những người hâm mộ của cô sẽ phản đối.[44]

Năm 1993, Céline Dion thông báo rằng sẽ đặt tình cảm của cô với quản lý trong album tiếng Anh thứ ba có tên The Colour of My Love. Những người hâm mộ của Dion đã ủng hộ đôi uyên ương, trái ngược với lo sợ họ sẽ phản đối như Dion đã từng nghĩ.[15] Sau đó, Angélil cùng Céline đã tổ chức một đám cưới xa hoa lộng lẫy, và được truyền hình trực tiếp trên đài phát thanh Canada.

The Colour of My Love có ca từ chủ yếu tập trung về tình yêu.[45] Vào thời điểm đó, album là đĩa nhạc thành công nhất trên thị trường, tiêu thụ trên 6 triệu bản ở Mỹ, 2 triệu bản ở Canada và quán quân bảng xếp hạng của nhiều quốc gia toàn cầu. Đĩa đơn "The Power of Love" (vốn là của nữ ca sĩ Jennifer Rush năm 1985) được Céline Dion cover lại, trở thành đĩa quán quân đầu tiên của cô tại Mỹ, Canada cũng như Úc. The Colour of My Love cũng trở thành album rất thành công ở châu Âu, quán quân tại nhiều quốc gia trong khu vực bao gồm cả Liên hiệp Anh. Đĩa đơn "Think Twice" cũng tiêu thụ trên một triệu bản sao ở Liên hiệp Anh.[46] Ngoài những thành công của các ấn hành nhạc tiếng Anh, Céline Dion còn tiếp tục phát hành những album tiếng Pháp. Năm 1994, Dion phát hành À l'Olympia, bao gồm các phần trình diễn của Dion tại Paris Olympia. Một năm sau, cô tiếp tục phát hành album D'eux trở nên thành công vang dội, với hơn 10 triệu bản sao tiêu thụ toàn thế giới. D'eux đã trở thành album tiếng Pháp bán chạy nhất mọi thời đại.[36] Năm 1996, Céline Dion chiến thắng một giải Âm nhạc Thế giới ở hạng mục "Nữ nghệ sĩ có số đĩa thu âm bán chạy nhất năm" cho những thành quả đã đạt được nhờ các album trước.[47]

1996–1999: Falling into You, Let's Talk About Love và S'il suffisait d'aimer[sửa | sửa mã nguồn]

Falling into You (1996), album tiếng Anh thứ tư, đã đưa Dion lên đến đỉnh cao danh vọng và thể hiện một bước phát triển lớn trong âm nhạc của cô. Để có thể đến với nhiều đối tượng người nghe hơn, album này là tổng hòa của rất nhiều yếu tố âm nhạc như những phần hợp diễn phức tạp của dàn nhạc, âm hưởng thánh ca châu Phi và các hiệu ứng âm thanh được dày công trau chuốt chi tiết. Thêm vào đó, một số nhạc cụ như violin, guitar Tây Ban Nha, trombone, cavaquinho tạo nên những hợp âm mới. Mỗi đĩa đơn mang một phong cách nhạc riêng. Ca khúc chủ đề “Falling into You” và “River Deep, Mountain High” (cover lại bản gốc của Tina Turner) sử dụng nhiều nhạc cụ bộ gõ, "It's All Coming Back to Me Now" (làm lại từ bản gốc của Jim Steinman) và “All By Myself” (làm lại từ bản gốc của Eric Carmen) vẫn duy trì được không khí nhạc của soft rock đồng thời kết hợp với âm thanh đàn piano cổ điển; và đĩa đơn đứng đầu "Because You Loved Me", được viết bởi Diane Warren, là một khúc ballad lắng sâu đã được chọn là nhạc nền trong bộ phim Up Close & Personal năm 1996.

Falling into You nhận được nhiều lời đánh giá tích cực nhất từ giới chuyên môn trong sự nghiệp của Dion. Trong khi Dan Leroy cho rằng album này không có nhiều khác biệt so với những nhạc phẩm trước đó của cô, cũng như Stephen Holden của The New York Times and Natalie Nichols của The Los Angeles Times nhận xét rằng nó vẫn “theo khuôn mẫu cũ”, các nhà phê bình khác, ví dụ như Chuck Eddy của Entertainment Weekly, Stephen Thomas Erlewine của AMG và Daniel Durchholz, khen ngợi album này “đầy sức thuyết phục”,”nồng nàn”, “độc đáo”, “tinh tế” và “đặc biệt được sản xuất công phu”. Falling into You trở thành album thành công nhất của Dion cả về thương mại và phê bình nghệ thuật: đứng đầu bảng xếp hạng tại nhiều quốc gia trên thế giới và là một trong những album bán chạy nhất mọi thời đại. Tại Hoa Kì, album này giành vị trí số 1, và sau đó được chứng nhận 11 lần bạch kim với hơn 11 triệu ấn bản được bán ra. Tại Canada, album được chứng nhận kim cương với hơn 1 triệu ấn bản. Liên đoàn Quốc tế ngành Công nghiệp thu âm (IFPI) chứng nhận 9 lần bạch kim cho Falling into You, giải thưởng vốn chỉ được dành cho 2 album khác trong lịch sử (mà trong đó có 1 album nữa của Dion, Let’s Talk About Love). Album cũng chiến thắng giải Grammy hạng mục Album nhạc Pop xuất sắc nhất và danh hiệu cao nhất của viện hàn lâm, Album của năm. Vị thế của Dion trên trường quốc tế được khẳng định hơn nữa khi cô được đề nghị biểu diễn “The Power of the Dream” tại buổi lêc khai mạc Thế vận hội Olypic Atlanta 1996. Từ tháng 3 năm 1996, cô bắt đầu chuyến lưu diễn Falling into You Tour để quảng bá thêm cho album, biểu diễn trên khắp thế giới trong vòng hơn một năm.

