Marilyn Monroe

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Marilyn Monroe

Monroe trong phim The Prince and the Showgirl (1957)
Sinh Norma Jeane Mortenson
1 tháng 6, 1926(1926-06-01)
Los Angeles, California, United States
Mất 5 tháng 8, 1962 (36 tuổi)
Brentwood, Los Angeles, California, Mỹ
Nguyên nhân mất Thuốc an thần quá liều
Nơi an táng Nghĩa trang Westwood Village Memorial Park, Westwood, Los Angeles
Quốc gia Mỹ
Tên khác Norma Jeane Baker
Norma Jeane Dougherty
Công việc Diễn viên, người mẫu ca sĩ
Năm hoạt động 1947–1962
Tác phẩm Niagara, Gentlemen Prefer Blondes, River of No Return, The Seven Year Itch, Some Like It Hot, The Misfits
Tín ngưỡng Ngũ tuần (1926–1956),
Do Thái (1956–1962)
Chồng/vợ James Dougherty (m. 1942–1946) «start: (1942)–1946 (1946-end+1:)»"Hôn nhân: James Dougherty to Marilyn Monroe" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Marilyn_Monroe) (ly dị)
Joe DiMaggio (m. 1954–1954) «start: (1954)–1954 (1954-end+1:)»"Hôn nhân: Joe DiMaggio to Marilyn Monroe" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Marilyn_Monroe)
Arthur Miller (m. 1956–1961) «start: (1956)–1961 (1961-end+1:)»"Hôn nhân: Arthur Miller to Marilyn Monroe" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Marilyn_Monroe)
Chữ ký

Marilyn Monroe (1 tháng 6 năm 19265 tháng 8 năm 1962), tên thật là Norma Jeane Mortensen, là nữ diễn viên, biểu tượng sex và hình tượng pop nổi tiếng của nước Mỹ thế kỷ 20.

Monroe bắt đầu sự nghiệp như một một người mẫu, rồi tiến tới điện ảnh. Bà thường diễn vai phụ, nhưng phần lớn đều được đánh giá cao, như trong The Asphalt JungleAll About Eve (1950). Lối diễn xuất hài hước và đầy gợi cảm trong loạt phim như Gentlemen Prefer Blondes, How to Marry a Millionaire, The Seven Year Itch và vai diễn Sugar Kane trong Some like it hot đã đưa bà lên vị trí huyền thoại điện ảnh trong lịch sử điện ảnh Mỹ.

Những năm cuối đời Marilyn là bệnh tật và tin đồn. Bà luôn nổi tiếng vì tính tình đa nghi và khó chịu. Năm 1962, bà qua đời ở tuổi 36 do sử dụng thuốc an thần quá liều. Cái chết này đã trở thành một sự kiện gây sốc cả thế giới và xung quanh đó cũng có rất nhiều lời đồn đoán. Có nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân cái chết, người thì cho rằng đó chỉ là một tai nạn nhưng cũng có một số khẳng định đây thật sự là một vụ mưu sát.

Năm 1999, Monroe được xếp thứ 6 trong Danh sách 100 ngôi sao điện ảnh của Viện phim Mỹ.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giấy khai sinh của Marilyn Monroe với tên Norma Jeane Mortenson năm 1926

Marilyn Monroe sinh ngày 1 tháng 6 năm 1926 tại Bệnh viện quận Los Angeles[1] với tên Norma Jeane Mortenson (sau đó đổi thành Baker), là con thứ 3 của Gladys Pearl Baker (nhũ danh Monroe, 27 tháng 5 năm 1902 – 11 tháng 3 năm 1984).[2] Trong giấy khai sinh nêu tên người cha là Martin Edward Mortensen với nơi tạm trú không rõ.[3] Cái tên Mortenson được lấy làm họ trong giấy khai sinh nhưng ngay sau đó được người mẹ đổi thành Baker là họ của người chồng đầu tiên.

Trong suốt cuộc đời, Marilyn Monroe không nhận Mortensen là cha mình. Bà nói khi còn là một đứa trẻ, bà đã được cho xem tấm ảnh người đàn ông mà mẹ nói là cha, ông ta có hàng ria mỏng và nhìn hao hao như Clark Gable, bà luôn lấy làm thích thú khi nghĩ rằng Gable là cha mình, vì vậy không bao giờ muốn tìm ra người cha thật sự.[4][5]

Do thần kinh không ổn định và mất khả năng chăm sóc cho Gladys gửi con cho cha mẹ nuôi Albert và Ida Bolender ở Hawthorne, California và cô sống ở đó cho đến năm lên 7. Theo cuốn tự truyện My Story (đồng tác giả với nhà văn, nhà biên kịch Ben Hecht,)[6] Monroe luôn tin rằng vợ chồng Bolender là cha mẹ ruột cho đến khi Ida tiết lộ sự thật. Sau đó Norma Jeane coi họ như họ hàng.

Trong một tuần thăm con, Gladys nói với Norma Jeane rằng bà đã mua nhà, và Norma Jeane được phép chuyển về với mẹ. Vài tháng sau, Gladys lại bị suy nhược thần kinh. Trong My Story, Monroe nhớ lại mẹ bà "la hét và cười lớn ", khi bà bị đưa tới bệnh viện tiểu bang ở Norwalk. Người bạn thân nhất của Gladys, Grace McKee, trở thành người bảo trợ hợp pháp của Monroe. Grace đã nói Monroe một ngày nào đó sẽ trở thành "...một phụ nữ quan trọng... một minh tinh màn bạc". Grace thần tượng Jean Harlow, nên để cho Norma Jeane trang điểm và uốn tóc. Họ thường ra rạp chiếu phim cùng nhau, đó là khởi đầu cho niềm say mê của Norma với điện ảnh và các ngôi sao màn bạc.

Sau khi Grace McKee cưới Ervin Silliman Goddard năm 1935, cô bé Monroe 9 tuổi bị gửi đến trại trẻ mồ côi Los Angeles, (sau đổi lên là Hollygrove), và sau đó đến nhà tế bần. Hai năm sau Grace mang Norma Jeane trở về sống cùng bà, Goddard và con gái riêng của ông ta. Khi Goddard tìm cách quấy rối Norma Jeane, Grace gửi cô bé đến sống cùng bà Olive Brunings. Norma Jeane bị một trong những đứa con trai của Olive cưỡng bức năm 12 tuổi rồi bị cho đến ở với dì của Grace, Ana Lower. Khi Ana bắt đầu ốm đau, Norma Jeane trở về với Grace và Ervin Goddard, nơi cô gặp gỡ chàng hàng xóm, Jim Dougherty, và bắt đầu quan hệ với cậu ta.

