Bee Gees

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bee Gees
Vlcsnap-105468.png
Maurice Gibb, Robin Gibb, và Barry Gibb năm 1997
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quán Manchester, Anh
Brisbane, Úc
Thể loại Pop, Disco, Soft rock, Rock, R&B
Năm 1958–2003
Hãng đĩa Festival, Polydor, Atco, RSO, Warner Bros., Rhino
Website Official Bee Gees.com
Thành viên cũ
Barry Gibb
Maurice Gibb
Robin Gibb
Vince Melouney
Colin Petersen
Geoff Bridgeford
Alan Kendall
Dennis Bryon
Blue Weaver

Bee Gees là một ban nhạc nổi tiếng gồm ba anh em người Úc gốc Anh sinh tại đảo Man – Barry, RobinMaurice Gibb. Người ta thường cho rằng tên của ban nhạc bắt nguồn từ hai chữ "B.G.", viết tắt của Brothers Gibb (tiếng Anh của "Anh em nhà Gibb").

Ban nhạc này đoạt giải Grammy hơn một lần, họ thành công trong cả thời gian 40 năm thu nhạc, nhưng họ có hai giai đoạn thành công riêng – là ban nhạc "soft rock" hòa âm vào cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970. Họ là những ban nhạc hạng đầu trong giai đoạn nhạc disco vào cuối thập niên 1970.

Bee Gees đã bán được ước tính hơn 220 triệu album trên toàn thế giới[1] khiến họ trở thành một trong những ban nhạc bán chạy nhất mọi thời đại. Bee Gees được đưa vào Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll vào năm 1997. Viện bảo tàng Rock and Roll Hall of Fame tại Cleveland, Ohio có câu từ 1997 đề "Chỉ có Elvis Presley, The Beatles, Michael Jackson, Garth BrooksPaul McCartney bán được nhiều hơn Bee Gees"[2].

Sau cái chết của Maurice vào tháng một 2003, Barry và Robin tạm dừng ban nhạc sau 45 năm hoạt động. Đến năm 2009 Robin tuyên bố rằng ông và Barry sẽ lại cùng nhau tiếp tục biểu diễn.[3]

Robin mất vào tháng năm 2012 sau một thời gian dài chống chọi với bệnh ung thư.[4]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi đầu và thành công tại Úc[sửa | sửa mã nguồn]

Biển lưu niệm Bee Gees tại ngã tư Maitland Terrace/Strang Road ở Union Mills, đảo Man

Anh em nhà Gibb được sinh ra trên đảo Man. Barry Alan Crompton Gibb sinh ngày 1 tháng 9 năm 1946, và 2 anh em sinh đôi Robin Hugh Gibb and Maurice Ernest Gibb ra đời ngày 22 tháng 12 năm 1949.

Cả gia đình quay trở lại Chorlton-cum-Hardy, Manchester, Anh - nơi ông bố Hugh Gibb đã từng lớn lên vào đầu những năm 1950.[5] Ba chàng trai bắt đầu đi hát đồng ca lần đầu tiên tại một rạp chiếu bóng. Lúc đầu họ định hát nhép nhưng do Maurice đánh rơi mất đĩa hát trên đường đi, họ đã buộc phải tự hát và được người nghe hưởng ứng nồng nhiệt. Điều này đã cổ vũ ba anh em bắt đầu sự nghiệp ca hát của mình.[6]

Năm 1958, gia đình Gibb, di cư tới Redcliffe, Brisbane, Queensland, Úc. Ba anh em nhà Gibb, với tuổi đời vẫn còn rất trẻ, bắt đầu trình diễn để xin tiền xu từ khách qua đường. Họ đổi tên ban nhạc của mình từ Rattlesnakes sang Wee Johnny Hayes & the Bluecats. Được lái xe Bill Goode giới thiệu với DJ đài phát thanh Bill Gates (không được nhầm lẫn với người sáng lập Microsoft) sau khi biểu diễn tại Rạp xiếc Speedway Brisbane, DJ này đã đổi tên của ban nhạc theo các chữ cái đầu của mình và Goode thành The BG's, và cuối cùng thành Bee Gees.[7][8].

Vào năm 1960, Bee Gees bắt đầu được lên truyền hình, và trong vài năm sau đó ban nhạc bắt đầu trình diễn đều đặn tại các khu nghỉ mát dọc bờ biển Queensland. Ngôi sao Úc Col Joye đã chú ý tới Barry Gibb vì khả năng sáng tác, và Joye đã giúp họ có được hợp đồng thu âm với Leedon Records, một chi nhánh của Festival Records trong năm 1963 với cái tên "Bee Gees." Ban nhạc ra 2-3 đĩa đơn mỗi năm, bên cạnh đó Barry còn viết một số bản nhạc cho các ca sĩ khác.[9]

Năm 1965, với sự thành công của bài hát "Wine and Women," Bee Gees đã phát hành đĩa LP đầu tiên Barry Gibb and the Bee Gees Sing and Play 14 Barry Gibb Songs. Tuy vậy, đến năm 1966 Festival Records đã muốn kết thúc hợp đồng của Bee Gees với Leedon Records vì ban nhạc vẫn chưa có thành công nào đáng kể.