Sau Falling into You, Dion ra mắt Let’s Talk About Love (1997) như một sự tiếp nối với album trước đó. Quá trình thu âm diễn ra ở Luân Đôn, thành phố New YorkLos Angeles, cùng với sự góp mặt của rất nhiều khách mời đặc biệt như Barbra Streisand trong "Tell Him"; nhóm Bee Gees trong "Immortality"; ca sĩ giọng nam cao nổi tiếng thế giới Luciano Pavarotti trong "I Hate You Then I Love You". Các nghệ sĩ khác gồm có Carole King, Sir George Martin, Bryan Adams và ca sĩ người Jamaica Diana King, người đã đem đến âm hưởng reggae (một thể loại nhạc của Jamaica) cho ca khúc "Treat Her Like a Lady". Giống như Falling into You, Let’s Talk About Love cũng là một thành công rực rỡ của Dion, đứng đầu tại các bảng xếp hạng nhiều nước trên thế giới, đạt chứng nhận bạch kim chỉ sau 24 giờ phát hành và trở thành album tiêu thụ nhanh nhất trong sự nghiệp của cô. Tại Hoa Kì, album này giành vị trí quán quân sau bảy tuần lên kệ, sau đó đạt chứng nhận mười lần bạch kim với hơn 10 triệu ấn bản bán ra. Tại Canada, doanh số đạt 230 212 ngay trong tuần đầu tiên ra mắt, lập nên kỉ lục mới và cũng vẫn là kỉ lục cho đến nay. Album này được chứng nhận kim cương tại Canada với hơn 1 triệu ấn bản tiêu thụ. Đĩa đơn thành công nhất trích từ album này là bản ballad mang ảnh hưởng sâu sắc từ nhạc cổ điển “My Heart Will Go On”, viết lời và soạn nhạc bởi James HornerWill Jennings, sản xuất bởi HornerWalter Afanasieff. Ca khúc này được chọn làm ca khúc chủ đề cho bộ phim điện ảnh huyền thoại về tình yêu Titanic, đứng đầu tại rất nhiều bảng xếp hạng trên thế giới và trở thành ca khúc đặc trưng của Dion, nhắc đến cô là nhắc đến ca khúc bất hủ này. “My Heart Will Go On” cũng chiến thắng giải Oscars và giải Quả cầu vàng cho Ca khúc trong phim hay nhất, hai giải Grammy cho hạng mục Trình diễn pop bởi nữ nghệ sĩ Xuất sắc nhất và giải thưởng danh giá nhất Ca khúc của năm (bản thân ca khúc chiến thắng tại 4 hạng mục nhưng 2 hạng mục còn lại thuộc về người soạn nhạc). “My Heart Will Go On” và “Think Twice” giúp cô trở thành nghệ sĩ nữ duy nhất tại Vương quốc Anh có hai đĩa đơn có doanh số vượt ngưỡng 1 triệu bản. Để tiếp tục quảng bá cho album, Dion khởi động chuyến lưu diễn Let’s Talk About Love Tour, kéo dài 2 năm 1998 – 1999.

Dion kết thúc thập niên 90 bằng ba album vô cùng thành công – album dịp Giáng sinh These Are Special Times (1998), album tiếng Pháp S'il suffisait d'aimer, và album tổng hợp All the Way... A Decade of Song (1999). Trong These Are Special Times, cô tham gia nhiều hơn vào quá trình sáng tác. Cô đồng soạn "Don't Save It All For Christmas Day" cùng với Ric WakePeter Zizzo. Album này chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất từ dòng nhạc cổ điển trong số các nhạc phẩm của cô, với những đoạn nhạc tấu bởi dàn nhạc thính phòng có mặt ở hầu hết các ca khúc. “]]I’m Your Angel]]”, bản song ca cùng R. Kelly, trở thành đĩa đơn thứ tư của cô đạt vị trí số 1 tại và cũng là một ca khúc nổi tiếng quốc tế. All the Way... A Decade of Song cũng dẫn đầu nhiều bảng xếp hạng tại Anh, CanadaAustralia. Album phòng thu bằng tiếng Pháp cuối cùng của cô, S'il suffisait d'aimer, cũng không kém phần vang dội, giành quán quân tại hầu hết các bàng xếp hạng âm nhạc có uy tín tại các nước nói tiếng Pháp, trong đó có Pháp, Thụy Sĩ, miền nam Bỉ và Canada. Tại Pháp, album này được chứng nhận kim cương, tiêu thụ 1.5 triệu bản. Cho đến những năm cuối của thập niên 90, Celine Dion đã bán được hơn 100 triệu bản album trên toàn thế giới và đạt được rất nhiều giải thưởng âm nhạc danh giá. Vị thế của một trong những ngôi sao thuộc hành diva của thế giới càng thêm vững chắc hơn khi cô được mời biểu diễn trong chương trình đặc biệt Divas Live của VH1 cùng với những ngôi sao hàng đầu khác như Aretha Franklin, Gloria Estefan, Shania TwainMariah Carey. Cùng năm đó cô được trao tặng hai trong số những danh hiệu cao quý nhất của đất nước quê hương mình: “Thành viên của Hiệp hội Canada dành cho Những đóng góp Quan trọng cho Thế giới Âm nhạc Đương đại” và “Thành viên của Hội Quốc gia Quebec”. Một năm sau đó cô được công nhận là thành viên trong Đại sảnh Danh vọng và được vinh danh với một ngôi sao khắc trên Đại lộ Danh vọng của Canada.

Trong thời kì này, phong cách pop rock vốn rất nổi bật trong những nhạc phẩm trước đó của Dion bị thay thế bởi âm hưởng adult contemporary mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, đề tài chủ đạo trong đa phần các ca khúc vẫn là tình yêu, điều này khiến một số nhà phê bình chê là “sáo rỗng, tầm thường”. Một số nhà phê bình khác như Elysa Gardner and Jose F. Promis, đặc biệt tán dương giọng hát của cô trong giai đoạn này, diễn tả là “thành công kì diệu về kĩ thuật (thanh nhạc)”. Dẫu vậy, những người khác như Steve Dollar, người đánh giá These Are Special Times, khẳng định rằng Dion là “đỉnh Olympus khổng lồ về thanh nhạc mà không có ngọn núi nào – hay kích thước nào – cao hơn thế.”. ▲

2000–2003: Tạm nghỉ, A New Day Has Come, One Heart và 1 fille & 4 types[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi đã phát hành và quảng bá cho 13 album trong thập niên 90, Dion tuyên bố rằng cô cần tìm một bến đỗ cho mình, và trong album mới nhất All the Way… A Decade of Song cô thông báo rằng cô muốn tạm rời khỏi ánh đèn sân khấu và tận hưởng cuộc sống riêng. Angélil bị chẩn đoán ung thư cổ họng cũng là một lí do khiến cô vắng bóng một thời gian. Nhưng kể cả khi tạm nghỉ, Dion cũng không thể hoàn toàn thoát khỏi giới truyền thông. Trong năm 2000, báo National Enquirer xuất bản một câu chuyện sai lệch về cô. Tung ra một bức ảnh về cô và chồng cô, tờ báo đó cố ý trích sai lời Dion và giật tít “Tôi đang mang thai một cặp sinh đôi!”. Cô đã kiện toà soạn về vụ việc này và yêu cầu bồi thường hơn 20 triệu USD. Các biên tập viên đã phải in một văn bản xin lỗi và đính chính lại hoàn toàn những điều đã viết về Dion trong số tiếp theo, đồng thời ủng hộ cho Hiệp hội Ung thư Hoa Kì để thể hiện sự tôn trọng với Dion và chồng cô. Một năm sau, sau khi trải qua những biện pháp hỗ trợ sinh sản, cô sinh con trai, René-Charles Dion Angélil, vào ngày 25 tháng 1 năm 2001 tại Florida. Sau sự kiện ngày 11 tháng 9, Dion quay trở lại với âm nhạc, mở đầu bằng màn biểu diễn (được phát sóng trên truyền hình) với bài hát “God Bless America” trong buổi hoà nhạc từ thiện America: A Tribute for Heroes. Chuck Taylor của Billboard đã viết: “buổi trình diễn… gợi nhắc lại tất cả những gì giúp cô ấy trở thành một trong những giọng ca xuất sắc nhất của thời đại này: khả năng truyền cảm tuyệt vời có thể lay động cả tâm hồn. Xúc động, ý nghĩa và đầy uyển chuyển, đó chính là những cảm nhận bằng âm nhạc được chia sẻ với tất cả chúng ta, những người hãy còn đang tìm cách đối diện”. Cô cũng định biểu diễn lại ca khúc này trong các hoạt động lễ hội trước giải đấu Super Bowl XXXVII tại San Diego.