Grace và chồng chuyển tới miền Đông nhưng không thể mang theo Norma Jeane. Một gia đình khác muốn nhận nuôi Norma Jeane nhưng Gladys không chấp nhận. Grace bèn sang hàng xóm và gợi ý cậu con trai nhà họ, James Dougherty, nên cưới Norma Jeane để cô không phải trở lại trại trẻ mồ côi hay nhà tế bần, và tháng 6 năm 1942, họ lấy nhau. Monroe thổ lộ trong tự truyện rằng bà không cảm thấy mình như một cô vợ; bà thích chơi đùa cùng lũ trẻ láng giềng cho đến khi anh chồng gọi về. Cuộc hôn nhân này kéo dài đến năm 1946 khi Monroe quyết định khởi nghiệp diễn viên.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Norma Jeane Dougherty trên tạp chí Yank năm 1945

Khi Dougherty ở trong hải quân suốt Thế chiến II, Monroe chuyển tới sống cùng mẹ chồng, và làm việc trong nhà máy lắp ráp máy bay OQ-2. Trong thời gian này, nhà nhiếp ảnh quân đội David Conover đăng một tấm hình bà trên tạp chí Yank và chính ông là người đã khuyến khích cô nộp đơn vào trung tâm môi giới người mẫu Blue Book. Họ cần những cô người mẫu tóc sáng màu, vì thế Marilyn nhuộm mái tóc hạt dẻ của mình sang màu vàng ánh kim.

Norma Jeane Dougherty trở thành một trong những người mẫu tiếng tăm nhất của Blue Book, xuất hiện trên hàng tá các trang bìa tạp chí. Năm 1946, bà gây được sự chú ý của Ben Lyon, giám đốc hãng 20th Century Fox. Lyon vô cùng ấn tượng và nhận xét "Đó là Jean Harlow trở lại".[7] Bà nhận được một bản hợp đồng 6 tháng với mức lương khởi điểm 125 đô la/tuần.

Norma Jeane quyết định đổi sang một cái tên mới phù hợp hơn - Marilyn Monroe.[8] Xuất hiện trong Scudda Hoo! Scudda Hay!Dangerous Years (cùng năm 1947), nhưng khi hết hạn hợp đồng, bà lại trở về sàn catwalk. Vẫn muốn tìm kiếm cơ may với điện ảnh nhưng trong khi thất nghiệp, Marilyn đành phải làm người mẫu ảnh khoả thân.

Năm 1948, Monroe kí hợp đồng 6 tháng với Columbia Pictures và được giới thiệu với Natasha Lytess, người trở thành quản lí của bà trong vài năm.[9] Bà bắt đầu với bộ phim âm nhạc tầm thấp, Ladies of the Chorus, nhưng không thành công, và hợp đồng kết thúc.[10] Bà tiếp tục với một vai phụ trong Love Happy của Marx Brothers (1949) và gây ấn tượng tốt với nhà sản xuất. Sau đó bà được đưa tới New York.[11]

Monroe trong phim The Asphalt Jungle (1950)

Love Happy khiến cho nhà quản lí Johnny Hyde đồng ý nâng đỡ Monroe. Ông sắp xếp tìm một vai trong The Asphalt Jungle. Vai diễn gây được sự chú ý [11] và được đạo diễn, nhà biên kịch, Herman Mankiewicz đánh giá khá cao. Ông đồng ý chọn Monroe cho một vai phụ trong All About Eve. Sau bộ phim này, khả năng diễn xuất của Monroe chiếm được sự tin tưởng của Mankiewicz.[12] Hyde thoả thuận một hợp đồng 7 năm với Monroe ở 20th Century Fox một thời gian ngắn trước khi ông qua đời tháng 12 năm 1950.[13]

Monroe ghi danh tại Đại học California, Los Angeles, ngành phê bình văn học nghệ thuật,[14] và xuất hiện trong một số vai phụ.[15] Tháng 3 năm 1951, bà nhận được đề cử Oscar đầu tiên.[16]

Thăng hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 1952, Monroe gây nên một vụ scandal khi một trong những bức ảnh khoả thân của bà năm 1949 xuất hiện trên bìa lịch. Khi báo đài bắt đầu đua nhau đồn đại về chuyện này, Monroe thừa nhận rằng chính bà đã chụp những bức ảnh đó nhưng nhấn mạnh mình làm vậy chỉ vì kế sinh nhai.[17] Trên một bài phỏng vấn, bà nói lên nguyên do bị hoàn cảnh xô đẩy, và khơi gợi được mối thông cảm của công chúng về nỗi tuyệt vọng của một diễn viên có thời niên thiếu cơ cực.[17]

Bà lên trang bìa Life Magazine tháng 4 năm 1952 và được ví von như "Tiếng nói của Hollywood".[18] Câu chuyện về thời thơ ấu sống trong ngọn đèn tình thương của các nhà hảo tâm xuất hiện trên tạp chí True Experiences tháng 5 năm 1952, xoay quanh một Monroe vui tươi và lành mạnh dưới tiêu đề: "Tôi có hạnh phúc không? Tôi đã từng là đứa trẻ bơ vơ không ai muốn nhận. Một đứa bé cô đơn với một giấc mơ, và đã thức giấc để biến giấc mơ trở thành hiện thực. Tôi là Marilyn Monroe. Hãy đọc câu chuyện Cô bé Lọ Lem của tôi." [19] Đó cũng là khoảng thời gian bà bắt đầu quan hệ với cầu thủ bóng chày, Joe DiMaggio. Bức ảnh DiMaggio đến thăm Monroe ở 20th Century Fox tràn ngập toàn nước Mĩ, và thường được nhắc đến như một chuyện tình đầy lãng mạn.[20]

với Keith Andes trong Clash by Night (1952)
Vai Rose trong Niagara.

