Czesław Miłosz

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Czesław Miłosz

Czesław Miłosz, Kraków, tháng 12 1998
Sinh 30 tháng 6 năm 1911
Šeteniai, gần Kedainiai
Mất 14 tháng 8, 2004 (93 tuổi)
Kraków
Công việc Nhà thơ, Nhà văn
Giải thưởng nổi bật Giải văn học quốc tế Neustadt (1978)
Giải Nobel Văn học (1980)

Czeslaw Milosz (30 tháng 6 năm 1911 - 14 tháng 8 năm 2004) là một nhà văn, nhà thơ người Ba Lan đã đoạt giải Nobel Văn học năm 1980.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Czeslaw Milosz và Andrzej Milosz tại Hội nghị của Hội Văn bút Quốc tế năm 1999

Czesław Miłosz sinh ở Šeteniai, khi đó còn thuộc Đế quốc Nga, sau đó lần lượt thuộc Ba Lan, Liên Xô và hiện nay là Litva. Kí ức về tuổi thơ của nhà văn in đậm trong tiểu thuyết Dolina Issy (Thung lũng Issy). Ông học Đại học Stefan Batory ở Wilno, Ba Lan (nay là Vilnius, thủ đô của Litva), đăng những bài thơ đầu tiên trên tạp chí của trường. Năm 1933, ông xuất bản tập thơ Poemat o czasie zastyglym (Bài ca về thời gian bị đóng băng, giải thưởng Hội Nhà văn Ba Lan 1943). Từ 1935, ông làm việc cho đài phát thanh Ba Lan, in tập thơ Trzy zimy (Ba mùa đông). Trong Thế chiến thứ nhất, ông viết thơ chống phát xít, xuất bản trường ca The world: a naive poem (Thế giới: bản trường ca ngây thơ) đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp sáng tác.

Sau chiến tranh, Milosz hoạt động ngoại giao, làm việc ở New York, Washington D.C.. Năm 1951, vì bất đồng chính trị, ông xin tị nạn tại Pháp. Tiểu luận Zniwolony umysl (Trí tuệ bị cầm tù) là tác phẩm nổi tiếng đầu tiên của ông được phương Tây biết đến. Năm 1952, tiểu thuyết Zdobycie wladzy (Giành chính quyền) đoạt giải thưởng Văn chương châu Âu. Năm 1960, Milosz sang Mỹ, trở thành giáo sư tại Đại học California tại Berkeley, năm 1970 nhập quốc tịch Mỹ. Ngoài sáng tác, Milosz còn dịch Kinh Thánh từ tiếng Do Thái cổ sang tiếng Ba Lan và thơ của nhiều nhà thơ châu Mỹ.

Năm 1980, ông nhận giải Nobel vì "các sáng tác thể hiện nỗi đau khổ của con người không được bảo vệ trong một thế giới mà họ đã phải đến sống sau khi bị đuổi khỏi thiên đường". Trong hơn 20 năm sau giải Nobel, Milosz vẫn tiếp tục sáng tác, viết thơ, tiểu luận, dịch... Ông nhận được rất nhiều giải thưởng của Ba Lan, Mỹ, là tiến sĩ danh dự của Đại học California, Đại học Cơ đốc Dublin, Đại học New York,.... Milosz được coi là một trong những nhà thơ Ba Lan vĩ đại nhất, sánh ngang với Adam Mickiewicz.

Ông mất tại Krakow ngày 14 tháng 8 năm 2004.

Sáng tác của Milosz gồm cả tiếng Ba Lantiếng Anh.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Czeslaw Milosz tại Mỹ năm 1986
  • Poemat o czasie zastyglym (Bài ca về thời gian bị đóng băng, 1933), thơ
  • Trzy zimy (Ba mùa đông, 1936), thơ
  • The world: a naive poem (Thế giới: bản trường ca ngây thơ, 1943), trường ca
  • Invincible song (Bài ca bất khuất, 1943), thơ
  • Rescue (Giải cứu, 1944), thơ
  • Zdobycie wladzy (Giành chính quyền, 1952), tiểu thuyết
  • Zniwolony umysl (Trí tuệ bị cầm tù, 1953), tiểu luận
  • Dolina Issy (Thung lũng Issy, 1955), tiểu thuyết
  • Rodzinna Europa (Châu Âu ruột thịt, 1958), tự truyện
  • Miasto bez imenia (Thành phố không tên, 1969), thơ
  • Widzenia nad zatoka San Francisco (Những điều nhìn thấy ở bờ vịnh San Francisco, 1969), tập truyện kí
  • The history of Polish literature (Lịch sử văn học Ba Lan, 1969), sách giáo khoa
  • The land of Ulro (Mảnh đất Ulro, 1977), tiểu luận
  • Emperor of Earth: modes of eccentric vision (Hoàng đế trên Trái Đất: quan điểm lập dị), tiểu luận
  • Bells in winter (Tiếng chuông trong mùa đông, 1978), thơ
  • Ksiega Hioba (Sách của Job, 1980), bản dịch Kinh Thánh
  • Hymn of the pearl (Bài ca ngọc trai, 1982), thơ
  • Swiadectwo poezji (Nhân chứng thơ ca, 1983), thơ
  • Nieobjeta Ziemia (Trái Đất ngoài tầm với, 1986), thơ
  • Kroniki (Sử biên niên, 1987), thơ
  • Provinces (Những tỉnh thành, 1991), thơ
  • Zaczynajac od moich ulic (Bắt đầu từ phố của tôi, 1992), tập truyện ký
  • Facing the river: New Poems (Đối mặt trước dòng sông: Thơ Mới, 1995), thơ