Trong tháng 12, Dion xuất bản cuốn tự truyện My Story, My Dream, kể lại câu chuyện cuộc đời cô đi từ nghèo khổ ngày trước đến danh vọng và sự giàu có ngày nay.

A New Day Has Come, một album có nhan đề giàu ý nghĩa, phát hành vào tháng 3 năm 2002, kết thúc ba năm tạm lui khỏi ngành công nghiệp âm nhạc của Dion. Album này thể hiện một nét cá tính chín chắn, nhiều trải nghiệm hơn của cô với những ca khúc như "A New Day Has Come", "I'm Alive", và "Goodbye's (The Saddest Word)", một sự thay đổi xuất phát từ những cảm nhận mới nảy sinh về trách nhiệm của người làm mẹ, bởi, theo cô, “làm mẹ khiến bạn thực sự trưởng thành”. Cô khẳng định: “ A New Day Has Come, đối với tôi, với Rene, chính là đứa bé. Tất cả mọi điều đều hướng đến bé con… “A New Day Has Come” đã diễn tả rất rõ tâm trạng tôi ngay lúc này. Bài hát đó đại diện cho toàn bộ album.” A New Day Has Come đứng đầu ngay trong những ngày đầu ra mắt tại hơn 17 quốc gia, trong đó có Vương quốc AnhCanada. Tại Hoa Kì, album giành vị trí thứ nhất trên Billboard 200 với doanh thu tuần đầu tiên chạm mốc 527 000 bản, trở thành album đầu tiên của Dion đứng nhất ngay khi vừa được phát hành. Sau đó, A New Day Has Come được chứng nhận ba lần bạch kim tại Hoa Kì và sáu lần bạch kim tại Canada.

Trong khi rất thành công về mặt thương mại, album này lại bị giới chuyên môn nhận xét là “dễ bị lãng quên” và lời bài hát “không có sức sống”. Cả Rob Sheffield của tạp chí Rolling Stone, và Ken Tucker của Entertainment Weekly đều cho rằng âm nhạc của cô không có thêm bước tiến đáng kể nào sau thời gian tạm nghỉ và liệt các nhạc phẩm của cô vào hạng nhàm chán và tầm thường. Sal Cinquemani của tạp chí Slant gọi album này là “một bộ sưu tập dài hơi gồm những bản nhạc pop ủy mị, sướt mướt”. Đĩa đơn đầu tiên trích từ album, “A New Day Has Come” đạt thứ hạng cao nhất tại vị trí số 22 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 và chỉ được phát sóng trên radio. Tuy nhiên tại bảng xếp hạng Hot Adult Contemporary Tracks (các ca khúc dòng adult contemporary nổi bật), bài hát này đứng nhất liên tục trong 21 tuần, phá kỉ lục giữ vựng vị trí quán quân lâu nhất (những ca khúc giữ kỉ lực trước đó là “]]You'll Be in My Heart]]” của Phil Collins và “Because You Loved Me” của chính Dion, đều trải qua 19 tuần liên tiếp). Trong năm 2002, cô tham gia nhiều buổi trình diễn ca nhạc từ thiện và chương trình nổi tiếng của VH1 Divas Live (buổi hòa nhạc gây quỹ Cứu trợ Âm nhạc (Save The Music Foundation) của VH1) cùng với Cher, Anastacia, Dixie Chicks, Mary J. Blige, Whitney Houston, Cyndi Lauper, ShakiraStevie Nicks.

Lấy cảm hứng từ chính những trải nghiệm của bản thân, Dion cho ra mắt One Heart (2003), một album thể hiện sự trân trọng đối với cuộc sống của cô. Album gồm phần lớn các ca khúc dance – một sự chuyển hướng khỏi phong cách nhạc melodramatic ballads thường thấy ở cô – và nhận được rất nhiều ý kiến đánh giá khác nhau. Mặc dù One Heart có được thành công thương mại tương đối, album này phải đối mặt với những lời phê bình trái chiều, với những từ ngữ như “dễ đoán trước” và “xoàng xĩnh” ngay cả trong những bài đánh giá đã chiếu cố hết mức. Bản cover “I Drove All Night” (bản hit gốc của Cyndi Lauper năm 1968) được phát hành để khởi động chiến dịch quảng bá mới với Chrysler, là một ca khúc kết hợp cả dance-poprock and roll. Chiến dịch diễn ra, nhưng vấp phải nhiều dị nghị và phê phán, trong đó có người cho rằng Dion chỉ đang cố để làm vừa lòng các nhà tài trợ. Tuy nhiên, một số người khác như Bonita Stewart, giám đốc bộ phận Truyền thông Maketting của Chrysler, phát biểu rằng “Chrysler đã bị lay chuyển bởi cô ấy vượt qua cả những ranh giới về dân tộc”. Stewart cũng nói thêm: “Cô ấy đã đem đến sự tinh tế, nét lãng mạn và đam mê đến cho nhãn hiệu của chúng tôi.”

Sau One Heart, Dion phát hành album phòng thu tiếng Anh tiếp theo, Miracle (2004). Miracle là một dự án đa phương tiện được Dion và nhiếp ảnh gia Anne Geddes ấp ủ từ trước, với đề tài chủ đạo về những đứa trẻ và bổn phận làm mẹ. Album bao gồm nhiều bài hát ru, các ca khúc khác đều nói về tình mẫu tử, hai ca khúc được biết đến nhiều nhất là hai bản cover của "What a Wonderful World" (Louis Armstrong) và "Beautiful Boy"(John Lennon). Các đánh giá về Miracle cũng khá đa dạng. Stephen Thomas Erlewine của Allmusic.com cho điểm 3 trên 5 sao, nhận xét rằng: “Điều tệ nhất mà bạn có thể nói về album này là không có bất ngờ nào ở đây cả, nhưng những người nghe album này không cần đến những bất ngờ đó; điều họ muốn là sự thoải mái, dù là đến từ những ca từ thanh nhã hay những bức ảnh nghệ thuật của các bé sơ sinh. Miracle đã mang lại cả hai điều đó, khiến album này trở nên thật gần gũi và xúc động với những thính giả của Dion, nhất là những bà mẹ đang mang thai hay vừa chào đón đứa con của mình.” Chuck Taylor của tạp chí Billboard nói rằng đĩa đơn “Beautiful Boy” là “một viên ngọc quý không ngờ tới” và gọi Dion là “người nghệ sĩ tài năng phi thường và bất hủ”; Chuck Arnold của tạp chí People thì lại cho rằng album này quá mức ủy mị, trong khi đó Nancy Miller của Entertainment Weekly phát biểu “Toàn bộ màn diễn đất-mẹ chỉ là chủ nghĩa cơ hội, quay trở lại”. Miracle đứng thứ 4 trên Billboard 200 trong lần đầu ra mắt và thứ 1 tại Canada, sau đó được chứng nhận bạch kim bởi RIAA (Hiệp hội Ngành Công nghiệp Thu âm Hoa Kì).