Thất vọng, cả gia đình nhà Gibb quyết định quay trở lại Anh vào cuối năm 1966. Ngay khi đang ở trên tàu biển tới Anh đầu năm 1967, họ được biết qua radio thông báo "Spicks and Specks", một bài hát họ thu âm năm 1966, đã giành được giải đĩa đơn hay nhất của năm tại Úc do tạp chí âm nhạc Go-Set bình chọn.

Thập niên 1960 tại Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Bee Gees năm 1967 (trái sang phải: Barry Gibb, Robin Gibb, Vince Melouney, Maurice Gibb, and Colin Petersen)

Tại thời điểm tới Anh năm 1967, Bee Gees không được công chúng chú ý tới. Tuy vậy họ cũng nhanh chóng ký được hợp đồng với Robert Stigwood, và bổ sung nhạc sĩ người Úc Vince Melouney (guitar) và Colin Petersen (trống) vào ban nhạc.

Đĩa đơn đầu tiên được thu âm tại Anh "New York Mining Disaster 1941" (1967), đã đứng trong Top 20 tại cả Anh và Mỹ. Robert Stigwood đã mạnh dạn tuyên bố "Bee Gees là tài năng âm nhạc nổi bật nhất trong năm 1967". Album của họ Bee Gees' 1st được công chúng đón nhận nhiệt tình, với sự pha trộn mới mẻ giữa rock và các ballad hợp xướng, điển hình là các bài "To Love Somebody" và "I Can't See Nobody."

Đĩa đơn thành công lớn tiếp theo "Massachusetts" đã đưa ban nhạc lên hàng ngôi sao. Tiếp theo đó là bài "Words". Trong năm 1968 Bee Gees ra hai album, "Horizontal" và "Idea." Album sau có hai bài đứng đầu bảng xếp hạng: "I've Gotta Get a Message to You" và "I Started a Joke."

Đầu thập niên 1970[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 1980 và 1990[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi tan rã[sửa | sửa mã nguồn]

Thành công về âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Các giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Các album[sửa | sửa mã nguồn]

Các đĩa đơn tại Anh[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Spicks and Specks" (1966) Did Not Chart
  • "New York Mining Disaster 1941" (1967) #12
  • "To Love Somebody" (1967) #41
  • "Massachusetts" (1967) #1
  • "World" (1967) #9
  • "Words" (1968) #8
  • "Jumbo" / "The Singer Sang His Song" (1968) #25
  • "I Started A Joke" (1968) Did Not Chart
  • "I Gotta Get A Message To You" (1968) #1
  • "First of May" (1969) #6
  • "Tomorrow, Tomorrow" (1969) #23
  • "Don't Forget To Remember" (1969) #2
  • "I.O.I.O" (1970) #49
  • "Lonely Days" (1970) #33
  • "How Can You Mend A Broken Heart?" (1971) Did Not Chart
  • "Don't Want To Live Inside Myself" (1971) Did Not Chart
  • "My World" (1972) #16
  • "Run To Me" (1972) #9
  • "Alive" (1972) Did Not Chart
  • "Saw A New Morning" (1973) Did Not Chart
  • "Wouldn't I Be Someone" (1973) Did Not Chart
  • "Mr. Natural" (1974) Did Not Chart
  • "Throw A Penny" (1974) Did Not Chart
  • "Charade" (1974) Did Not Chart
  • "Jive Talkin'" (1975) #5
  • "Nights on Broadway" (1975) Did Not Chart
  • "Fanny (Be Tender With My Love)" (1976) Did Not Chart
  • "You Should Be Dancing" (1976) #5
  • "Love So Right" (1976) #41
  • "Boogie Child" (1977) Did Not Chart
  • "How Deep Is Your Love?" (1977) #3
  • "Stayin' Alive" (1977) #4
  • "Night Fever" (1978) #1
  • "Too Much Heaven" (1978) #3
  • "Tragedy" (1979) #1
  • "Love You Inside Out" (1979) #13
  • "Spirits (Having Flown)" (1980) #16
  • "He's A Liar" (1981) Did Not Chart
  • "Living Eyes" (1981) Did Not Chart
  • "The Woman In You" (1982) Did Not Chart
  • "Someone Belonging To Someone" (1983) #49
  • "You Win Again" (1987) #1
  • "E.S.P." (1987) #51
  • "Ordinary Lives" (1988) #54
  • "One" (1989) #71
  • "Bodyguard" (1990) Did Not Chart
  • "Secret Love" (1991) #5
  • "The Only Love" (1991) Did Not Chart
  • "When He's Gone" (1992) Did Not Chart
  • "Paying The Price Of Love" (1993) #23
  • "For Whom The Bell Tolls" (1993) #4
  • "How To Fall In Love, Part 1" (1994) #30
  • "Kiss of Life" (1995) Did Not Chart
  • "Alone" (1997) #5
  • "I Could Not Love You More" (1997) #14
  • "Still Waters Run Deep" (1997) #18
  • "Immortality" (1998) #5
  • "This Is Where I Came In" (2001) #18

