Phil Collins

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phil Collins
Phil Collins Duesseldorf.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Phillip David Charles Collins
Sinh 30 tháng 1, 1951 (63 tuổi)
Nguyên quán Chiswick, London, Anh
Thể loại Progressive rock, Rock, pop rock, Pop
Nhạc cụ hát
trống
Piano
Keyboards
Percussion
Trumpet
Năm 1968-2008
Hãng đĩa Virgin
Atlantic
Hợp tác Genesis
Brand X
Flaming Youth
Phillip Bailey
Website philcollins.co.uk

Philip David Charles "Phil" Collins (sinh ngày 30 tháng 1 năm 1951 tại Chiswick, London) là một ca sĩ theo dòng nhạc RockPop, đồng thời cũng là một nhạc sĩdiễn viên người Anh. Anh vừa là một nghệ sĩ solo và cũng rất quen thuộc chơi trống cho ban nhạc Rock Genesis.

Trong vòng 6 năm, từ 1984 đến 1989 Collins đã 7 lần đoạt được vị trí số 1 trong bình trọn Billboard Hot 100 của Mỹ; thêm vào đó là lần xếp thứ nhất với Genesis (Invisible Touch).

Với phong cách đa dạng của Collins được thể hiện rõ nét trong các singles của anh. Có những bài mang phong cách trống làm chủ như In the Air Tonight, đến những bài mang nhịp điệu Pop Sussudio hay mang đậm tính phản ánh chính trị, xã hội của Another Day in Paradise, ca khúc đến nay được cho là thành công nhất của anh. Không chỉ có vậy, những ca khúc về tình yêu và nỗi sầu đau cũng hay là những chủ đề được thể hiện. Sự nổi tiếng của Collins trên quốc tế đã ảnh hưởng khá nhiều cho thành công của Genesis. Theo Atlantic Records thì Collins đến năm 2002 với vị trí solo của mình đã bán ra được trên 100 triệu đĩa nhạc trên toàn thế giới.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc cụ đầu tiên mà Collins nhận được là một bộ trống đồ chơi vào Giáng Sinh hồi anh mới 5 tuổi. Sau đó với sự giúp đỡ của cậu anh, đã làm cho anh một bộ gõ thực sự, qua đó nó đã giúp anh luyện tập là nâng cao khả năng của mình. Collins luyện chơi không theo một giáo trình nào cả, ngay cả cách đọc và viết của nốt nhạc anh cũng không được học qua, chủ yếu là học theo cách chơi mà anh học được trên tivi, và trên đài với hệ thống nốt nhạc mà anh tự chế.

Trong cuộc đời anh, anh luôn coi trọng nghề diễn viên của mình và thường dùng mọi cách để có thể lên được màn ảnh. Đến độ 14 anh học tại trường điện ảnh Barbara Speake và sau đó tham gia vai chính (Artful Dodger) đầu tiên trong vở nhạc kịch Oliver! do Westend-Produktion sản xuất. Trong Beatles-Film Yeah Yeah Yeah anh nắm giữ một vai phụ và ngoài ra tham gia lồng tiếng cho vai diễn Romeo trong phim Romeo và Julia (1968).

Mặc dù khởi đầu khá thuận lợi với nghề diễn viên, nhưng anh vẫn luôn tập trung vào ca nhạc. Trong thời gian ở trường Chiswick Community School anh thành lập ban nhạc The Real Thing và sau đó gia nhập ban The Freehold với ca khúc đầu tay Lying Crying Dying. Năm 1969 anh cùng ban nhạc Flamming Youth nhận đươck hợp đầu sản xuất đĩa đầu tiên và phát hành Album Arc 2, tuy Album này đã gây ảnh hưởng cho người nghe nhưng không được mua nhiều. Do không mấy thành công ví thế sau 1 năm anh band nhạc cũng đã tan giã sau khi lưu diễn.

Thành nghiệp với Genesis[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]