Trong tháng kế tiếp, bốn bộ phim có Monroe tham gia được công chiếu. Bà đượcRKO Studios mời tham gia một vai phản diện trong Clash by Night, biên kịch Barbara Stanwyck, đạo diễn Fritz Lang.[21] Phát hành tháng 6 năm 1952, bộ phim trở nên thịnh hành, diễn xuất của Monroe được công chúng yêu thích và giới phê bình đánh giá cao.[22] Hai phim tiếp theo lần lượt ra mắt trong tháng 7, We're Not MarriedDon't Bother to Knock; We're Not Married khiến Monroe nổi lên như một ứng viên lộng lẫy của sắc đẹp, tuy nhiên Variety lại liệt phim vào hạng "cấp thấp", và Monroe quá lạm dụng những cảnh phô bày vẻ đẹp hình thể dưới làn nước tắm.[23] Trong "Don't Bother to Knock", bà được nhận vai nữ chính đầu tiên[24] nhưng bị chê là khá tẻ nhạt[24]

Darryl F. Zanuck nhận thấy tài năng điện ảnh của Monroe đang bị những bộ phim giải trí tầm thường làm lu mờ, và mời bà vào "Niagara", vai một người đàn bà có sức mê hoặc lạ thường và bị tình nghi ám sát chồng mình, biên kịch Joseph Cotten.[25] Suốt quá trình làm phim, chuyên viên trang điểm của Monroe, Whitey Snyder nhận ra rằng nỗi sợ sân khấu đang dần ảnh hưởng đến diễn xuất của bà và phải dành hàng giờ để vỗ về Monroe khi bà chuẩn bị cho cảnh quay.[26]. Sự nghiệp của Monroe khá thăng tiến nhờ bộ phim này với những lời khen ngợi về lối diễn xuất gợi cảm của cô.

Một trang bìa tạp chí Playboy

Sự xuất hiện của Marilyn trong Photoplay với chiếc dạ y ôm sát bị chỉ trích nặng nề. Joan Crawford, phát biểu trong Louella Parsons, đã phê bình gay gắt những hành động khiếm nhã của Monroe và cung cách ứng xử "không xứng để trở thành một nghệ sĩ và một quý cô".[27] Bà cũng bị phản đối khi mặc chiếc đầm đen xẻ ngực sâu gần đến rốn trong Miss America Parade tháng 9 năm 1952.[28] Bức ảnh này đã được sử dụng trên trang bìa ấn bản đầu tiên của tạp chí Playboy tháng 12 năm 1953, kèm theo một bức hình khoả thân nghệ thuật của Monroe chụp năm 1949 bên trong.

Đỉnh cao[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim tiếp theo của bà là Gentlemen Prefer Blondes (1953), vai chính Jane Russell và đạo diễn Howard Hawks. Trong vai Lorelei Lee, một cô nương đào mỏ, bà cần phải học hát và vũ đạo. Hai diễn viên chính trở nên thân thiết, và Russell ca ngợi Monroe "rất bẽn lẽn, rất ngọt ngào, và cũng thông minh hơn nhiều so với mọi người nghĩ". Sau đó bà đã kể lại cho công chúng biết về những cống hiến của Monroe như việc phải chịu một lịch học vũ đạo dày đặc mỗi chiều sau khi đám đông ra về.

Diễn "Kim cương là người bạn tuyệt nhất của các thiếu nữ" trong Gentlemen Prefer Blondes (1953)

Tại buổi tuyên truyền phim ở Los Angeles, Monroe và Russell in dấu vân chân và tay trên xi măng trước tiền sảnh rạp hát Grauman's Chinese. Monroe được khán giả yêu thích và doanh thu của bộ phim gấp hai lần kinh phí sản xuất. Màn trình diễn Kim cương là người bạn tuyệt nhất của các thiếu nữ từ đó gắn liền với hình ảnh bà. Gentlemen Prefer Blondeslà một trong những bộ phim đầu tiên mà Monroe mặc trang phục của William Travilla, người thiết kế trang phục cho bà trong tám bộ phim Bus Stop, Don't Bother to Knock, How to Marry a Millionaire, River of No Return, There’s No Business Like Show Business, Monkey Business,The Seven Year Itch

How to Marry a Millionaire, vở hài kịch về ba cô người mẫu thích đào mỏ cố gắng quyến rũ những anh chàng giàu có, nữ chính gồm Monroe, Betty GrableLauren Bacall, đạo diễn Jean Negulesco. Nhà sản xuất và biên kịch Nunnally Johnson phát biểu đó là bộ phim đầu tiên mà khán giả "thích Marilyn vì chính bản thân cô cùng những lí lẽ sắc sảo của cô. Cô ấy nói rằng đó là bộ phim duy nhất mà trong đó, cô được đánh giá chân thực về sức quyến rũ của mình." [29]

Bộ phim của Monroe đã dấy lên trào lưu "những cô gái tóc vàng". Năm 1953 và 1954, bà có tên trong danh sách "10 ngôi sao hái ra tiền" của Quigley.

Marilyn MonroeJane Russell kí tên, in vân tay và vân chân trên xi măng trước rạp Grauman's Chinese năm 1953

Thời gian này, Monroe từng nói về hoài bão đóng phim của mình trên Thời báo New York: " Tôi muốn vươn cao và phát triển, được diễn những vai diễn thực sự trữ tình. Cô bầu của tôi, Natasha Lytess, nói rằng tôi có một tâm hồn đẹp đẽ, nhưng chẳng có mấy ai hứng thú với chuyện đó".[30] Bà mong muốn được tham gia vào The Egyptian của 20th Century Fox, nhưng bị Darryl F. Zanuck từ chối thẳng thừng.[31]

Thay vào đó, Marilyn được mời tới miền tây cho River of No Return, vai phản diện Robert Mitchum, đạo diễn Otto Preminger. Ban đầu Monroe kiên quyết không nói chuyện với Preminger, và Mitchum đành phải làm trung gian.[32] Sau khi hoàn thành bộ phim, bà phát biểu "Tôi nghĩ tôi xứng đáng được khá hơn là một bộ phim cao bồi hạng Z mà trong đó diễn xuất làm phông nền cho cảnh." [33]

Cuối năm 1953, Monroe tham gia The Girl in the Red Velvet Swing với Frank Sinatra. Bộ phim thất bại, và bà bị thất sủng ở hãng.[34]

Marilyn và DiMaggio làm lễ cưới ở San Francisco ngày 14 tháng 1 năm 1954, và tới Nhật trong tuần trăng mật trên chiếc du thuyền do DiMaggio thuê. Sau hai tuần luôn bị coi là thứ yếu vì DiMaggio bận bịu với kinh doanh, Monroe phát biểu: "Hôn nhân là sự nghiệp chính của tôi kể từ lúc này".[35] Sau đó bà tới Hàn Quốc để biểu diễn cho 13,000 lính Mĩ trong 3 ngày, và thổ lộ rằng kinh nghiệm đã giúp bà vượt qua nỗi sợ hãi khi đứng trước đám đông.[36]