Album tiếng Pháp 1 fille & 4 types (1 girl & 4 guys) được tung ra trong tháng 10 năm 2003, khác xa với hai nhạc phẩm trước đó của cô, thể hiện rằng Dion đang cố gắng tách mình ra khỏi hình ảnh “diva”. Cô mời Jean-Jacques Goldman, Gildas Arzel, Eric Benzi, và Jacques Veneruso cùng hợp tác, những người đã từng giúp đỡ cô hoàn thành hai album tiếng Pháp rất thành công trước đó, S'il suffisait d'aimerD'eux. Được coi là “abum của niềm vui” bởi chính Dion, bìa của album là hình ảnh nữ ca sĩ trong phong thái giản dị mà ung dung, khắc hẳn với những tư thế chụp hình được chỉnh sửa cẩn thận bởi nhiếp ảnh gia trong những album cũ. Album này thu được thành công thương mại rộng khắp ở Pháp, Canada và Bỉ, đứng đầu trên các bảng xếp hạng. Tại Pháp, album giành quán quân ngay trong tuần đầu ra mắt và được chứng nhận hai lần bạch kim sau khi tiêu thụ được hơn 700,000 ấn bản. Nhà phê bình Stephen Thomas Erlewine của Allmusic.com đã viết: giọng hát của cô “ đã trở lại thời kì hoàng kim” và cô “đang dần trở về với căn bản nhạc pop và biểu diễn ở một trình độ mà chúng ta đã không được nghe trong suốt một thời gian dài.”

Mặc dù các album đều có doanh thu đáng nể, chúng vẫn không thể bằng được những album trước kia của cô cả về thành công thương mại và sự đón nhận của thính giả. Những album như The Collector's Series, Volume One (2000), và One Heart (2003) đã không được giới phê bình đánh giá cao. Các ca khúc được phát sóng truyền thanh ít hơn do radio đã không còn chào đón những ca sĩ ballad như Dion, Houston hay Carey như xưa, thay vào đó tập trung vào các ca khúc up-tempo (tiết tấu nhanh) và urban/hiphop. Tuy nhiên, đến năm 2004, doanh số album của Dion đã tăng lên thành hơn 175 triệu bản trên toàn thế giới và cô được trao tặng giải thưởng Chopard Diamond trong Giải thưởng Âm nhạc Thế giới cho những thành tựu của mình. Theo website chính thức của Giải thưởng Âm nhạc Thế giới, đây là một giải thưởng hiếm có, ”không được trao tặng hàng năm” và chỉ dành cho những nghệ sĩ đã bán được “hơn 100 triệu albums trong sự nghiệp của mình.” ▲

2003–2007: A New Day...[sửa | sửa mã nguồn]

Dion biểu diễn tại Las Vegas Đầu năm 2000, Dion thông báo về hợp đồng kéo dài ba năm với 600 show, biểu diễn năm ngày mỗi tuần trong chương trình nghệ thuật hoành tráng được tổ chức tại đại khán phòng của Lâu đài Ceasars thuộc Las Vegas. Hành động này được coi là “một trong những quyết định lựa chọn công việc khôn ngoan nhất của các nghệ sĩ trong nhiều năm qua”. Cô nung nấu ý tưởng cho chương trình này sau khi chứng kiến O (chương trình biểu diễn nghệ thuật xiếc đương đại với chủ đề Nước) tổ chức dàn dựng bởi Franco Dragone trong khoảng thời gian tạm nghỉ các hoạt động âm nhạc, và bắt tay thực hiện vào ngày 25 tháng 3 năm 2003, trình diễn trong một vũ đài rộng lớn với hơn 4000 chỗ ngồi được thiết kế riêng biệt cho cô. Nhiều ngôi sao đã tới tham dự đêm diễn đầu tiên, trong đó có Dick Clark, Alan Thicke, Kathy Griffin, và Justin Timberlake. Buổi biểu diễn, xây dựng và chỉ đạo bởi Dragone, là sự kết hợp của âm nhạc, các vũ điệu và hiệu ứng hình ành, ở đó Dion trình bày những ca khúc nổi tiếng nhất của mình, tương phản với một đoàn các vũ công nhảy múa trên nền những hiệu ứng đặc biệt. Nhà phê bình Mike Weatherford nhận thấy rằng, ban đầu, Dion không thoải mái lắm khi diễn và có nhiều lúc khó có thể nhìn thấy nữ ca sĩ giữa một sân khấu được trang trí kĩ lưỡng với rất nhiều vũ công đang biểu diễn. Tuy nhiên, ông cũng nhận xét rằng về sau chương trình đã được cải thiện đáng kể nhờ có sự xuất hiện tự tin hơn của Dion trên sân khấu và đơn giản hóa các trang phục biểu diễn.

Chương trình này cũng nhận được sự đón nhận hào hứng từ phía các thính giả mặc dù giá vé khá cao (trung bình $135.33); cho đến những show cuối cùng năm 2007 vé vào cửa vẫn thường xuyên được bán hết trước khi bắt đầu công diễn. Chương trình được biên đạo bởi Mia Micheals, một biên đạo múa nổi tiếng thế giới. Theo Pollstar, Dion đã bán được 322 000 vé và thu về 43.9 triệu USD trong 6 tháng đầu năm 2005, và đến tháng 7 năm 2005, cô đã bán hết toàn bộ vé trong 315 trên tổng số 384 buổi biểu diễn. Tính đến cuối năm 2005, doanh thu của cô đạt hơn 76 triệu USD, đứng thứ 6 trong Danh sách những nghệ sĩ kiếm tiền giỏi nhất năm 2005 của Billboard. A New Day… trở thành tour diễn lớn thứ 6 tại Mĩ trong năm 2006. Từ thành công này, hợp đồng của cô được kéo dài đến năm 2007 bởi tổng thu không được tiết lộ. Vào ngày 5 tháng 1 năm 2007, thông báo kết thúc chương trình ngày 15 tháng 10 năm 2007 được công bố, và vé cho giai đoạn từ tháng 10 cho đến ngày cuối cùng bắt đầu được bán ra từ ngày 1 tháng 3. Trong suốt thời gian hoạt động, chuwong trình này đã thu về tổng cộng 400 triệu USD với hơn 3 triệu người hâm mộ đến xem. DVD Live in Las Vegas - A New Day... được phát hành vào ngày 10 tháng 12 năm 2007 tại châu Âu và một ngày sau đó tại Bắc Mĩ. ▲

2007–2010: D'elles, Taking Chances và Taking Chances Tour[sửa | sửa mã nguồn]