Các đĩa đơn tại Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

  • "New York Mining Disaster 1941" (1967) #14
  • "To Love Somebody" (1967) #17
  • "Holiday" (1967) #16
  • "Massachusetts" (1967) #11
  • "Words" (1968) #15
  • "Jumbo"/"The Singer Sang His Song" (1968) #57
  • "I Started A Joke" (1968) #6
  • "I've Gotta Get A Message To You" (1968) #8
  • "First of May" (1969) #37
  • "Tomorrow Tomorrow" (1969) #54
  • "Don't Forget To Remember" (1969) #73
  • "I.O.I.O" (1970) #94
  • "If I Only Had My Mind On Something Else" (1970) #91
  • "Lonely Days" (1970) #3
  • "How Can You Mend A Broken Heart?" (1971) #1' (4 tuần)
  • "Don't Want To Live Inside Myself" (1971) #53
  • "My World" (1972) #16
  • "Run To Me" (1972) #16
  • "Alive" (1972) #34
  • "Saw A New Morning" (1973) #94
  • "Wouldn't I Be Someone" (1973) Did Not Chart
  • "Mr. Natural" (1974) #93
  • "Throw A Penny" (1974) Did Not Chart
  • "Charade" (1974) Did Not Chart
  • "Jive Talkin'" (1975) #1 (2 tuần)
  • "Nights on Broadway" (1975) #7
  • "Fanny (Be Tender With My Love)" (1976) #12
  • "You Should Be Dancing" (1976) #1 (1 tuần)
  • "Love So Right" (1976) #3
  • "Boogie Child" (1977) #12
  • "Edge of the Universe (Live)" (1977) #26
  • "How Deep Is Your Love" (1977) #1 (3 tuần)
  • "Stayin' Alive" (1977) #1 (4 tuần)
  • "Night Fever" (1978) #1 (8 tuần)
  • "Too Much Heaven" (1978) #1 (2 tuần)
  • "Tragedy" (1979) #1 (2 tuần)
  • "Love You Inside Out" (1979) #1 (1 tuần)
  • "Rest Your Love On Me" (1979) #39 Country, flip side of "Too Much Heaven", only country hit for The Bee Gees.
  • "He's A Liar" (1981) #30
  • "Living Eyes" (1981) #45
  • "Paradise" (1981) Did Not Chart
  • "The Woman In You" (1983) #24
  • "Someone Belonging To Someone" (1983) #49
  • "You Win Again" (1987) #75
  • "E.S.P." (1987) Did Not Chart
  • "One" (1989) #7
  • "Bodyguard" (1989) #9 A/C
  • "Secret Love" (1991) Did Not Chart
  • "When He's Gone" (1991) Did Not Chart
  • "Happy Ever After" (1991) Did Not Chart
  • "Paying The Price Of Love" (1993) #74
  • "For Whom The Bell Tolls" (1993) #29 A/C
  • "Kiss of Life" (1994) Did Not Chart
  • "Alone" (1997) #28
  • "I Could Not Love You More" (1997) Did Not Chart
  • "Still Waters (Run Deep)" (1997) #57
  • "This Is Where I Came In" (2001) #23 A/C

Chú thích và tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Music Blog, The L.A. Times (20 tháng 5 năm 2012). “Robin Gibb dead: Bee Gees singer, 62, had battled cancer”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2013. 
  2. ^ Văn bản đầy đủ
  3. ^ Michaels, Sean (8 tháng 9 năm 2009). “Bee Gees to re-form for live comeback”. The Guardian (London). Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2009. 
  4. ^ “Robin Gibb, Bee Gees Co-Founder, Dead at 62”. 20 tháng 5 năm 2012. 
  5. ^ OMalley, Brendon (11 tháng 1 năm 2009). “Bee Gees real Brisbane music pioneers”. Courier Mail. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2011. 
  6. ^ Adriaensen, Marion. “The story about The Bee Gees/Part 2—1950–1960”. Brothers Gibb. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2011. 
  7. ^ Dolgins, Adam: Rock Names: From Abba to ZZ Top, 3rd ed., p.24. Citadel Press, 1998.
  8. ^ beegeesfanclub.org - de beste bron van informatie over beegees fanclub
  9. ^ Mitchell, Alex (30 tháng 5 năm 2004). “Bob Carr's tribute to Bee Gees”. Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2012. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]