Trở lại Hollywood tháng 3 năm 1954, Monroe thương thảo với 20th Century Fox và xuất hiện trở lại trong There's No Business Like Show Business, bộ phim âm nhạc thất bát có doanh thu không bù nổi kinh phí.[33] Ed Sullivan chê diễn xuất của của Monroe khi hát "Heat Wave" là "một trong những thiếu xót trắng trợn nhất về thị hiếu thẩm mĩ",[37] Time so sánh bà với nữ chính Ethel Merman một cách thiếu thiện chí, trong khi Bosley Crowther trên Thời báo New York bình luận Mitzi Gaynor tỏ ra nổi trội hơn hẳn cái diễn xuất "làm xấu hổ người xem" của Monroe.[38]

Hình ảnh Chiếc váy dài bay trong The Seven year itch

Tháng 9 năm 1954, Monroe diễn một vai chính trong The Seven Year Itch tại New York cùng với Tom Ewell. Trong khi quay, gió đã thổi tung chiếc đầm của Monroe lên quá đầu một cách đầy gợi cảm. Một đám đông nghịt người đã chứng kiến khi đạo diễn Billy Wilder bắt làm đi làm lại cảnh đó nhiều lần. Trong số người xem có Joe DiMaggio, ông tức điên lên về cảnh tượng đó.[39]. Sau đó, có nhà báo Walter Winchell làm chứng, cặp đôi trở lại California và tuyên bố ly thân.[40] Vụ li dị kết thúc vào tháng 11 năm 1954.[41] Bộ phim hoàn thành vào đầu năm 1955, và sau khi từ chối những vai phụ trong The Girl in the Red Velvet SwingHow to Be Very, Very Popular, bà quyết định từ bỏ Hollywood, theo lời khuyên của Milton H. Greene.

Thành lập hãng phim Marilyn Monroe Productions[sửa | sửa mã nguồn]

Greene lần đầu gặp Monroe năm 1953 khi ông tạo hình bà cho một tấm hình trên tạp chí Look. Trong khi nhiều nhiếp ảnh gia luôn chú ý khai thác những khía cạnh thật gợi cảm, Greene lại tạo dáng cô trong những tấm ảnh thời trang, điều đó khiến Monroe rất hài lòng. Theo lời khuyên của ông, bà chấm dứt hợp đồng với 20th Century Fox. Cát-xê trong Gentlemen Prefer Blondes khoảng $18,000, trong khi diễn viên ngoài hợp đồng Jane Russell thì lại được chi hơn $100,000.[42] Greene nghĩ rằng bà có thể kiếm được nhiều hơn nếu tách khỏi 20th Century Fox. Ông nghỉ việc năm 1954, thế chấp nhà để đầu tư cho Monroe và để bà sống cùng gia đình mình vì họ là những người quyết định tương lai của bà.[43]

Truman Capote giới thiệu Monroe với giáo viên dạy diễn xuất Constance Collier. Bà cảm thấy Monroe không hợp với sân khấu và nhận ra "thiên tài đáng yêu" quá "mong manh và dễ vỡ, chỉ có thể nắm bắt được bằng ống kính máy quay". Một vài tuần sau đó Collier qua đời.[44] Monroe đã gặp Paula Strasberg và con gái bà, Susan trong phim There's No Business Like Show Business,[45] và chia sẻ niềm mơ ước được chính Lee Strasberg dạy dỗ trong Actor Studio. Tháng 3 năm 1955, Monroe gặp Cheryl Crawford, một trong những sáng lập viên của Actor Studio, và năn nỉ bà giới thiệu mình với Lee Strasberg, ông đã đồng ý nhận Monroe làm học trò vào ngày hôm sau.[46]

Monroe trong vai Chérie, Bus Stop

Tháng 5 năm 1955, Monroe bắt đầu quan hệ với nhà biên kịch Arthur Miller; họ gặp nhau ở Hollywood năm 1950 và khi Miller biết bà đang ở New York, ông nhờ một người quen cả hai đến giới thiệu.[47] 1 tháng 6, 1955, sinh nhật Monroe, Joe DiMaggio tháp tùng Monroe tới lễ ra mắt The Seven Year Itch tại New York. Sau đó ông chủ trì tiệc sinh nhật để chúc mừng bà, nhưng đến tối, sau một hồi cãi vã, Monroe bỏ đi. Quan hệ của họ từ đó chấm dứt hẳn.[48][49]

The Seven Year Itch được phát hành và thành công rực rỡ với doanh thu 8 triệu đô.[50] Monroe được đánh giá cao, và có ưu thế khi thương lượng hợp đồng với 20th Century Fox.[50] Trong Giáng sinh 1955, họ kí hợp đồng với điều kiện Monroe sẽ phải đóng 4 bộ phim cho hãng trong 7 năm. Marilyn Monroe Productions sẽ được hưởng $100,000 lợi nhuận mỗi bộ phim. Ngoài việc có thể làm việc với bất kì ai, Monroe có quyền loại bất cứ đạo diễn hay nhà điện ảnh nào mình không thích.[51][52]

Bộ phim đầu tiên trong hợp đồng là Bus Stop đạo diễn Joshua Logan. Logan là học trò của Konstantin Stanislavsky, và ông rất ấn tượng với Monroe.[53] Bắt đầu từ phim này, Monroe sa thải Natasha Lytess rồi thay bằng Paula Strasberg.[54]

Trong The Prince and the Showgirl (1957) Monroe và Sir Laurence Olivier, diễn viên chính kiêm đạo diễn

Trong phim Monroe đóng vai Chérie, một ca sĩ quán bar có chút năng khiếu, yêu một chàng cao bồi. Bosley Crowther trong Thời báo New York tuyên bố: "Ôm lấy ghế, quý vị, và chờ đợi sự kinh ngạc. Marilyn Monroe cuối cùng đã chứng minh mình là một diễn viên". Trong tự truyện, Minh tinh màn bạc, Con người thực tế và Tôi, đạo diễn Logan viết: "Tôi thấy ở Marilyn một trong những tài năng vĩ đại nhất mọi thời đại...cô ở trong tôi toả sáng hơn bất kì ai tôi từng hình dung, và tôi nghĩ đây là lần đầu tôi biết trí tuệ và, vâng, sự chói sáng không đi kèm với học vấn." Logan là người đề cử Giải Oscar cho Monroe và luôn ca tụng sự chuyên nghiệp của bà cho đến tận khi ông qua đời.[55] Mặc dù vuột mất giải Oscar,[56] nhưng Monroe giành được một giải Quả cầu vàng.

