21 (album của Adele)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
21
Album phòng thu của Adele
Phát hành 19 tháng 1, 2011 (2011-01-19)
(xem lịch sử phát hành)
Thu âm 2010; AirStudios, Angel Studios, Eastcote Studios, Harmony Studios, Metropolis Studios, Myaudiotonic Studios, Patriot Studios, Serenity Sound, Shangri La Studios, Sphere Studios, Wendyhouse Productions
Thể loại Pop, rock, alternative, R&B, soul
Thời lượng 48:12
Hãng đĩa XL, Columbia
Sản xuất Jim Abbiss, Adele Adkins, Paul Epworth, Rick Rubin, Fraser T Smith, Ryan Tedder, Dan Wilson
Thứ tự album của Adele
19
(2008)
21
(2011)
Đĩa đơn từ 21
  1. "Rolling in the Deep"
    Phát hành: 29 tháng 11, 2010
  2. "Someone Like You"
    Phát hành: 24 tháng 1, 2011
  3. "Set Fire to the Rain"
    Phát hành: 4 tháng 7, 2011
  4. "Rumour Has It"
    Phát hành: 5 tháng 11, 2011
  5. "Turning Tables"
    Phát hành: 14 tháng 12, 2011

21 là album phòng thu thứ hai của nữ nghệ sĩ người Anh Adele. Album phát hành ngày 24 tháng 1 năm 2011[1] ở nhiều nước châu Âu, 22 tháng 2 năm 2011 ở Bắc Mỹ, và được đặt theo tuổi của Adele khi cô sản xuất album. Album ngoài việc mang thể loại folkMotown đã có từ album đầu tay 19, còn lấy cảm hứng từ nhạc đồng quê Mỹ và blues mà cô đã được tiếp cận trong chuyến lưu diễn Bắc Mỹ 2008–2009 An Evening with Adele.

Adele bắt đầu việc sáng tác cho 21 từ tháng 4 năm 2009, khi cô vẫn còn giữ mối quan hệ với bạn trai, người đã trở thành cảm hứng cho album này về sau. Không hài lòng với cách mô tả mình như một diễn viên kịch một lần nữa như album trước, cô đã định sáng tác các bài hát tiết tấu nhanh hơn. Tuy nhiên, việc thu âm sớm dừng lại do thiếu ý tưởng. Cô tiếp tục việc sản xuất album ngay sau khi mối quan hệ của cô đổ vỡ, đưa nôi đau xót và phiền muộn vào những bài hát. Adele đã hợp tác với nhiều nhạc sĩ và nhà sản xuất, gồm đồng chủ tịch Columbia Records Rick Rubin, Paul Epworth, Ryan Tedder, Jim AbbissDan Wilson.

21 dẫn đầu bảng xếp hạng album ở 26 nước và đã có mặt trong ấn bản 2012 của Sách Kỷ lục Guinness: album bán chạy nhất thế kỉ 21 của Vương quốc Anh, album đầu bảng dài nhất của một nữ nghệ sĩ hát đơn tại Anh với 21 tuần đứng đầu UK Albums Chart. Album cũng lập kỉ lục tại nhiều quốc gia, và ba đĩa đơn "Rolling in the Deep", "Someone Like You", "Set Fire to the Rain" trở thành hit trên toàn thế giới. Tính đến tháng 3 năm 2012, 21 đã tiêu thụ được 19 triệu bản[2] trở thành đĩa nhạc bán chạy nhất 2011 và giúp vực lại doanh thu bán đĩa đang tụt dốc của nền công nghiệp âm nhạc Mỹ và Anh.[3][4][5] Tại giải Grammy lần thứ 54, album đoạt giải Album của năm và tại giải BRIT 2012, nó đoạt giải Album của năm của nghệ sĩ người Anh.