Album tiếng Pháp mới nhất của Dion D'elles (Về họ), ra mắt ngày 21 tháng 5 năm 2007, đứng đầu các bảng xếp hạng của Canada ngay trong ngày đầu phát hành và bán được 72 200 bản trong tuần đầu tiên. Đây là album thứ 10 của cô đứng thứ nhất trong thời kì SoundScan, cũng là album thứ 8 đứng thứ nhất ngay trong những ngày đầu được tung ra. Tại Canada D'elles được chứng nhận hai lần bạch kim,và trong vòng một tháng kể từ ngày phát hành đã có nửa triệu bản được tiêu thụ trên toàn thế giới. Album cũng đứng đầu tại Pháp và Bỉ. Đĩa đơn thứ nhất "Et s'il n'en restait qu'une (je serais celle-là)" (“Nếu như trên đời này chỉ còn duy nhất một người phụ nữ (Em sẽ chính là người phụ nữ ấy)”) giành quán quân tại bảng xếp hạng Đĩa đơn của Pháp ngay khi vừa phát hành tháng trước đó. Dion tung ra album tiếng Anh mới nhất, Taking Chances, vào ngày 12 tháng 11 tại châu Âu và ngày 13 tháng 11 tại Bắc Mĩ. Đây là album tiếng Anh đầu tiên của cô kể từ One Heart năm 2003, bao gồm các ca khúc thuộc thể loại pop, R&Brock. Cô đã hợp tác với John Shanks và cựu thành viên Evanescence – tay guitar Ben Moody, cũng như Kristian Lundin, Peer Astrom, Linda Perry, ca sĩ người Nhật Yuna Ito, and và ca sĩ - nhạc sĩ R&B Ne-Yo.Dion phát biểu rằng: “Tôi nghĩ album này thể hiện sự tiến triển tích cực trong sự nghiệp của tôi… Tôi cảm thấy bản thân mạnh mẽ, có cả một chút dũng cảm hơn so với tôi của quá khứ, và vẫn luôn tràn đầy đam mê với âm nhạc và cuộc sống như xưa…”. Cô khởi động chuyến lưu diễn kéo dài nhiều năm, Taking Chances Tour, từ ngày 14 tháng 2 năm 2008 tại Nam Phi, biểu diễn trong 132 ngày tại các sân vận độngkhán phòng lớn khắp năm châu.

Taking Chances Tour đạt được thành công vang dội tại Hoa Kì, giành vị trí quán quân tại Billboard Boxscore và tất cả các buổi diễn tạ CanadaHoa Kì đều cháy vé. Thêm vào đó, cô xuất hiện trong chiến dịch Idol Gives Back (thuộc series American Idol) hai năm liên tiếp. Dion được đề cử cho tám hạng mục của Giải thưởng Juno năm 2008, đứng đầu trong số các nghệ sĩ Canada khi nhận được vinh dự này và bổ sung thêm vào danh sách đề cử của cô vốn đã gồm 53 đề cử. Cô được đề cử cho Nghệ sĩ của năm, Album nhạc pop của năm (cho Taking Chances), Album tiếng Pháp của năm (cho D’elles) và Album của năm (cả Taking ChancesD’elles). Năm tiếp theo, Dion được đề cử cho ba hạng mục của Giải thưởng Juno gồm có Lựa chọn từ người hâm mộ, Ca khúc của năm (cho Taking Chances) và DVD âm nhạc của năm (cho Live in Las Vegas - A New Day...)

Vào ngày 22 tháng 8, Celine Dion biểu diễn trong một chương trình hoàn toàn bằng tiếng Pháp và miễn phí ở khu vực bên ngoài bình nguyên Abraham tại thành phố Quebec, Canada nhân kỉ niệm 400 năm thành phố Quebec. Buổi lễ này thu hút khoảng 490,000 người xem (kể cả qua truyền hình). Buổi trình diễn có tên Céline sur les Plaines, được phát hành dưới dạng DVD ngày 11 tháng 11 năm 2008 tại Quebec và ngày 20 tháng 5 năm 2009 tại Canada. Vào cuối tháng 10, album tổng hợp các ca khúc tiếng Anh nổi bật nhất đầu tiên của cô, My Love: Essential Collection, ra mắt trên phạm vi toàn cầu với hai định dạng album khác nhau.

Trong tháng 5 năm 2009, Celine được vinh danh ở thứ hạng 20 trong số những nghệ sĩ có doanh thu cao nhất trong thập kỉ qua tại Hoa Kì (là nghệ sĩ nữ đứng thứ 2 trong danh sách) với khoảng 17.57 triệu album được bán ra. Trong tháng 6, tạp chí Forbes đưa tin thu nhập trong năm 2008 của cô là 100 triệu USD. Trong tháng 12, Pollstar đưa tin cô là nghệ sĩ lưu diễn solo có doanh thu cao nhất của thập kỉ (là nghệ sĩ lưu diễn đứng thứ 2 trong danh sách chỉ sau ban nhạc Dave Matthews), Dion đã thu về tổng cộng 522.2 triệu USD trong thập niên này, trong đó một phần đáng kể có được từ năm năm biểu diễn tại lâu đài Ceasars.

Ngày 17 tháng 2 năm 2010, Dion ra mắt bộ phim tài liệu về chuyến lưu diễn Taking Chances Tour dưới nhan đề Celine: Through the Eyes of the World. Bô phim đã chiếu nhiều cảnh hậu trường của Dion cả trên sân khấu và ngoài đời cùng với các đoạn về cô và gia đình của mình (gia đình đi cùng với cô trong tour diễn này). Hot Ticket, công ty con của Sony Pictures, chịu trách nhiệm giới thiệu và quảng bá truyền hình Bộ phim được phát hành dưới các định dạng Blu-rayDVD cùng với CD/DVD Taking Chances World Tour: The Concert về chuyến lưu diễn cùng tên vào ngày 4 tháng 5 năm 2010. Trong giải Grammy lần thứ 52 tổ chức vào tháng 2 năm 2010, Dion cùng với Carrie Underwood, Usher, Jennifer HudsonSmokey Robinson đã cùng biểu diễn ca khúc “Earth Song” để tưởng nhớ về ông hoàng nhạc Pop Micheal Jackson.

Trong tháng 1 năm 2010, The Los Angeles Times tổng kết danh sách hàng năm về 10 người có thu nhập cao nhất, tiết lộ rằng Dion giành vị trí số 1 cho toàn thập niên vừa qua với tổng cộng 747.9 triệu USD từ năm 2000 đến năm 2009. Nguồn thu lớn nhất đến từ tiền vé ca nhạc (522.2 triệu USD). Hơn nữa, Dion được vinh danh là “Nghệ sĩ của Thập kỉ” tại quê nhà Quebec, Canada theo tin tức đăng trên báo Le Journal de Quebec (trụ sở tại Montreal) trong số tháng 12 năm 2009. Một cuộc khảo sát trực tuyến trên mạng Internet đã được tiến hành để lấy ý kiến những người tham gia về nghệ sĩ nào xứng đáng với danh hiệu nêu trên.

Thêm vào đó, trong cuộc bình chọn của Harris vào tháng 5 năm 2010, Dion là nghệ sĩ được yêu mến nhất tại Hoa Kì, vượt qua cả U2, Elvis PresleyThe Beatles chiếu theo giới tính, quan điểm chính trị, khu vực sinh sống theo vị trí địa lí và thu nhập. Cụ thể, Dion là được yêu thích nhất theo bầu chọn của nữ giới, của những người ủng hộ Đảng Dân chủ, của những người sống ở Đông và Nam Hoa Kì và của những người có thu nhập hàng năm khoảng 35 nghìn đến 74.9 nghìn USD.