Một số bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Hãy quên
 
Anh hãy quên bao đau khổ
Mà anh gây ra cho mình
Và hãy quên bao đau khổ
Người khác gây ra cho anh.
Dòng nước trôi nhanh, trôi nhanh
Mùa xuân ánh lên rồi lụi
Trên đất rồi sẽ lãng quên.
 
Anh nghe bài hát xa xăm
Và hỏi ai người hát vậy?
Mặt trời tuổi thơ thức dậy
Cháu chắt, chút chít cứ sinh
Bây giờ nắm tay anh đấy.
 
Tên những dòng sông còn lại
Làm sao dòng sông dài mãi
Đồng ruộng của anh bỏ hoang
Tháp lầu thảy đều hư không
Anh đứng trên ghềnh tê tái.
 
Ý nghĩa
 
- Khi chết đi, ta sẽ nhìn thấy bên kia thế giới.
Phía khác, sau hoàng hôn, chim chóc, đồi núi
Sẽ đọc ra ý nghĩa thực sự mà ta quan tâm.
Những gì chưa từng gặp gỡ rồi sẽ đoàn viên
Điều không thể hiểu sẽ rõ ràng và thấu hiểu.
 
- Còn nếu như không có bên kia thế giới?
Nếu con chim đậu trên cành không là dấu hiệu
Mà chỉ là con chim trên cành, nếu ngày và đêm
Chỉ nối đuôi nhau mà ý nghĩa chẳng quan tâm
Và không có gì trên trần ngoài đất đai như vậy?
 
Mà nếu thế, thì dù sao, vẫn còn lời ở lại
Lời một lần thức dậy từ đôi môi của người trần
Chạy và chạy, làm kẻ đưa tin không mệt mỏi
Giữa các vì sao, giữa vũ trụ xoay vần
Lời kêu gọi, lời thét lên và lời phản đối.
 
Những tia nắng sáng ngời
 
Những tia nắng sáng ngời
Giọt sương trời tinh khiết
Hãy giúp người khao khát
Hiểu ý nghĩa cuộc đời.
 
Sau bức màn ngăn cách
Ai hiểu được đời đâu
Khi còn sống, vò đầu
Hạnh phúc – không hạnh phúc.
 
Nhưng đến ngày biết hết
Ly biệt sẽ phai màu
Nơi ấy sẽ gặp nhau
Linh hồn và thể xác.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng
Zapomnij
 
Zapomnij o cierpieniach,
Które sam zadałeś.
Zapomnij o cierpieniach,
Które tobie zadano.
Wody płyną i płyną,
Wiosny błysną i giną,
Idziesz ziemią ledwie pamiętaną.
 
Czasem słyszysz daleko piosenkę.
Co to znaczy, pytasz, kto tam śpiewa?
Dziecinne słońce wschodzi,
Wnuk i prawnuk się rodzi.
Teraz ciebie prowadzą za rękę.
 
Nazwy rzek tobie jeszcze zostały.
Jakże długo umieją trwać rzeki!
Pola twoje, ugorne,
Wieże miast, niepodobne.
Ty na progu stoisz, zaniemiały.
 
Sens
 
- Kiedy umrę, zobaczе podszewkе swiata.
Drugą stronę, za ptakiem, gorą i zachodem słonca.
Wzywajace odczytania prawdziwe znaczenie.
Co nie zgadzalo sie, będzie sie zgadzało.
Co było niepojęte, będzie pojęte.
 
- A jeżeli nie ma podszewki świata?
Jeżeli drozd na gałęzi nie jest wcale znakiem
Tylko drozdem na gałęzi, jeżeli dzień i noc
Następują po sobie nie dbając o sens
I nie ma nic na ziemi, prócz tej ziemi?
 
Gdyby tak było, to jednak zostanie
Słowo raz obudzone przez nietrwałe usta,
Które biegnie i biegnie, poseł niestrudzony,
Na międzygwiezdne pola, w kołowrót galaktyk
I protestuje, woła, krzyczy.
 
Jasności promieniste
 
Jasności promieniste,
Niebiańskie rosy czyste,
Pomagajcie każdemu
Ziemi doznającemu.
 
Za niedosiężną zasłoną
Sens ziemskich spraw umieszczono.
Gonimy dopóki żywi,
Szczęśliwi i nieszczęśliwi.
 
To wiemy, że bieg się skończy
I rozłączone się złączy
W jedno, tak jak być miało:
Dusza i biedne ciało.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]