Phát hành và đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn
Điểm trung bình
Nguồn Đánh giá
Metacritic 76[6]
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
AbsolutePunk 92%[7]
Allmusic 3.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svgStar empty.svg[8]
The A.V. Club A-[9]
The Daily Telegraph 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[10]
Entertainment Weekly A-[11]
The Guardian 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[12]
NME 6/10 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svgStar empty.svgStar empty.svg[13]
The New York Times tích cực[14]
Rolling Stone 3.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svgStar empty.svg[15]
Slant Magazine 3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[16]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Ba đĩa đơn đã được phát hành từ album 21. Đĩa đơn đầu tiên, "Rolling in the Deep", đã được phát hành đầu tiên tại Hà Lan ngày 29 tháng 11 năm 2010, nơi nó đã debut ở vị trí số 4 trên bảng xếp hạng. Ca khúc đã leo lên vị trí số 1 sau đó, trụ vững vị trí đó trong 7 tuần liên tục.[17] Ca khúc cũng đạt vị trí số 1 ở Đức,[18] Bỉ, Hà Lan, Thụy Sĩ và Ý, lọt vào top 10 ở Áo, Đan Mạch, Canada, Ireland, Na Uy và New Zealand. Ngày 16 tháng 11 năm 2011, đĩa đơn được phát hành ở Anh, đạt được vị trí 2 trên UK Singles Chart.[19] "Rolling in the Deep" cũng là đĩa đơn thứ 2 của Adele lọt vào Hot 100 ở Mỹ, sau "Chasing Pavements".[20] Ngày 14 tháng 5 năm 2011, nó đạt đến vị trí quán quân, trở thành đĩa đơn quán quân đầu tiên của Adele tại Mỹ. Đến tháng 5 năm 2011, ca khúc đã có trên 2 triệu lượt tải có phí ở Mỹ.[21]

Đĩa đơn thứ hai từ album, "Someone Like You", đã debut ở vị trí 36 trên UK Singles Chart, chủ yếu nhờ doanh số nhạc tải về. Sau khi bài hát được biểu diễn tại giải BRIT 2011, ca khúc leo từ vị trí 47 trong tuần trước đó lên vị trí số 1.[22] Ca khúc giữ vững vị trí quán quân trong 5 tuần, đạt chứng nhận Bạch kim bởi BPI, tiêu thụ được 1 triệu bản[23] và là đĩa đơn bán chạy nhất tại Anh năm 2011 tính đến nay. Dù chưa được phát hành chính thức tại Mỹ, bài hát debut tại vị trí 65 trên Hot 100, chủ yếu nhờ doanh số tải về của 21.[24] Sau khi được phát hành tại Mỹ, cộng với việc Adele thể hiện nó tại MTV Video Music Awards 2011, "Someone Like You", "Set Fire To The Rain", đã dần leo lên vị trí quán quân, trở thành đĩa đơn thứ hai của Adele đạt vị trí quán quân tại Mỹ.

Tại Hà Lan, "Set Fire to the Rain" đã được phát hành làm đĩa đơn thứ hai, ca khúc đã đạt vị trí quán quân tại đây trong 1 tuần.[25] Nó được phát hành chính thức làm đĩa đơn quốc tế thứ ba tại các quốc gia châu Âu. "Rumour Has It" đã được phát hành làm đĩa đơn thứ tư tại một số quốc gia.

Thành tích xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 1 năm 2011, album debut tại vị trí quán quân UK Albums Chart với doanh số tuần đầu là 208.000 bản.[26][27] Với màn biểu diễn của Adele tại giải BRIT 2011, doanh số tiêu thụ 21 trên Amazon.co.uk tăng 890% trong vòng 1 giờ phát sóng của chương trình,[28] trong khi album đầu tay 19 cũng có một sự tăng về doanh số, leo từ vị trí số 6 đến số 4 trên bảng xếp hạng album.[29] Cùng lúc đó, "Someone Like You" leo từ vị trí 47 lên vị trí số 1, còn "Rolling in the Deep" thì tăng 1 bậc lên vị trí số 4, đem lại cho Adele thành tích nghệ sĩ đầu tiên sau The Beatles năm 1964 có 2 đĩa đơn và 2 album cùng nằm trong top 5 trên bảng xếp hạng đĩa đơn và album tại Anh.[29] Trong tuần thứ năm mà 21 ở vị trí quán quân, hai album của cô giữ hai vị trí cao nhất của UK Albums Chart, đưa cô thành nghệ sĩ đầu tiên sau The Corrs năm 1999 đạt được thành tích này.[30][31]