Trong tháng 9 năm 2010, cô ra mắt đĩa đơn “Volder”, song ca cùng ca sĩ người Pháp Michel Sardou. Ca khúc này sau đó được đưa vào album của Sardou. Trong tháng 10 cùng năm, cô viết lời và soạn nhạc cho ca khúc mới của Marc Dupré, ca sĩ người Canada, với nhan đề "Entre deux mondes". ▲

2011 – nay: Celine, Sans attendre và Water and a Flame[sửa | sửa mã nguồn]

Trong bài phỏng vấn với tạp chí People đăng trên số tháng 2 năm 2010, Dion thông báo cô sẽ quay trở lại biểu diễn tại lâu đài Ceasars (Las Vegas) với Celine, tour diễn kéo dài 3 năm gồm 70 đêm diễn một năm bắt đầu từ ngày 15 tháng 3 năm 2011. Cô nói rằng chương trình này sẽ có “tất cả những bài hát trong sự nghiệp của cô mà mọi người muốn được nghe” và bao gồm một loạt các ca khúc được lựa chọn từ những bộ phim kinh điển của Hollywood. Để chuẩn bị cho sự trở lại của mình tại Las Vegas, cô đã xuất hiện trong The Oprah Winfrey Show trong mùa cuối cùng của chương trình này vào ngày 21 tháng 2 (lần xuất hiện thứ 27), nói về tour diễn sắp tới tại lâu đài Ceasars cũng như chuyện gia đình mình. Thêm vào đó, cô biểu diễn tại Lễ trao giải Oscars lần thứ 83 (lần xuất hiện thứ 6) với ca khúc “Smile” trong phần “In Memoriam” của buổi lễ. Ngày 4 tháng 9, Dion có mặt tại sự kiện 2011 MDA Labor Telethon và công chiếu đoạn phim quay lại phần trình diễn ca khúc “Open Arms” của cô trong chương trình ở Las Vegas. Ngày 1 tháng 10 năm 2011, OWN Network đưa bộ phim tài liệu về Dion, "Celine: 3 Boys and a New Show", lên sóng lần đầu. Bộ phim nói về những năm tháng trước khi cô mang thai sinh đôi cho đến quá trình thực hiện show diễn mới tại Las Vegas; được đông đảo công chúng đón nhận và nhanh chóng giành được vị trí thứ hai trong số những chương trình ăn khách nhất của TV OWN Canada. Cũng trong tháng 10, FlightNetwork.com mở một cuộc bầu chọn, hỏi 780 người tham gia “nghệ sĩ nào mà anh/chị muốn ngồi cạnh nhất trên chuyến bay ?”. Dion là người được yêu mến nhất với 23.7% số phiếu.

Trong tháng 9, nhãn hiệu nước hoa thứ 14 từ Bộ sưu tập Celine Dion Parfums, “Signature”, được tung ra trên thị trường. Vào ngày 15 cùng tháng, cô tham gia một buổi hòa nhạc miễn phí của giọng nam cao nổi tiếng thế giới Andrea Bocelli, tại Công viên Trung tâm, New York. Trong năm 2012 cô biểu diễn tại Lễ hội nhạc JazzBlues lần thứ 16 (tổ chức ở Jamaica).

Tháng 6 năm 2012, Dion phỏng vấn cùng Today Show (Hoa Kì), trong chương trình có chiếu đặc biệt đoạn phim quay cảnh cô thu âm ca khúc “Didn’t Know Love” trong phòng thu. Một bài báo trên Le journal Montréal thông báo rằng album tiếng Anh sắp tới sẽ ra mắt vào năm 2013 với tựa đề Water and a Flame. Dion phát biểu trên bài báo rằng album này sẽ bao gồm các bản cover được trình diễn tại show diễn ở Las Vegas cùng với một số ca khúc mới. Những nhà sản xuất nổi danh phụ trách album này có thể kể đến Babyface, Ne-YoEg White. Bài viết cũng xác nhận rằng album này gồm một bản song ca với Stevie Wonder trình bày lại ca khúc nổi tiếng một thời của ông, “Overjoyed”. Album tiếng Pháp mới nhất của Dion trong vòng năm năm, Sans attendre, được phát hành ngày 2 tháng 11 năm 2012. Với album Sans attendre, Dion chính thức bán được 250 triệu đĩa trên toàn thế giới, củng cố danh hiệu Best Selling Female Artist Of All Times

Phong cách nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Dion lớn lên cùng với âm nhạc của Aretha Franklin, Charles Aznavour, Michael Jackson, Carole King, Anne Murray, Barbra Streisand và nhóm Bee Gees, những nghệ sĩ mà sau này cô đều từng cùng hợp tác. Dion cũng tuyên bố cô cũng nghe nhạc của những nghệ sĩ như Janis Joplin, nhóm Doobie BrothersCreedence Clearwater Revival, nhưng chưa bao giờ có cơ hội hát dòng nhạc của họ. Whitney Houston, đồng nghiệp của cô, một ca sĩ huyền thoại và cũng là người thường bị đem ra so sánh với Dion, cũng truyền cảm hứng âm nhạc cho cô. Âm nhạc của cô chịu ảnh hưởng của nhiều thể loại khác nhau, gồm pop, rock, gospel, R&Bsoul; lời bài hát thường hướng đến những chủ đề về sự nghèo khổ, nạn đói trên thế giới, và đời sống tinh thần của con người, đặc biệt nhấn mạnh đến tình yêu và những mối tình lãng mạn. Sau khi sinh con, các nhạc phẩm của cô bắt đầu tập trung hơn vào tình mẫu tử và tình cảm anh em ruột thịt.

Phong cách âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Dion chịu khá nhiều chỉ trích từ các nhà phê bình rằng âm nhạc của cô thường rời xa khỏi quy phạm của popsoul, đồng thời đặc trưng bởi sự biểu lộ cảm xúc một cách quá ủy mị. Theo Keith Harris của tạp chí Rolling Stone, “sự đa cảm [của Dion] khoa trương và cố chấp hơn là ý tứ và lặng lẽ…[cô ấy] đứng cuối cùng trong một chuỗi những chuyển giao mạnh mẽ theo chiều Aretha-Whitney-Mariah. Thay vì trở nên khác thường, thực sự Dion là biểu tượng của một kiểu cảm nhận pop - càng lớn càng tốt, quá nhiều là không bao giờ đủ, và cảm xúc càng chín đượm càng thực hơn”. Các nhạc phẩm tiếng Pháp của cô, trái lại, dường như có chiều sâu hơn và đa dạng hơn so với các ca khúc tiếng Anh, chính vì vậy mà nhận được sự tin tưởng và yêu mến nhiều hơn.