Suốt thời gian này, quan hệ giữa Monroe và Miller tiến xa hơn.[57][58]. Tháng 6 năm 1956, một phóng viên bám sát theo sau xe họ, và khi hai người đang tìm cách lảng tránh, xe của anh ta gặp tai nạn, làm thiệt mạng một cô gái. Monroe bị kích động khi nghe tin này và tỏ ra rất ân hận. Sau đó bà và Miller công khai mối quan hệ trước giới truyền thông.[58]. Đám cưới diễn ra ngày 29 tháng 6, 1956.

Sau Bus StopThe Prince and the Showgirl, đạo diễn Laurence Olivier đồng thời là diễn viên nam chính. Trong khi làm phim, Olivier ca ngợi Monroe như "một diễn viên hài hước tài hoa, điều đó khiến tôi hiểu rằng cô là một diễn viên thực sự có khiếu".

Mặc dù Monroe và Olivier có một số mâu thuẫn nhưng ông vẫn nhận xét "Marilyn quá sức tuyệt vời, tuyệt vời nhất trong tất cả".[59] Vai diễn của Monroe được đánh giá cao, đặc biệt tại châu Âu, và được nhận một đề cử BAFTA.

Những năm sau này[sửa | sửa mã nguồn]

Mất hơn một năm Monroe mới bắt đầu bộ phim tiếp theo; trong thời gian sống với Miller ở Amagansett, Long Island, bà bị sẩy thai ngày 1 tháng 8 năm 1957.[60][61] Được sự động viên của Miller, bà quay trở lại Holywood năm 1958 cho Some Like it Hot, đạo diễn Billy Wilder, nam chính Jack LemmonTony Curtis. Wilder đã biết về nỗi sợ sân khấu của Monroe và ông cũng rất ghét cái tính dề dà kèm theo không bao giờ nhớ nổi lời thoại trong suốt The Seven Year Itch của bà. Thái độ của Monroe cũng thù địch chẳng kém, thể hiện bằng sự từ chối tham gia phim và thường có những hành động xúc phạm ông.[62] Bà kiên quyết tránh làm việc cùng Wilder, và khăng làm đi làm lại những cảnh quay đơn giản cho đến khi vừa lòng.[63] Marilyn quan hệ khá thân mật với Lemmon, nhưng lại ghét Curtis ra mặt sau khi anh chàng này so sánh về những cảnh thân mật của họ như là "nụ hôn của Hitler" [64] Curtis sau đó cũng đính chính lại rằng đó chỉ là nói đùa.[65] Trong quá trình quay, Monroe phát hiện mình có thai, nhưng rồi lại bị sẩy thai vào tháng 12 năm 1958, khi bộ phim hoàn thành.[66]

trong Some Like It Hot (1959)

Bộ phim thu được thành công vang dội, và nhận 5 đề cử Oscar. Monroe rất được hoan nghênh và vai diễn Sugar Kane cũng mang đến cho bà một quả cầu vàng. Wilder nhận xét rằng bộ phim là thành công lớn nhất từ trước đến nay của ông.[67] Ông nói về mâu thuẫn giữa ông và Monroe: "Marilyn quá khó tính bởi vì cô ta hoàn toàn bí ẩn. Tôi không bao giờ biết những ngày cùng làm phim giữa chúng tôi là cái gì...Liệu cô ta hợp tác hay đang gây khó dễ?" [68] Ông không chịu được tác phong làm việc của bà và nói thay vì đến Actors Studio "cô ta sẽ đến một trường kĩ thuật xe lửa...để học vài thứ về giờ tàu" [69] Wilder phát ốm trong lúc quay, và theo ông là tại vì: "Chúng tôi đang ở giữa chuyến bay; và có một cái hạch trên máy bay." [70] Tuy vậy, ông cũng khẳng định Monroe có" sức hút lạ kì" và "thuần tuý là thiên tài hài kịch".[68] Tất nhiên, sau Some Like it Hot, ông cố tránh né bất kì kế hoạch nào có sự góp mặt của bà.[71]

Thời gian này, Monroe chỉ hoàn thành được một bộ phim trong hợp đồng với 20th Century Fox, Bus Stop. Bà đồng ý xuất hiện trong Let's Make Love, đạo diễn George Cukor, nhưng không ưa kịch bản phim, và Arthur Miller phải biên tập lại.[72] Gregory Peck nguyên là vai nam chính, nhưng ông khước từ vai sau khi Miller chỉnh sửa; Cary Grant, Charlton Heston, Yul BrynnerRock Hudson cũng đền từ chối trước khi vai này được dành cho Yves Montand.[73] Monroe và Miller rất thân với Montand và vợ ông, diễn viên Simone Signoret. Kế hoạch suôn sẻ cho đến khi Miller cần đi châu Âu cho việc kinh doanh. Monroe quay xong sớm nhưng lại không đi cùng Miller. Signoret cũng trở lại châu Âu làm phim, và Monroe ngoại tình với Montand và chấm dứt khi ông từ chối bỏ vợ.[74] Bộ phim không được đánh giá cao cũng như thành công về mặt thương mại.[75]

Sức khoẻ Monroe yếu dần, và bắt đầu phải gặp bác sĩ tâm lí người Los Angeles, Ralph Greenson. Bà kêu ca về chứng mất ngủ, và nói với Greenson rằng trước đó bà đã đến qua một vài bác sĩ cùng cơ man nào là thuốc thang. Ông kết luận rằng bà đang có dấu hiệu nghiện thuốc, và khuyên bà nên dùng thuốc với nhịp độ giảm dần để không phải chịu bất kì triệu chứng cai nghiện nào.[76] Theo Greenson, hôn nhân giữa Miller và Monroe đang lâm vào bế tắc; ông nói rằng Miller thật lòng muốn chăm sóc cho Monroe và có thể cải thiện tình hình, nhưng Monroe từ chối quyết liệt đồng thời lại oán hận chồng vì ông không làm được gì để giúp đỡ bà.[77] Greenson cũng yêu cầu Monroe thực hiện các biện pháp cai nghiện ngay lập tức.[78]