Trong các tuần tiếp đó, doanh số album vẫn cao ngất ngưởng (không dưới 100.000 bản) cho đến tuần thứ 12.[32] Ngày 3 tháng 4 năm 2011, sự kiện Ngày của Mẹ đưa doanh số tiêu thụ 21 lên con số cao nhất: 258.000.[33] Với tuần thứ 10 liên tiếp ở vị trí quán quân, 21 vượt qua thành tích 9 tuần của Madonna với album The Immaculate Collection (1990) cho nữ nghệ sĩ solo có số tuần quán quân liên tiếp nhiều nhất.[34] Trong tuần thứ 11, album giữ vững ngôi quán quân, trở thành album có số tuần quán quân liên tiếp nhiều thứ nhất trong lịch sử UK Albums Chart (bằng số tuần với Legend (1984) của Bob Marley & The Wailers). Tuy nhiên, 21 đã không phá được kỉ lục vì trong tuần tiếp theo, nó bị truất ngôi vị quán quân bởi Wasting Light của Foo Fighters.[35][36] 21 trở lại vị trí quán quân tuần tiếp theo,[37] và ngày 21 tháng 5 năm 2011, album đã có tổng cộng 15 tuần giữ vị trí đầu bảng UK Albums Chart. Ngày 22 tháng 4 năm 2011, album đã được chứng nhận 8 đĩa bạch kim bởi British Phonographic Industry với doanh số 2,4 triệu, đồng thời trở thành album có số lượt tải về nhiều nhất mọi thời đại ở Anh.[38][39][40][41]

Ngoài thị trường Anh, album cũng đạt thành công về doanh thu, dẫn đầu bảng xếp hạng ở 10 quốc gia khác.[34] Tại Hà Lan, album debut tại vị trí quán quân, giữ ngôi đầu bảng 15 tuần.[42] Ở Đức, 21 đã dẫn đầu bảng xếp hạng trong 3 tháng.[43] Album cũng giữ ngôi quán quân ở Ireland trong 11 tuần. 21 cũng debut ở vị trí số 1 trên Billboard 200 Mỹ và ở Canada. Tại Mỹ, album bán được 352.000 bản trong tuần đầu ra mắt,[44] là doanh số tuần đầu tiên cao nhất của năm 2011.[45] Tháng 4 năm 2011, 21 cũng trở thành album đầu tiên trong năm 2011 tiêu thụ được 1 triệu bản ở Mỹ.[46][47] Đến nay, album đã có 23 tuần không liên tiếp đứng đầu Billboard 200, bán được trên 8 triệu bản ở Mỹ và 19 triệu bản trên toàn thế giới.[48]

Danh sách track[sửa | sửa mã nguồn]

(Danh sách chính thức được phát hành trên Cửa hàng iTunes UK ngày 30 tháng 11 năm 2010.[49])