Các nhà phê bình cũng đánh giá rằng do Dion căn bản không tham gia nhiều vào quá trình sản xuất âm nhạc nên các ca khúc của cô có phần thừa thãi và quá khách quan, không mang cá tính riêng, Tuy nhiên, với xuất thân từ một gia đình mà tất cả anh chị em đều hoạt động nghệ thuật, cô học chơi thành thạo một số nhạc cụ như pianoguitar và đã luyện tập với một cây guitar điện trong quá trình thu âm album Falling into You. Đồng thời, cô cũng đóng góp ý kiến khi soạn một số ca khúc tiếng Pháp trong thời kì đầu sự nghiệp và luôn cố gắng tham gia vào quá trình sản xuất và thu âm các album. Trong album tiếng Anh đầu tiên cô thu âm (trước khi có yêu cầu chắc chắn về năng lực tiếng Anh), cô cảm thấy không hài lòng; điều này đã có thể tránh được nếu cô chú ý bổ sung thêm những ý tưởng sáng tạo. Trong album tiếng Anh thứ hai Celine Dion, cô đã quan tâm cẩn thận hơn đến các khâu sản xuất và thu âm để không lặp lại sai lầm và bác bỏ những lời phê bình trước đó. Cô phát biểu: “Trong album thứ hai tôi nói: ‘Chà, tôi có thể chọn e ngại thêm một lần nữa và không thể vui mừng 100%, hoặc không sợ hãi và trở thành một phần của album.’ Đây là album của tôi.” Cô cũng tiếp tục đóng góp vào quá trình sản xuất các nhạc phẩm tiếp theo, tham gia viết lời một số bài hát trong Let's Talk About Love (1997) and These Are Special Times (1998).

Dion thường là đối tượng cho parody (nhại lại) và các trò bông đùa của giới truyền thông; ngữ âm Anh-Pháp nặng và các cử chỉ hành động trên sân khấu của cô rất hay bị bắt chước lại trong các chương trình giải trí như MADtv, Saturday Night Live, South Park, Royal Canadian Air FarceThis Hour Has 22 Minutes. Tuy nhiên Dion nói rằng cô không bị ảnh hưởng bởi những bình luận như vậy về mình, và thấy hân hạnh khi mọi người bỏ thời gian “đóng vai” cô trước ống kính camera. Cô còn mời Ana Gasteyer, người đã nhại hình ảnh cô trong chương trình SNL, xuất hiện trên sân khấu trong một buổi biểu diễn. Dion thường không hay đề cập đến các vấn đề chính trị, nhưng trong năm 2005 sau thảm họa cơn bão Katrina, cô xuất hiện trên Larry King Live, đau buồn khóc và phê phán Chính phủ đã phản ứng quá chậm chạp khi hỗ trợ các nạn nhân của bão: “Còn rất nhiều người đang trông chờ sự cứu trợ. Đối với tôi điều đó không thể chấp nhận được… Vậy mà [chính phủ] lại có thể thật dễ dàng điều động máy bay đến các quốc gia khác và sát hại bao nhiêu sinh mạng. Chúng ta cần phục vụ đất nước của chúng ta.” Sau cuộc phỏng vấn, cô nói: “Khi tôi trả lời phỏng vấn với Larry King hay các chương trình truyền hình lớn, họ đem tôi làm tâm điểm, và điều này rất khó khăn. Tôi có quan điểm riêng của mình, nhưng tôi là một ca sĩ. Tôi không phải là một chính khách.”

Giọng hát và âm sắc[sửa | sửa mã nguồn]

Dion được coi là một trong những giọng ca pop có sức ảnh hưởng mạnh mẽ nhất. Cô được gọi là “Nữ hoàng nhạc pop” tại vị cho những ảnh hưởng sâu sắc của mình đến nền công nghiệp thu âm trong những năm 90, cùng với một số nữ nghệ sĩ khác như Whitney HoustonMariah Carey. Trong bảng tổng sắp (được đếm ngược) “22 Giọng ca Vĩ đại nhất của nền âm nhạc” thực hiện bởi tạp chí BlenderMTV, cô đứng thứ 9 (thứ 6 nếu chỉ tính riêng ca sĩ nữ), và trong danh sách “100 Giọng ca Pop Xuất sắc nhất” của tạp chí Cove, cô đứng thứ 4. Dion thường bị so sánh với Mariah Carey về phong cách hát và với thần tượng của mình, Barbra Streisand, về chất giọng.

Theo nhiều nguồn thông tin, Dion sở hữu giới hạn thanh nhạc trải dài 5 quãng tám. Bản thân cô tự nhận định rằng mình là một người có phạm vi lên giọng nằm khoảng giữa giọng nữ trunggiọng nữ cao. Tuy nhiên, những cố gắng áp dụng các kiểu giọng hát cổ điển vào các thể loại âm nhạc khác vấp phải nhiều ý kiến trái chiều. Trước khi phân loại chính xác chất giọng của mình, khi cô diễn thử hai bản đơn ca của Carmen, cô đã hỏi người nghệ sĩ tài ba Kent Nagano liệu cô có thể hát opera và nhận được câu trả lời: “Tất cả những gì cô vừa hát đều là giọng nữ cao”. Âm sắc của Dion được miêu tả là “mỏng, hơi một chút âm mũi, hầu như không rung”, với âm “đục/khàn” khi xuống thấp và “các nốt cao như tiếng chuông thủy tinh”.

Dion thường được ngợi khen về kĩ thuật thanh nhạc xuất sắc. Stephen Holden của The New York Times viết: “Cô Dion, … một ca sĩ xuất sắc với một giọng nữ cao mỏng, hơi một chút âm mũi, hầu như không rung và được hỗ trợ tốt bởi kĩ thuật hát. Cô ấy có thể thực hiện những quãng ngân và luyến láy phức tạp, tạo ra những đoạn thanh đầy sức biểu cảm và duy trì các nốt dài mà không hề suy suyển âm điệu. Còn các bản song ca […] đã chứng minh, cô ấy là một giọng hát có khả năng hòa âm đáng tin cậy.” Trong bài phỏng vấn với Libération, Jean-Jacques Goldman nhận xét rằng cô “không gặp bất cứ vấn đề gì về độ chính xác hay nhịp điệu.” Theo Kent Nagano, nghệ sĩ thượng đẳng của Dàn nhạc giao hưởng München (Munich Symphony Orchestra), Dion là “một ca sĩ có đôi tai cảm thụ tốt, sự tinh tế và độ hoàn mỹ khiến người khác phải ghen tỵ.” Charles Alexander của TIME cũng đánh giá: “Giọng hát [của cô] vút lướt từ thì thầm sâu lắng đến những nốt rất cao chính xác mà không tốn một chút sức lực nào, một giọng ca quyến rũ đầy mê hoặc kết hợp bởi sức mạnh và sự thanh nhã.”

Trong các ca khúc tiếng Pháp, Dion tô điểm thêm cho giọng hát của mình với nhiều sắc thái, chuyển đổi tông giọng và cường độ cảm xúc “dịu dàng và thân mật hơn”. Thêm vào đó, Luc Plamondon, nhạc sĩ người Pháp từng sáng tác một vài ca khúc cho cô, khẳng định rằng có ba “con người” ca sĩ ta thấy ở Dion: người Québec, người Pháp và người .