Năm 1956, Arthur Miller sống ở Nevada và bắt đầu viết truyện ngắn về những người địa phương mới quen, một phụ nữ bỏ chồng và mấy chàng cao bồi. Năm 1960, ông chuyển thể thành kịch, và nghĩ rằng vai này rất hợp với Monroe. Đó trở thành bộ phim cuối cùng của bà, The Misfits, đạo diễn John Huston, diễn viên chính Clark Gable, Montgomery CliftThelma Ritter. Bộ phim bắt đầu tháng 7 năm 1960, phần lớn quay tại Sa mạc Đá Đen, Bắc Nevada. Monroe phát ốm lên vì khí hậu khắc nghiệt và khó có thể quay liên tục. Bỏ ngoài tai lời khuyên của Greenson, bà bắt đầu dùng lại thuốc ngủ và rượu.[78] Một du khách tới trường quay, Susan Strasberg, nhận xét rằng Monroe "đang tự tử bằng nhiều cách".[79] Đến tháng 8, Monroe về Los Angeles điều trị trong 10 ngày. Báo chí tung tin rằng bà đang cận kề cái chết, mặc dù bệnh tình của bà vẫn được giữ bí mật.[80] Louella Parsons nói về Monroe như "một cô nàng ốm yếu, ốm yếu đến không thể tin nổi", và tiết lộ rằng bà đang phải điều trị tâm lí.[80]

Monroe trở lại Nevada để hoàn thành bộ phim, đi kèm là sự căm thù Arthur Miller.[81] Làm phim là quá trình gian nan đối với cả đoàn; thêm vào sự khổ sở của Monroe, Montgomery Clift gần như không diễn được vì đau ốm, và khi kết thúc, Thelma Ritter phải nhập viện vì kiệt sức. Gable vì lí do sức khoẻ, bỏ về ngay mà không dự tiệc liên hoan.[82] Monroe và Miller về New York trên hai chuyến bay riêng.[83]

Monroe trong bộ phim hoàn thành cuối cùng, The Misfits (1961)

Trong vòng mười ngày sau bộ phim, Monroe tuyên bố li dị với Miller, và Gable qua đời vì đột quỵ ngay sau đó.[84] Quả phụ của Gable, Kay, nói với Louella Parsons rằng, "chờ đợi liên tục" ở phim trường The Misfits góp phần vào cái chết của chồng bà, mặc dù bà không chỉ đích danh Monroe. Khi phóng viên hỏi Monroe liệu cô có cảm thấy áy náy về cái chết của Gable, bà từ chối trả lời,[85] nhưng nhà báo Sidney Skolsky, tiết lộ rằng bà bày tỏ sự hối hận về cách cư xử với Gable ở Nevada và chính bà cũng đang rơi vào "hố sâu tuyệt vọng".[86] Monroe sau đó vẫn dự lễ rửa tội của con trai Gables bốn tháng sau đó theo lời mời của Kay Gable.[86]

The Misfits nhận được đánh giá trung bình, và không thành công về doanh thu, mặc dù có vài ý kiến khen ngợi diễn xuất của Monroe và Gable.[86] Huston nhận xét rằng Monroe không diễn đúng cảm xúc, và những gì bà thể hiện là bản thân mình hơn là nhân vật. "Cô ấy không có kĩ thuật diễn. Đấy hoàn toàn là sự thật. Đó chỉ là Marilyn." [86]

"Trong tháng kế tiếp, Monroe trở nên nát rượu và các loại thuốc bắt đầu gây ra tác dụng phụ" - những người bạn như Susan Strasberg nói về sức khoẻ của bà.[87] Vụ li dị với Arthur Miller kết thúc vào tháng 1 năm 1961, với lí do từ phía Monroe là do "tính tình xung khắc",[87]. Tháng 2, bà chủ động vào bệnh viện tâm thần Payne Whitney và những ngày tháng trong đó nhanh chóng trở thành "cơn ác mộng".[88] Bà gọi cho Joe Di Maggio, ông tức tốc từ Florida đến New York để đem bà đến "Trung tâm y tế giáo hội Columbia". Bà phải ở lại đó trong 3 tuần. Bệnh tật khiến bà không thể làm việc mất 1 năm; phải trải qua một cuộc phẫu thuật khối u buồng trứng vào tháng 5, và phẫu thuật túi mật vào tháng 6.[89] Bà trở lại California và thuê một căn hộ để điều dưỡng.

Năm 1962, Monroe bắt đầu quay lại đóng phim với Something's Got to Give, bộ phim thứ 3 trong hợp đồng 4 phim với 20th Century Fox, đạo diễn George Cukor, vai chính Dean MartinCyd Charisse. Bà bị nhiễm virut khi phim khởi quay, và sốt viêm họng mãn tính. Một lí do nữa khiến từ chối diễn chung với Martin là vì ông bị cúm, và nhà sản xuất Henry Weinstein khám phá ra nỗi sợ trường quay của Marilyn. Ông nói "Rất hiếm người phải chịu đựng nỗi kinh hoàng. Chúng ta đều từng trải qua lo lắng, đau khổ, thất tình nhưng đó hầu như chỉ là nỗi sợ hãi thông thường" [90]

Ngày 9 tháng 5 năm 1962, bà tham dự lễ mừng sinh nhật tổng thống John F. Kennedy tại Madison Square Garden, theo lời mời của anh vợ Kennedy, diễn viên Peter Lawford. Monroe đã biểu diễn ca khúc "Happy Birthday to You" với phần lời đặc biệt của Bob Hope". Kennedy đã cảm tạ bài hát của Monroe "Xin cảm ơn. Bây giờ tôi có thể rút lui khỏi chính trường sau khi được nghe chúc mừng sinh nhật theo một cách ngọt ngào đến như thế." [91]

Monroe trở lại trường quay Something's Got to Give, và đóng một loạt cảnh khoả thân trong bể bơi. Tuyên bố muốn "hất Liz Taylor ra khỏi bìa tạp chí", bà đồng ý chụp một vài bức ảnh bán khoả thân trên Life. Hậu quả là Monroe bị cắt hợp đồng.[90]. 20th Century Fox đòi bà bồi thường nửa triệu đô la và khởi kiện,[92]. Phó chủ tịch hội đồng quản trị Peter Levathes phát biểu, "Chúng ta đã thành lập một cái nhà thương điên, và bọn họ đang tới tấp phá hoại nó." [92] Monroe bị thế chỗ bởi Lee Remick, và khi Dean Martin không đồng ý diễn với bất kì ai khác, ông cũng bị đe doạ lôi ra toà.[92]

Sau khi nghỉ hợp đồng, Monroe xuất hiện trước công chúng nhiều hơn. Trong bài phỏng vấn trên tạp chí Cosmopolitan, bà có một bức hình đang hớp ngụm sâm banh và đi dạo trên bãi biển của gia đình Peter Lawford.[93] Bức hình đó được phát hành trong một an bum ảnh, có cả ảnh khoả thân, trên hoạ báo Vogue.[93] Sau khi bà qua đời, chúng được biết đến với cái tên Ngụm sâm banh cuối cùng. Trong cuộc phỏng vấn với Richard Meryman trên Life, Monroe đi sâu về quan hệ với người hâm mộ và sự mơ hồ trong việc nhận thức về bản thân là một "ngôi sao" hay một "biểu tượng sex".