STT Tên bài hát Sáng tác Nhà sản xuất Thời lượng
1. "Rolling in the Deep"   Adele Adkins, Paul Epworth Epworth 3:48
2. "Rumour Has It"   Adkins, Ryan Tedder Tedder 3:43
3. "Turning Tables"   Adkins, Tedder Jim Abbiss 4:10
4. "Don't You Remember"   Adkins, Dan Wilson Rick Rubin 4:03
5. "Set Fire to the Rain"   Adkins, Fraser T. Smith Smith 4:02
6. "He Won't Go"   Adkins, Epworth Rubin 4:38
7. "Take It All"   Adkins, Eg White Abbiss 3:48
8. "I'll Be Waiting"   Adkins, Epworth Epworth 4:01
9. "One and Only"   Adkins, Dan Wilson, Greg Wells Rubin 5:48
10. "Lovesong"   Robert Smith, Simon Gallup, Roger O'Donnell, Porl Thompson, Lol Tolhurst, Boris Williams Rubin 5:16
11. "Someone Like You"   Adkins, Wilson Wilson, Adkins 4:45

Xếp hạng và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (2011) Vị trí
cao nhất
Argentinian Albums Chart[51] 1
Australian Albums Chart[52] 1
Austrian Albums Chart[53] 1
Belgian Albums Chart (Flanders)[54] 1
Belgian Albums Chart (Wallonia)[55] 1
Canadian Albums Chart[56] 1
Croatian Albums Chart[57] 1
Czech Albums Chart[58] 1
Danish Albums Chart[59] 1
Dutch Albums Chart[60] 1
Finnish Albums Chart[61] 1
French Albums Chart[62] 1
German Albums Chart[63] 1
Greek Albums Chart[64] 1
Hungarian Albums Chart[65] 1
Irish Albums Chart[66] 1
Italian Albums Chart[67] 1
Japanese Albums Chart[68] 4
Mexican Albums Chart[69] 1
New Zealand Albums Chart 1
Norwegian Albums Chart 1
Polish Albums Chart[70] 1
Russian Albums Chart[71] 2
Scottish Albums Chart[72] 1
Slovenian Albums Chart[73] 1
Spanish Albums Chart[74] 2
Swedish Albums Chart[59] 1
Swiss Albums Chart 1
UK Albums Chart[72] 1
U.S. Billboard
Billboard 200[45]
1

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận
Anh Quốc 15× Bạch kim[38]
Áo Bạch kim[75]
Argentina 2x Bạch kim[76]
Ba Lan Kim cương[77]
Bỉ 5× Bạch kim[78]
Canada Kim cương[79]
Đan Mạch 4× Bạch kim[80]
Châu Âu 8× Bạch kim[81]
Đức 6× Bạch kim[82]
México 3× Bạch kim + Vàng[83]
Nga Bạch kim[71]
Ireland 12× Bạch kim[84]
Hà Lan 5× Bạch kim[85]
Hoa Kỳ 8× Bạch kim[86]
New Zealand 9× Bạch kim[87]
Pháp Kim cương[88]
Phần Lan 2× Bạch kim[89]
Tây Ban Nha 3× Bạch kim[90]
Thụy Điển 2× Bạch kim[91]
Thụy Sĩ 2× Bạch kim[92]
Úc 10× Bạch kim[93]
Ý 4× Bạch kim[94]

Xếp hạng cuối năm[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (2011) Vị trí
Australian Albums Chart[95] 1
Austrian Albums Chart[96] 2
Belgian Albums Chart (Flanders)[97] 1
Belgian Albums Chart (Wallonia)[98] 1
Canadian Albums Chart[99] 1
Danish Albums Chart[100] 2
Dutch Albums Chart[101] 1
Finnish Albums Chart[102] 1
French Albums Chart[103] 1
German Albums Chart[104] 1
Hungarian Albums Chart[105] 33
Irish Albums Chart[106] 1
Italian Albums Chart[107] 4
Mexican Albums Chart[108] 5
New Zealand Albums Chart[109] 1
Polish Albums Chart[110] 1
Spanish Albums Chart[111] 5
Swedish Albums Chart[112] 2
Swiss Albums Chart[113] 1
UK Albums Chart[114] 1
US Billboard 200[115] 1

Lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực Ngày phát hành Định dạng Hãng đĩa
Nhật Bản[116] 19 tháng 1 năm 2011 CD, download Hostess Entertainment
Hi Lạp 20 tháng 1 năm 2011 Limited Edition, gồm bonus tracks XL
Úc 21 tháng 1 năm 2011 CD, download
Áo
Đức
Hà Lan
Thụy Sĩ
Vương quốc Anh[49]
Đài Loan 22 tháng 1 năm 2011 Standard, exclusive edition High Note
Pháp 24 tháng 1 năm 2011 CD, download XL
Ba Lan CD
Israel CD High Fidelity
Hoa Kỳ[117] 22 tháng 2 năm 2011 CD, download Columbia
Canada[118]
Argentina 12 tháng 4 năm 2011 CD Sony Music
Brasil 15 tháng 4 năm 2011 CD
México 26 tháng 4 năm 2011 CD, download

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Adele - 21 - MP3 Downloads”. 7digital. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2011. 
  2. ^ Gensler, Andy (10 tháng 1 năm 2012). “The Year In International Music Biz: Our New (Interconnected) World Order”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2012. 
  3. ^ Pulley, Brett (14 tháng 11 năm 2011). “Record Sales Increase as Lady Gaga, Adele Find a Future With Spotify, Rdio”. Bloomberg. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2012. 
  4. ^ Smirke, Richard (17 tháng 1 năm 2012). “Adele Helps UK Pop Music Sales Reach 11-Year High, Rock Sales Drop”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2012. 
  5. ^ Danton, Eric R. (6 tháng 1 năm 2012). “Adele leads record industry to sales increase in 2011”. Hartford Courant (Richard Graziano). Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2012. 
  6. ^ “21 Reviews, Ratings, Credits, and More at Metacritic”. Metacritic. 22 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2011. 
  7. ^ Walker, Ian. “Review: Adele 21. AbsolutePunk. AbsolutePunk, LLC. (Buzz Media). Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2011. 
  8. ^ Collar, Matt. 21 Review”. Allmusic. All Media Guide (Rovi). Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2011. 
  9. ^ Murray, Noel (22 tháng 2 năm 2011). “Adele: 21 Review”. The A.V. Club. The Onion. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2011. 
  10. ^ McNulty, Bernadette (19 tháng 1 năm 2011). “Adele:21, CD of the week, review”. The Daily Telegraph. Telegraph Media Group. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2011. 
  11. ^ Greenblatt, Leah (9 tháng 2 năm 2011). “Review: Adele, 21”. Entertainment Weekly. Time division of Time Warner. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2011. 
  12. ^ Will, Dean (20 tháng 1 năm 2011). “Adele: 21 – review”. The Guardian. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2011. 
  13. ^ Parkin, Chris (24 tháng 1 năm 2011). “Adele – Album Review: Adele – 21 (XL) -Album Reviews”. NME. IPC Media (Time Inc.). Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011. 
  14. ^ Caramanica, Jon (11 tháng 2 năm 2011). “ADELE: 21. The New York Times (New York Times Company). Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2011. 
  15. ^ Hermes, Will. “Review:21 by Adele”. Rolling Stone. Wenner Media LLC. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011. 
  16. ^ Cole, Matthew (20 tháng 2 năm 2011). “Adele: 21 – Music Review”. Slant Magazine. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2011. 
  17. ^ “Nederlandse Top 40 – Dutch charts portal”. dutchcharts.nl (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2011. 
  18. ^ “German Charts”. charts.de. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011. 
  19. ^ “TOP 40 OFFICIAL UK SINGLES ARCHIVE”. UK Singles Chart. The Official Charts Company. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2011. 
  20. ^ Trust, Gary (20 tháng 4 năm 2011). “Rihanna's 'S&M' Reigns on Hot 100, Lady Gaga's 'Judas' Debuts”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2011. 
  21. ^ Grein, Paul (6 tháng 4 năm 2011). “Songs: Even Divas Struggle”. Yahoo! Music News. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2011. 
  22. ^ “Adele equals Beatles’ record to lead Official Charts Brits Bonanza”. The Official Charts Company. 20 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2011. 
  23. ^ “Certified Awards Search”. British Phonographic Industry. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2011. 
