Derek Walcott

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Derek Walcott
Sinh 23 tháng 1, 1930
Castries, Saint Lucia
Công việc Nhà thơ
Quốc gia người Saint Lucia

Derek Alton Walcott (23 tháng 1 năm 1930 - ) là nhà thơ, nhà soạn kịch người Saint Lucia được trao Giải Nobel Văn học năm 1992. Được thừa hưởng sự kết hợp nền văn hóa Caribe cùng với di sản thuộc địa Anh, ông đã trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của thi ca đương đại.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Derek Walcott sinh ở Castries, đảo Saint Lucia. Học trường cao đẳng St. Mary's College ở quê hương Saint Lucia. Tốt nghiệp Đại học West IndiesJamaica năm 1953, Walcott làm giáo viên trường phổ thông rồi phóng viên của các tờ báo Public OpinionTrinidad Guardian. Năm 18 tuổi in 25 Poems (25 bài thơ) bán trên đường phố Castries nhưng thực sự nổi tiếng với tập thơ In a Green Night (Đêm xanh, 1960). Với tập thơ này Walcott được đánh giá là nhà thơ của xứ thuộc địa đã sáng tạo ra tác phẩm ngang hàng với các nhà thơ nổi tiếng nhất ở chính quốc. Thơ của Walcott chủ yếu được viết bằng tiếng Anh, đôi khi mang sắc thái ngôn ngữ địa phương. Ngoài những tác phẩm thơ, ông còn nổi tiếng trong lĩnh vực sáng tác kịch, trong đó phải kể đến vở Remember and Pantomime (Lễ tưởng niệm và vở kịch câm, 1980). Một số vở kịch của ông được viết bằng thơ. Năm 1959 ông thành lập nhà hát Trinidad và viết nhiều vở kịch cho nhà hát này.

Derek Walcott đi du lịch rất nhiều nước nhưng các tác phẩm của ông mang nặng các yếu tố của xã hội Jamaica với sự du nhập văn hóa từ châu Phi, châu Á, châu Âu. Trong nhiều năm ông sống ở Trinidad, dạy văn học và cách viết văn sáng tạo ở Đại học Boston. Walcott từ chối danh hiệu công dân Anh và nhập quốc tịch Saint Lucia - một quốc đảo có đường kính 25 dặm với gần 25.000 người dân. Cho đến nay ông đã xuất bản hơn 40 tập thơ và kịch. Kinh nghiệm sống tại một đất nước thuộc địa của Anh đã có ảnh hưởng rất lớn tới cuộc đời và sáng tác của ông. Nhà thơ Joseph Brodsky (giải Nobel Văn học 1987), là người bạn gần gũi thân thiết của Walcott, đã viết về Saint Lucia như sau: "Cristoforo Colombo đã tìm ra nó, người Anh đã chiếm nó làm thuộc địa và Derek Walcott làm cho nó trở thành bất tử."

Năm 1981, Walcott được nhận giải "Giành cho các thiên tài" 250.000 USD của Quỹ John và Katrin Makartuz. Năm 1992 ông nhận giải Nobel vì đã sáng tạo nên những mẫu mực thơ ca tuyệt vời của xứ Caribe.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • 25 Poems (25 bài thơ, 1948), thơ
  • Epitaph for the Young (Văn mộ chí cho tuổi trẻ, 1949), thơ
  • In a Green Night (Trong đêm xanh, 1948-1960), thơ
  • The Castaway and Other Poems (Người đắm tàu và những bài thơ khác, 1965) thơ
  • Gulf and Other Poems (Vịnh và những bài thơ khác, 1969), thơ
  • Another Life (Một cuộc đời khác, 1973), thơ
  • Sea Grapes (Nho biển, 1978), thơ
  • The Star-Apple Kingdom (Vương quốc Star-Apple, 1979), thơ
  • Remember and Pantomime (Lễ tưởng niệm và kịch câm, 1980), kịch
  • The Fortunate Traveller (Người lữ hành may mắn, 1981), thơ
  • Midsummer (Giữa mùa hè, 1984), thơ
  • Dream on Monkey Mountain and Other Plays (Giấc mơ trên đồi khỉ và những vở kịch khác, 1970), kịch
  • Beef, No Chicken (Thịt bò, không thịt gà, 1985), kịch
  • The Arkansas Testament (Chúc thư Arkansas, 1987), thơ
  • Omeros (1990), thơ
  • The Odyssey (1993), kịch
  • The Prodigal (Đứa con phóng đãng, 2004), thơ

Một bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Love after Love
 
The time will come
when, with elation,
you will greet yourself arriving
at your own door, in your own mirror,
and each will smile at the other’s welcome,
 
and say, sit here. Eat.
You will love again the stranger who was your self.
Give wine. Give bread. Give back your heart
to itself, to the stranger who has loved you
 
all your life, whom you ignored
for another, who knows you by heart.
Take down the love letters from the bookshelf,
 
the photographs, the desperate notes,
peel your own image from the mirror.
Sit. Feast on your life.
Tình yêu sau một tình yêu
 
Rồi sẽ đến một ngày
Khi nhìn vào gương
Với chính mình, em cười mỉm.
Rồi sẽ đến một ngày
Con tim em hồi hộp
Khi nghe tiếng bàn chân em bước
Bên ngưỡng cửa nhà em.
 
Thì em hãy mời vào nhà chính bản thân mình
Thết rượu vang, bánh mì và trả lại con tim
Và hãy nhận về cho mình – một người quen xa lạ
Người ấy với em chung thủy
Yêu em suốt cả cuộc đời
Người ấy vì em mà mệt mỏi rã rời.
 
Em hãy cất khỏi chiếc bàn chân dung của những kẻ xa vời
Những bức thư tình, những bài thơ tuyệt vọng
Rồi ngồi xuống bên bàn. Mở tiệc mừng long trọng
Mừng cho bản thân mình. Mừng cho cuộc đời em.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]