Danh sách các nhạc phẩm đã phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Các bài chi tiết

Các album tiếng Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

+ 1981: La voix du bon Dieu
+ 1982: Tellement j'ai d'amour...
+ 1983: Les chemins de ma maison
+ 1984: Mélanie
+ 1985: C'est pour toi
+ 1987: Incognito
+ 1991: Dion chante Plamondon
+ 1995: D'eux (Phát hành tại Mĩ: The French Album)
+ 1998: S'il suffisait d'aimer
+ 2003: 1 fille & 4 types
+ 2007: D'elles
+ 2012: Sans attendre

Các album tiếng Anh[sửa | sửa mã nguồn]

+ 1990: Unison
+ 1992: Celine Dion
+ 1993: The Colour of My Love
+ 1996: Falling into You
+ 1997: Let's Talk About Love
+ 2002: A New Day Has Come
+ 2003: One Heart
+ 2004: Miracle
+ 2007: Taking Chances
+ 2013: Loved Me Back To Life

Các album cho dịp nghỉ lễ[sửa | sửa mã nguồn]

+ 1981: Céline Dion chante Noël
+ 1983: Chants et contes de Noël
+ 1998: These Are Special Times

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Britannica.com. Céline Dion. Truy cập 13 tháng 9, 2009.
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên evous.fr
  3. ^ René Angélil: the making of Céline Dion : the unauthorized biography. Google Books. Truy cập 20 tháng 12, 2010
  4. ^ Glatzer, Jenna (2005). Celine Dion: For Keeps. Andrews McMeel Pub. tr. 13. ISBN 0-7407-5559-5. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2011. 
  5. ^ a ă â b c Tóm tắt về Céline Dion. "Canoe Jam!". Truy cập 13 tháng 9, 2007.
  6. ^ a ă â “Bách khoa toàn thư Canada”. Sự nghiệp Céline Dion. Truy cập 14 tháng 7, 2006. 
  7. ^ Bliss, Karen. "25 Years of Canadian Artists." Canadian Musician. March 1, 2004, p. 34. ISSN: 07089635
  8. ^ “Eurovision Winners”. Baltics Worldwide. 2007. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2010.  [liên kết hỏng]
  9. ^ Taylor, Chuck. "Epic/550's Dion offers Hits." Billboard. 6 tháng 9, 1999, p. 1.
  10. ^ a ă â "The Ultimate Diva". CNN. 22 tháng 10, 2002. Truy cập 13 tháng 9, 2007.
  11. ^ Celine Dion. "Phỏng vấn với Celine Dion." Peter Nansbridge. The National. Cùng Alison Smith. CBC-TV. 28 tháng 3, 2002. Được dịch lại từ tiếng Pháp (bằng tiếng Anh).
  12. ^ Helligar, Jeremy. "Céline Dion livin' la vida Vegas!". Us. 31 tháng 3, 2003, Trang 56.
  13. ^ "Celine Dion Releases 1st CD Since 1997". Digital Journal. 15 tháng 4, 2002. Truy cập 12 tháng 10, 2009
  14. ^ Hilburn, Robert (12 tháng 10 năm 2009). “Pop Albums; Ashanti Displaces Dion at Top”. Los Angeles Times. 
  15. ^ a ă â b Alexander, Charles P. The Power of Celine Dion". Time. 7 tháng 3, 1994
  16. ^ Gardner, Elysa. "Review: Falling Into You". Los Angeles Times Los Angeles, Calif. 16 tháng 11, 1997, tr. 68
  17. ^ “Cove Magazine”. The 100 Outstanding Pop Vocalists. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2006. 
  18. ^ "Dion Named All-time Best-selling Canadian Act". (2000-1-06). Allbusiness. Truy cập 12 tháng 10, 2009.
  19. ^ Learn, Josh. "High Fidelity: Top Selling Canadian Artists". The Brock Press. Truy cập 12 tháng 10, 2009.
  20. ^ Up for Discussion Jump to Forums. “The Emancipation of Mimi – Mariah Carey”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2010. 
  21. ^ "Featured Artists Celine Dion". The Official Charts Company. Truy cập 3 tháng 10, 2010.
  22. ^ "The real Céline: Céline Dion’s new French album shows her personal side". CBC. 29 tháng 5, 2007. Truy cập 12 tháng 10, 2009.
  23. ^ "Celine Dion honoured by World Music Awards". Canada.com. Truy cập 1 tháng 12, 2010
  24. ^ "World Music Awards to honor Celine Dion". CTV News. Truy cập 1 tháng 12, 2010
  25. ^ “Q&A: 27 years into her career, Dion preps for next tour”. Reuters. 9 tháng 2, 2008. Truy cập 18 tháng 6, 2011. 
  26. ^ a ă â b Paula Zahn, Charles Molineaux, Gail O'Neill. "Profiles of Celine Dion, Enrique Iglesias, Moby". People in the News. 18 tháng 5, 2002. Bản dịch lại.
  27. ^ Germain, Georges-Herbert (1998). Céline: The Authorized Biography. translated by David Homel and Fred Reed. Dundurn Press. tr. 16. ISBN 1-55002-318-7. 
  28. ^ "Portrait of a Star French Site, Céline Dion Biography, (Céline Dion, Du fil des aiguilles et du coton, a song by Christine Charbonneau)". Portrait Star. Truy cập 1 tháng 5 năm 2013
  29. ^ "Céline Dion. Ma vie, French Biography". Du fil des aiguilles et du coton, bởi Christine Charbonneau.
  30. ^ Alexander, Charles P. The Power of Celine Dion". Time. 7 tháng 3, 1994. Lưu trữ 7 tháng 4, 2008.
  31. ^ Sanz, Cynthia (13 tháng 6 năm 1994). “North Star”. People. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2012. 
  32. ^ "Celine Dion Biography." The Biography Channel. 13 tháng 9, 2007.
  33. ^ O'Connor, John Kennedy (2 tháng 4 năm 2007). The Eurovision Song Contest — The Official History. UK: Carlton Books. ISBN 978-1-84442-994-3. .
  34. ^ Alexander, Charles P. "The Arts & Media/Music: At Age Five She Belted Out French pop tunes standing atop tables." Time International. 28 tháng 2, 1994. tr. 44.
  35. ^ Céline Dion provided by VH1.com. Truy cập 16 tháng 8, 2005.
  36. ^ a ă Alexander, Charles P. The Power of Celine Dion". Time. 7 tháng 3, 1994.
  37. ^ “Review—Céline Dion Unison”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2012. 
  38. ^ “Allmusic”. Review—Céline Dion Unison. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2005. 
  39. ^ “On This Day”. celinedion.com. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2010. 
  40. ^ Lwin, Nanda (2003). Top Albums: The Essential Chart Guide. Music Data Research. ISBN 1-896594-14-X. 
  41. ^ a ă Bliss, Karen (1 tháng 3 năm 2004). “25 Years of Canadian Artists”. Canadian Musician. tr. 34. ISSN 0708-9635. 
  42. ^ "Celine Dion." Newsmakers 1995, Ấn hành thứ 4. Gale Research, 1995.
  43. ^ “Céline Dion”. Céline Dion Biography. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2006. 
  44. ^ "Celine Dion." Contemporary Musicians, Volume 25. Gale Group, 1999.
  45. ^ Celine Dion, The Colour of My Love. Plugged in. Truy cập 13 tháng 9, 2007.
  46. ^ “The Journey so Far”. Celinedion.com. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2005. 
  47. ^ Jerome, Jim. "The Dream That Drives Her. (Singer Celine Dion) (Interview)." Ladies Home Journal. 1 tháng 11, 1997. 146(4).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]