  24. ^ Trust, Gary (11 tháng 5 năm 2011). “Adele's 'Rolling in the Deep' Tops Hot 100”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2011. 
  25. ^ “Nederlandse Top 40 – Dutch charts portal”. dutchcharts.nl (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2011. 
  26. ^ “Adele comes of age with 21 at number one”. The Official Charts Company. 30 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2011. 
  27. ^ Sperling, Daniel (30 tháng 1 năm 2011). “Adele dominates UK album chart”. Digital Spy. Hachette Filipacchi (UK) Ltd. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2011. 
  28. ^ Harmsworth, Andrei (17 tháng 2 năm 2011). “Tinie Tempah, Mumford & Sons and Adele see record sales soar after Brits”. Metro. metro.co.uk. Associated Newspapers. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011. 
  29. ^ a ă Sexton, Paul (21 tháng 2 năm 2011). “Adele Ties Beatles Record on U.K. Charts, BRIT Awards Boost Winners”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2011. 
  30. ^ Sperling, Daniel (27 tháng 2 năm 2011). “Adele scores fifth week at album No.1”. Digital Spy. Hachette Filipacchi (UK) Ltd. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2011. 
  31. ^ “Adele tightens grip on charts”. Yahoo! News UK & Ireland. 27 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2011. 
  32. ^ Sexton, Paul. “Adele's 21 Returns to Top of U.K. Charts, Foo Fighters at No. 2”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2011. 
  33. ^ Sperling, Daniel (3 tháng 4 năm 2011). “Adele celebrates tenth week at albums No. 1”. Digital Spy. Hachette Filipacchi (UK) Ltd. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2011. 
  34. ^ a ă Copesy, Robert (4 tháng 4 năm 2011). “11 Chart Facts about Adele's 21. Digital Spy. Hachette Filipacchi (UK) Ltd. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2011. 
  35. ^ “Adele knocked off No. 1”. BBC News. 17 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2011. 
  36. ^ McCarthy, Paul (3 tháng 5 năm 2011). “Adele’s Crown Not Stolen for Long – Album Chart 2011”. News Quod. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2011. 
  37. ^ “Adele to return to chart summit with 21. BBC News. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2011. 
  38. ^ a ă “Certified Awards Search”. British Phonographic Industry. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2011. 
  39. ^ “Digital music sales 'pass £1bn'”. BBC. 12 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2011. 
  40. ^ “Adele remains top as holidays hit album sales”. Music Week. 1 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2011. 
  41. ^ “The Official Chart”. BBC. 1 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2011. 
  42. ^ de Vrieze, Atze (29 tháng 1 năm 2011). “Adele verkoopt meer albums dan rest top 100 bij elkaar” (bằng tiếng Hà Lan). 3VOOR12. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2011. 
  43. ^ “Brunt Vielfalt Independent Charts”. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2011. 
  44. ^ Caulfield, Keith (2 tháng 3 năm 2011). “Adele's 21 Debuts At No. 1 on the Billboard 200 With 352,000 Sales”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2011. 
  45. ^ a ă Caulfield, Keith (2 tháng 3 năm 2011). “Adele's 21 Sells Over 350k to Top Billboard 200”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2011. 
  46. ^ Grein, Paul. “Adele is everywhere”. Yahoo News. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2011. 
  47. ^ “Adele Charts”. tralala.gr. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2011. 
  48. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên MW_10M
  49. ^ a ă 21 by Adele – Download 21 on iTunes”. Itunes.apple.com. 21 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2011. 
  50. ^ Wood, Mikael (28 tháng 1 năm 2011). “Adele: The Billboard Cover Story”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2011. 
  51. ^ “Ranking Mensual-Pop” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Cámara Argentina de Productores de Fonogramas y Videogramas. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2011. 
  52. ^ “Top 50 Albums Chart – Australian Recording Industry Association”. ARIA. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2011. 
  53. ^ Steffen Hung. “Adele – 21. lescharts.com. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011. 
