Lauren Bacall

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lauren Bacall
Lauren Bacall - YankArmyWeekly detail.jpg
Lauren Bacall trên bìa tạp chí Yank, tháng 11 năm 1944
Tên khai sinh Betty Joan Perske
Sinh 16 tháng 9, 1924 (89 tuổi)
thành phố New York, Hoa Kỳ
Nghề nghiệp Diễn viên
Hoạt động 1942 – nay
Hôn nhân Humphrey Bogart (1945 – 1957)
Jason Robards (1961 – 1969)

Lauren Bacall (tên khai sinh Betty Joan Perske, 16 tháng 9, 1924) là một diễn viên điện ảnhsân khấu người Mỹ gốc Do Thái. Bà được biết tới qua chất giọng khàn đặc trưng và những vai diễn trong các bộ phim đen như The Big Sleep (1946) hay Dark Passage (1947), những tác phẩm bà đóng cùng chồng là Humphrey Bogart. Lauren Bacall cũng đạt được nhiều thành công trên sân khấu Broadway qua các vở diễn như Applause (1970) và Woman of the Year (1981). Năm 1999, bà được Viện phim Mỹ bầu chọn là một trong 25 nữ diễn viên xuất sắc nhất trong lịch sử điện ảnh Mỹ.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Betty Joan Perske sinh năm 1924 tại Thành phố New York, Hoa Kỳ trong một gia đình gốc Do Thái.[1][2] Cô là em họ của Shimon Peres, tổng thống Israel.[3][4] Sau khi bố mẹ Betty ly dị khi cô bé lên 5, Betty lấy họ mẹ là Bacall.[5]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Bacall và Howard Hawks, 1943

Bacall theo học tại trường nghệ thuật American Academy of Dramatic Arts và có vai diễn sân khấu đầu tiên ở tuổi 17 trong vở Johnny 2 X 4. Năm 1944 cô có vai diễn điện ảnh đầu tiên trong bộ phim đen To Have and Have Not (1944), đây được coi là một trong những vai diễn đầu tay ấn tượng nhất trong lịch sử Hollywood.[6] Cũng trên trường quay bộ phim này, Bacall đã làm quen với ngôi sao nổi tiếng Humphrey Bogart. Cô tái ngộ cùng Bogart trong một bộ phim đen xuất sắc khác là The Big Sleep (1946), hai người còn đóng chung trong một số phim khác như Dark Passage (1947) và Key Largo (1948). Bên cạnh các bộ phim đen, Bacall còn tham gia tác phẩm hài How to Marry a Millionaire (1953) trong đó cô đóng chung cùng Marilyn MonroeBetty Grable.[7]

Từ thập niên 1960 sự nghiệp điện ảnh của Bacall bắt đầu sa sút, bà chuyển sang tham gia các vở kịch trên sân khấu Broadway như Goodbye, Charlie (1959), Cactus Flower (1965), Applause (1970) và Woman of the Year (1981). Hai vở kịch sau đã đem lại cho bà giải Tony.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “The Religious Affiliation of Lauren Bacall: great American actress”. Adherents.com. 2005-07-30. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2006. 
  2. ^ BBC NEWS | Entertainment | Lauren Bacall turns 80.
  3. ^ Lazaroff, Tovah (10 tháng 11 năm 2005). “Peres: Not such a bad record after all”. Jerusalem Post. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2009. 
  4. ^ Weiner, Eric (13 tháng 6 năm 2007). “Shimon Peres Wears Hats of Peacemaker, Schemer”. National Public Radio. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2009. 
  5. ^ Meyers 1997, p. 164.
  6. ^ Movie Reviews: To Have and Have Not. - Rotten Tomatoes.
  7. ^ Box office - Business: How to Marry a Millionaire (1953). - IMDb.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]