Trong vài tuần cuối cuộc đời, Monroe hứa hẹn về những bộ phim tương lai, và sắp xếp một vài hợp đồng.[94] Trong đó có dự án phim về cuộc đời Jean Harlow, Irma La Douce của Billy WilderWhat a Way to Go!; Shirley MacLaine sau đó thế vai bà trong tất cả các phim này. Kim Novak thay bà trong vở hài kịch Kiss Me, Stupid. Vụ thương lượng với 20th Century Fox ngã ngũ, và hợp đồng vẫn tiếp tục, Something's Got to Give lại lên kế hoạch quay trong năm đó.[95] Allan "Whitey" Snyder gặp Monroe trong tuần cuối cùng và nhận xét rằng bà rất hài lòng vì những cơ hội mở ra và "cô ấy chưa bao giờ khá hơn lúc đó và đang trong một tâm trạng vô cùng thư thái".[94]

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 5 tháng 8 năm 1962, hạ sĩ Jack Clemmons nhận điện thoại lúc 4:25AM từ bác sĩ Hyman Engelberg. Ông thông báo Monroe đã qua đời tại nhà riêng ở Brentwood, Los Angeles, California. Sergeant Clemmons là cảnh sát đầu tiên tới khám nghiệm hiện trường.[96] Nhiều nghi vấn đã được đặt ra quanh cái chết của bà.

Nguyên nhân cái chết được bác sĩ Thomas Noguchi của sở điều tra hạt Los Angeles kết luận là "nhiễm độc thuốc an thần" - một tai nạn.[97] 8 mg muối clohidrat và 4.5 mg Nembutal được tìm thấy trong thi thể sau khi giám định pháp y.[98]

Joe DiMaggio và Marilyn Monroe tại khách sạn Hoàng gia ở Tokyo trong tuần trăng mật

Vì thiếu bằng chứng xác thực, cơ quan điều tra không thể kết luận đây là tự sát hay bị mưu sát, nhưng nhiều khả năng nghiêng về một vụ tự sát. Một vài ý kiến cho rằng anh em JohnRobert Kennedy có liên quan đến sự việc, trong khi có người nghi ngờ CIA hay mafia đã nhúng tay vào.[99]

Ngày 8 tháng 8, 1962, Monroe được an táng trong hầm mộ tại Hành lang tưởng niệm, vị trí 24, ở nghĩa trang Westwood Village Memorial Park, Westwood, Los Angeles, California. Lee Strasberg là người đọc điếu văn đưa tiễn.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

James Dougherty[sửa | sửa mã nguồn]

Monroe cưới James Dougherty ngày 19 tháng 6 năm 1942 và li dị 4 năm sau đó, khi Monroe quyết định theo nghề diễn viên.

Joe DiMaggio[sửa | sửa mã nguồn]

Joe DiMaggio- một cầu thủ bóng chày - và Marilyn Monroe cưới nhau ngày 14 tháng 1 năm 1954 và li dị tháng 11 năm 1954.

Monroe và hai anh em Kennedy.

Arthur Miller[sửa | sửa mã nguồn]

Monroe cưới nhà biên kịch Arthur Miller ngày 29 tháng 6 năm 1956. Họ li dị chính thức vào ngày 24 tháng 1 năm 1961 sau vụ ngoại tình của cả hai phía.

Anh em Kennedy[sửa | sửa mã nguồn]

19 tháng 5 năm 1962, Monroe xuất hiện chính thức lần cuối cùng trước công chúng, hát bài "Happy Birthday, Mr. President" tại buổi tiệc sinh nhật truyền hình trực tiếp toàn quốc của tổng thống Mĩ John F. Kennedy tại Madison Square Garden. Chiếc váy cô mặc được thiết kế đặc biệt bởi Jean Louis, đấu giá năm 1999 thu được 1.2 triệu đôla.[100]

Dư luận đồn đại Monroe có quan hệ tình cảm với cả hai anh em John và Robert Kennedy từ những năm 1960 [101] và gây nên một vụ tai tiếng lớn.

Phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai Đạo diễn
1947 The Shocking Miss Pilgrim Lễ tân trực điện thoại (Thông tin chưa chắc chắn) George Seaton
1947 Dangerous Years Evie Arthur Pierson
1948 You Were Meant for Me Flapper (Thông tin chưa chắc chắn) Lloyd Bacon
1948 Scudda Hoo! Scudda Hay! Betty (Thông tin chưa chắc chắn) Hugh Herbert
1948 Green Grass of Wyoming Square Dancer (Thông tin chưa chắc chắn) Louis King
1948 Ladies of the Chorus Peggy Martin Phil Karfson
1949 Love Happy Khách hàng của Grunion (Thông tin chưa chắc chắn) David Miller
1950 A Ticket to Tomahawk Clara (Thông tin chưa chắc chắn) Richard Sale
1950 Right Cross Dusky Ledoux (Thông tin chưa chắc chắn) John Sturges
1950 The Fireball Polly Tay Garnett
1950 The Asphalt Jungle Angela Phinlay John Huston
1950 All About Eve Miss Claudia Caswell Joseph L. Mankiewicz
1951 Love Nest Roberta Stevens Joseph M. Newman
1951 Let's Make It Legal Joyce Mannering Richard Sale
1951 Home Town Story Iris Martin Arthur Pierson
1951 As Young as You Feel Harriet Harman Jones
1952 O. Henry's Full House Người qua đường Henry Koster
1952 Monkey Business Lois Laurel Howard Hawks
1952 Clash by Night Peggy Fritz Lang
1952 We're Not Married! Anabel Norris Edmund Goulding
1952 Don't Bother to Knock Nell Forbes Roy Baker
1953 Niagara Rose Loomis Henry Hathaway
1953 Gentlemen Prefer Blondes Lorelei Lee Howard Hawks
1953 How to Marry a Millionaire Pola Debevoise Jean Negulesco
1954 River of No Return Kay Weston Otto Preminger
1954 There's No Business Like Show Business Vicky Walter Lang
1955 The Seven Year Itch Cô gái Billy Wilder
1956 Bus Stop Cherie Joshua Logan
1957 The Prince and the Showgirl Elsie Marina Laurence Olivier
1959 Some Like It Hot Sugar Kane Kowalczyk Billy Wilder
1960 Let's Make Love Amanda Dell George Cukor
1961 The Misfits Roslyn Taber John Huston
1962 Something's Got To Give (Chưa hoàn thành) Ellen Wagstaff Arden George Cukor