  54. ^ “ultratop.be – Adele-21. Ultratop (bằng tiếng Hà Lan). ULTRATOP & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2011. 
  55. ^ “ultratop.be – Adele-21. Ultratop (bằng tiếng Pháp). ULTRATOP & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2011. 
  56. ^ “Canadian Albums – Tuần 12 tháng 3 năm 2011”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2011. 
  57. ^ “Adele-21 (bằng tiếng Bosnia). Hrvatska Diskografska Udruga – HDU. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2011. 
  58. ^ “Top 50 Prodejní: Adele” (bằng tiếng Séc). IFPI ČR Hitparáda. Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế Cộng hòa Séc. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2011. 
  59. ^ a ă Steffen Hung. “Adele – 19. lescharts.com. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011. 
  60. ^ “dutchcharts.nl – Adele-21. MegaCharts. Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2011. 
  61. ^ “Adele:21 (bằng tiếng Phần Lan). IFPI. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  62. ^ “Classement officiel des ventes d'albums en France du 24 janvier au 30 janvier 2011” (bằng tiếng Pháp). Chartsinfrance. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
  63. ^ “Deutschland im Adele-Fieber” (bằng tiếng Đức). Media Control GfK. 1 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  64. ^ “Adele:21 (bằng tiếng Hi Lạp). IFPI. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
  65. ^ “MAHASZ – Magyar Hanglemezkiadók Szövetsége” (bằng tiếng Hungary). mahasz.hu. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2011. 
  66. ^ “Chart Track”. Irish Albums Chart. GfK. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2011. 
  67. ^ “Italian Charts” (bằng tiếng Ý). Fimi. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2011. 
  68. ^ “オリコンランキング情報サービス「you大樹」” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2011. 
  69. ^ “Mexico Top 100” (bằng tiếng Tây Ban Nha). AMPROFON. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2011. 
  70. ^ “Global Charts: Adele-21. A Charts. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2001. 
  71. ^ a ă “Lenta.ru: Музыка: Лепс и Ляпис” (bằng tiếng Nga). lenta.ru. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2011. 
  72. ^ a ă “Archive Chart”. UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2011. 
  73. ^ “Slo Top 30” (bằng tiếng Ý). RTV SLO. Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế. 14 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2011. 
  74. ^ Steffen Hung. “Adele – 21. spanishcharts.com. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011. 
  75. ^ “Gold & Platin” (bằng tiếng Đức). Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  76. ^ http://tn.com.ar/show/00068138/conoce-el-nuevo-tema-de-adele Argentinian Certification
  77. ^ “Listy bestsellerów, Wyróżnienia” (bằng tiếng Ba Lan). Związek Producentów Audio Video (ZPAV). Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  78. ^ “LES DISQUES D'OR/DE PLATINE” (bằng tiếng Pháp). www.ultratop.be. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2011. 
  79. ^ “CRIA Certifications”. 
  80. ^ “Adele får tre gange guld i Danmark”. Gaffa (bằng tiếng Đan Mạch). 4 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2011. 
  81. ^ “IFPI Platinum Europe Awards - 2011”. IFPI.com. Liên hiệp Quốc tế Công nghiệp thu âm. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2011. 
  82. ^ “Gold/Platin–Datenbank” [Vàng/Bạch kim–Dữ liệu chứng nhận] (bằng Tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie.  Truy cập 27 tháng 4 năm 2011.
  83. ^ . Notimex. Tháng 10 năm 2011 http://www.webcitation.org/62tX0WHyR. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2011.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  84. ^ “Ireland Breaking Record”. PIAS. 20 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2011. 
  85. ^ “Tweede album Adele al na ruim drie maanden vijfmaal platina”. 6 tháng 5 năm 2011. 
  86. ^ “RIAA's Gold & Platinum Program”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2011. 
  87. ^ “Latest Gold / Platinium Albums – RadioScope New Zealand”. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2011. 
  88. ^ “Adele 21 Triple Platine” (bằng tiếng Pháp). Modzik. 17 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2011. 
  89. ^ “Brittitähdelle kultaa Suomesta” (bằng tiếng Phần Lan). Voice.fi. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2011. 
  90. ^ “Top 100 Albumes - Semana 37: del 12.09.2011 al 18.09.2011” (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Productores de Música de España. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2011. 
  91. ^ “Sverige Topplistan - Veckolista Album - Vecka 42, 21 oktober 2011” (bằng tiếng Thụy Điển). www.sverigetopplistan.se. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2011. 
  92. ^ “Edelmetall – Adele” (bằng tiếng Đức). HitParade.ch. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2011. 
  93. ^ “ARIA Top 50”. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2011. 
  94. ^ “Certificazioni ARTISTI - Dalla settimana 1 del 2009 alla settimana 21 del 2011” (PDF) (bằng tiếng Ý). Liên đoàn Công nghiệp âm nhạc Ý (FIMI). Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2011. 
  95. ^ “ARIA Charts – End Of Year Charts – Top 100 Albums 2011”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2012. 
  96. ^ “Jahreshitparade Alben 2011” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo. Hung Medien. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2012. 
  97. ^ “Jaaroverzichten 2011” (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2011. 
  98. ^ “Rapports annuels 2011” (bằng tiếng Pháp). Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2011. 
  99. ^ “2011 Year End Charts – Top Canadian Albums”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011. 
  100. ^ “Album-Top 100”. Hitlisten.NU. IFPI Denmark. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2012. 
  101. ^ “Jaaroverzichten 2011” (bằng tiếng Hà Lan). MegaCharts. Hung Medien. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2011. 
  102. ^ “Myydyimmät ulkomaiset albumit vuonna 2011” (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Phần Lan. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2012. 
  103. ^ “Quels sont les tops musicaux de l'année 2011 ?” (bằng tiếng Pháp). Chartinfrance. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011. 
  104. ^ “VIVA Album Jahrescharts 2011 - 2011” (bằng tiếng Đức). Chartinfrance. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2012. 
  105. ^ “Best selling albums in 2011 of Hungary”. Mahasz. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2012. 
  106. ^ “Best of 2011”. Irish Recorded Music Association. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2012. 
  107. ^ “Classifiche annuali Fimi-GfK: Vasco Rossi con "Vivere o Niente" è stato l'album più venduto nel 2011” (bằng tiếng Ý). Federation of the Italian Music Industry. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2012.  See the attached file, by pressing Scarica l'allegato.
  108. ^ “Los Más Vendidos 2011” (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2012. 
  109. ^ “Adele dominates NZ end of year charts”. Television New Zealand. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2011. 
  110. ^ “Top 100 – annual chart – 2011”. Polish Society of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2012. 
  111. ^ “TOP 50 ALBUMES 2011” (bằng tiếng Tây Ban Nha). PROMUSICAE. Media Control. GfK International. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2012. 
  112. ^ “Årslista Album – År 2011” (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Swedish Recording Industry Association. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2012. 
  113. ^ “Swiss Year-End Charts 2011”. Media Control. Hung Medien. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2012. 
  114. ^ “The Top 20 biggest selling albums of 2011 revealed!”. The Official Charts Company. 2 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2012. 
  115. ^ “2011 Year End Charts – Top Billboard 200 Albums”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011. 
  116. ^ “21” (bằng tiếng Nhật). Amazon.jp. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2011. 
  117. ^ “21”. Amazon.com. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2011. 
  118. ^ “21”. Amazon.ca. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2011.