Giải thưởng và vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Churchwell, pp. 150–51.
  2. ^ Riese and Hitchens, p. 33.
  3. ^ Churchwell, p. 151.
  4. ^ Summers, p. 5
  5. ^ Churchwell, p. 154
  6. ^ Kovan, Florice Whyte, A Ghost Materialized - Ben Hecht Finally Credited on Marilyn Monroe's Memoir, (2001) Snickersnee Press [1]
  7. ^ Riese and Hitchen, p. 288
  8. ^ Summers, p. 27
  9. ^ Summers, p. 38
  10. ^ Summers, p. 43
  11. ^ a ă Summers, p. 45
  12. ^ Staggs, p. 92
  13. ^ Riese and Hitchens, p. 228
  14. ^ Summers, p. 50
  15. ^ Evans, pp 98-109
  16. ^ Wiley and Bona, p. 208
  17. ^ a ă Summers, p. 58
  18. ^ Evans, p. 112
  19. ^ Evans, p. 128-129
  20. ^ Summers, p. 67
  21. ^ Jewell and Harbin, p. 266
  22. ^ Riese and Hitchens, p. 93
  23. ^ Riese and Hitchens, p. 545
  24. ^ a ă Riese and Hitchens, p. 132
  25. ^ Churchwell, p. 233
  26. ^ Summers, p. 74
  27. ^ Churchwell, p. 234
  28. ^ Summers, p. 71
  29. ^ Summers, p. 86
  30. ^ Summers, p. 85-86
  31. ^ Riese and Hitchens, p. 139
  32. ^ Server, p. 249
  33. ^ a ă Churchwell, p. 65
  34. ^ Summers, p. 92
  35. ^ Summers, pp 93-95
  36. ^ Summers, p. 96
  37. ^ Riese and Hitchen, p. 338
  38. ^ Riese and Hitchens, p. 440
  39. ^ Summers, p. 103
  40. ^ Summers, pp 103-105
  41. ^ Riese and Hitchens, p. 129
  42. ^ Summers, p. 119-120
  43. ^ “Milton H Greene - Archives of The World Famous Photographer”. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2008. 
  44. ^ Summers, p. 128
  45. ^ Strasberg, p. 54
  46. ^ Summers, p. 129
  47. ^ Riese and Hitchens, p. 325
  48. ^ Summers, p. 142
  49. ^ Riese and Hitchens, p. 124
  50. ^ a ă Riese and Hitchens, p. 475
  51. ^ Summers, p. 146
  52. ^ Riese and Hitchens, p. 309
  53. ^ Riese and Hitchens, p. 275
  54. ^ Summers, p. 151
  55. ^ Riese and Hitchens, p. 276
  56. ^ Summers, p. 154
  57. ^ Summers, p. 139
  58. ^ a ă Riese and Hitchens, p. 326
  59. ^ Olivier, p. 213
  60. ^ Churchwell, p. 261
  61. ^ Moberly Monitor-Index, Moberly MO, Friday, 2 tháng 8 năm 1957, p. 6, cols 6-7, article: "Marilyn Monroe Loses Her Baby By Miscarriage."
  62. ^ Churchwell, p. 262
  63. ^ Churchwell, p. 264
  64. ^ Riese and Hitchens, p. 111
  65. ^ Wyatt, Petronella (18 tháng 4 năm 2008). “Tony Curtis on Marilyn Monroe: It was like kissing Hitler!”. Mail Online. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2008. 
  66. ^ Churchwell, p. 265
  67. ^ Riese and Hitchens, p. 489
  68. ^ a ă Summers, p. 178
  69. ^ Riese and Hitchens, p. 2
  70. ^ Summers, p. 177
  71. ^ Riese and Hitchens, p. 552
  72. ^ Riese and Hitchens, p. 269
  73. ^ Summers, p. 183
  74. ^ Summers, p. 186
  75. ^ Riese and Hitchens, p. 270
  76. ^ Summers, p. 188
  77. ^ Summers, p.189
  78. ^ a ă Summers, p. 190
  79. ^ Strasberg, p. 134
  80. ^ a ă Summers, p. 194
  81. ^ Summers, pp 192 & 194
  82. ^ Goode, p. 284
  83. ^ Summers, p. 195
  84. ^ Goode, pp 284-285
  85. ^ Harris, p. 379
  86. ^ a ă â b Summers, p. 196
  87. ^ a ă Summers, p. 198
  88. ^ Summers, p. 199
  89. ^ Summers, p. 202
  90. ^ a ă Summers, p. 268
  91. ^ Summers, p. 271
  92. ^ a ă â Summers, p. 274
  93. ^ a ă Summers, p. 275
  94. ^ a ă Summers, p. 301
  95. ^ Riese and Hitchens, p. 491
  96. ^ Wolfe, Donald H. The Last Days of Marilyn Monroe. (1998) ISBN 0787118079
  97. ^ Summers, pp. 319, 320
  98. ^ Clayton, p. 361
  99. ^ Reed, Jonathan M. & Squire, Larry R. The Journal of Neuroscience, 15 tháng 5, 1998, 18(10):3943-3954.
  100. ^ Marilyn's hot 'Happy Birthday' dress brings in a cool million, CNN, 28 tháng 10 năm 1999, truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2008 
  101. ^ Frum, David (2000). How We Got Here: The '70s. New York, New York: Basic Books. tr. 28. ISBN 0465041957. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh:

Tiếng Việt: